Ăn năn tội

3,570 views

I. Định nghĩa ăn năn tội

Từ ngữ "ăn năn" trong Thánh Kinh Việt ngữ được dùng để dịch hai chữ khác nhau trong Thánh Kinh.

— Chữ thứ nhất, ít khi được dùng là metamellomai (μεταμέλλομαι 3338) [1]. Chữ này có nghĩa là "hối tiếc việc đã làm", có thể dịch là hối tiếc, hối hận, thống hối. Thánh Kinh dùng chữ này trong trường hợp của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, (Ma-thi-ơ – Matthew 27:3).

— Chữ thứ nhì, thường được dùng là metanoeō (μετανοέω 3340) [2]. Chữ này có nghĩa là "quay trở lại", có thể dịch là ăn năn, hối cải. Sứ điệp của Giăng Báp-tít dùng chữ này kêu gọi người nghe ăn năn để dọn mình, dọn lòng tiếp nhận Đấng Christ. Sứ điệp của Đấng Christ cũng dùng chữ này kêu gọi mọi người ăn năn để được vào nước trời.

Ăn năn ở đây là ăn năn về nếp sống tội lỗi. Như vậy, Thánh Kinh cho thấy ăn năn tội không chỉ là cảm giác hổ thẹn, hối tiếc về nếp sống tội lỗi, mà còn là ý muốn kiên quyết từ bỏ tội lỗi, ý muốn dứt khoát quay trở lại, là tấm lòng sẵn sàng chịu sửa đổi.

 

II. Ăn năn tội và xưng tội

Nhiều người hối tiếc những tội lỗi mình đã làm nhưng không chịu ăn năn cho nên tiếp tục đi trong con đường tội lỗi. Những người này cứ phạm tội, rồi hối tiếc, rồi lại phạm tội. Họ cứ miệt mài đi tới trên con đường một chiều của sự hư mất. Thỉnh thoảng, họ dừng lại than khóc, u sầu trong những trạm đau thương, thống hối bên đường, (là những cơ hội Thiên Chúa ban cho họ để ăn năn, hối cải), nhưng họ không chịu từ bỏ nếp sống tội, để rồi sau đó lại lê bước đi tiếp, cho tới khi đạt đến trạm cuối cùng là sự chết!

Những người khác thì biết hối tiếc khi ý thức mình đã phạm tội, đồng thời muốn có cơ hội để thay đổi tình trạng phạm tội của mình, muốn được tha thứ, muốn sửa đổi, muốn thoát khỏi quyền lực của tội lỗi, muốn được sống trong thánh khiết và công chính. Những người này bằng lòng trả mọi giá để có được cơ hội quay lại. Thánh Kinh gọi đó là sự ăn năn tội.

Sự ăn năn tội dẫn đến sự xưng tội.

Xưng tội không có nghĩa đơn giản là "nhận tội". Một người có thể nhận tội, nghĩa là công nhận mình có tội vì đó là một thực tế không thể chối cãi, trong khi không hề có lòng ăn năn. Người nhận tội mà không có lòng ăn năn, mặc dù nhận tội nhưng vẫn tìm cách để biện hộ cho tội lỗi của mình và không thật lòng chấp nhận hình phạt của tội lỗi. Người nhận tội mà không có lòng ăn năn sẵn sàng tái phạm những tội đã phạm khi có cơ hội.

Từ ngữ xưng tội nói lên hành động của một người thừa nhận quyền tể trị tuyệt đối của Thiên Chúa và công nhận những xúc phạm của mình, (tức là tội lỗi,) đối với bản tính và ý chỉ của Thiên Chúa, cho dù có được tha thứ hay không. Người xưng tội bởi lòng ăn năn sẵn sàng tiếp nhận trách nhiệm, công bố hình phạt của tội lỗi mình đã phạm là công chính (Lu-ca – Luke 23:41).

Xưng tội là bổn phận của một tội nhân biết ăn năn, là hành động công chính duy nhất mà một tội nhân biết ăn năn có thể làm được. Xưng tội còn là công nhận sự công chính của Thiên Chúa và bằng lòng tiếp nhận sự phán xét của Ngài. Một người chỉ có thể xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa qua sự cầu nguyện trong danh của Đức Chúa Jesus Christ.

 

III. Ân điển của Thiên Chúa dành cho người tin nhận Ngài và ăn năn tội

Cảm tạ Thiên Chúa về sự nhân từ và thương xót đời đời của Ngài. Khi một người tin nhận Thiên Chúa, tin nhận Tin Lành cứu rỗi của Ngài qua Đức Chúa Jesus Christ, thật lòng ăn năn tội, xưng nhận tội thì Ngài ban cho người ấy ân điển cứu rỗi của Ngài. Sự ăn năn tội, xưng nhận tội đi chung với đức tin vào ân điển cứu rỗi của Thiên Chúa khiến cho một người được tha tội, được làm cho sạch tội, và được Thiên Chúa tái sinh, ban cho quyền phép trở nên con Ngài.

Ân điển cứu rỗi là lòng thương xót của Thiên Chúa ban cho người có tội biết ăn năn. Ân điển cứu rỗi bao gồm: ơn tha tội, và ơn làm cho sạch tội (sự chuộc tội bởi Đấng Christ và sự tái sinh bởi Đức Thánh Linh). Ân điển cứu rỗi dẫn đến ân điển nhận được quyền phép trở nên con của Thiên Chúa (Giăng – John 1:12,13). Khi một người được trở nên con của Thiên Chúa, người ấy cùng với Đấng Christ kế tự tất cả những sự giàu có vinh hiển của Thiên Chúa (Rô-ma – Romans 8:16,17). Vì là con của Thiên Chúa cho nên chúng ta được nhận lãnh năng lực và quyền phép của Thiên Chúa, tức là Thánh Linh, ngay khi còn sống trong xác thịt để học biết cách quản trị cơ nghiệp của Thiên Chúa (Giăng – John 7:38,39). Sự học tập quản trị đó bắt đầu ngay từ giờ phút chúng ta được tái sinh và được thực tập ngay trên xác thịt của chúng ta (Rô-ma – Romans 6:12-14,19; 1 Cô-rinh-tô – 1 Corinthians 9:27).

 

IV. Kết quả xứng đáng với sự ăn năn

Sau khi một người tin nhận Thiên Chúa, ăn năn tội, tiếp nhận ân điển cứu rỗi, và ân điển được quyền phép trở nên con Thiên Chúa, thì ân điển lớn nhất Thiên Chúa ban cho người ấy trong đời này, là ân điển khiến cho muôn dân trở thành môn đồ của Đấng Christ; nói cách văn hoa là ân điển môn đồ hóa muôn dân cho Đấng Christ, (Ma-thi-ơ – Matthew 28:18-20):

18 Đức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.

19 Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ,

20 và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.

Ân điển này là một vinh dự lớn lao mà chúng ta không thể hiểu tường tận cho đến khi chúng ta gặp mặt Chúa và nhìn thấy tổng kết thành quả của ân điển ấy qua đời sống của chúng ta, được ghi chép và thâu trử trên thiên đàng. Chính Đức Chúa Jesus phán rằng, linh hồn của một người quý hơn cả thế gian, và, khi một người thật lòng ăn năn tội, thì các thiên sứ ở trên trời cũng vui mừng. Như vậy, khi chúng ta vâng lời Chúa, tiếp nhận ân điển của Ngài để đi ra rao giảng về Chúa cho người khác, dẫn họ đến với sự cứu rỗi và sự sống đời đời trong Chúa; giảng dạy cho họ những lẽ thật của lời Chúa khiến họ được lớn lên, đứng vững trong đức tin và kết quả xứng đáng, thì chúng ta đã làm công việc cao quý nhất một người có thể làm mà thành quả còn đến đời đời.

 

Kết luận

Trong Hội Thánh ngày nay có nhiều người hối tiếc cuộc sống tội lỗi của mình, tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ, mong ước được vào thiên đàng, nhưng lại không ăn năn tội, nghĩa là không chịu từ bỏ nếp sống tội lỗi. Với những người như vậy, Phao-lô đã rớt nước mắt mà nói:

"Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ." (Phi-líp – Philippians 3:18).

Toàn bộ sứ điệp của Tin Lành cứu rỗi được tóm gọn vào ba điều sau đây:

1. "Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần!" (Ma-thi-ơ – Matthew 3:2);

2. "Các ngươi hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn." (Ma-thi-ơ – Matthew 3:8); và

3. "Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!" (2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 6:2).

Đức tin vào trong sự cứu rỗi của Thiên Chúa, nếu không thể hiện bằng hành động ăn năn, nghĩa là quay lưng lại với tội lỗi, dần dần sẽ trở thành đức tin chết. Đức tin chết không cứu được ai! Đức tin sống là đức tin dẫn đến sự ăn năn tội, dẫn đến sự cứu rỗi, dẫn đến sự tái sinh, dẫn đến địa vị làm con của Thiên Chúa và sống một đời sống kết quả xứng đáng với sự ăn năn! Đức tin sống khiến cho chúng ta được sống và còn dẫn đưa nhiều người khác đến với sự sống.

Đức tin đó, cần phải được bắt đầu ngay hôm nay, qua hành động ăn năn tội!

 

Huỳnh Christian Timothy
Giảng tại Hội Thánh Tin Lành Emmanuên
Tucson, Arizona
22/10/2006

 

 

Chú thích:

 

[1] Metamellomai phát âm là "met-am-el'-lom-ahee"

[2] Metanoeō phát âm là "met-an-o-eh'-o"

 

Tham khảo:

1. Textus Receptus Greek New Testament, (www.e-sword.org).

2. Thayer's Greek Definitions, (www.e-sword.org).

3. Strong's Exhaustive Concordance of the Bible, Dictionaries of the Hebrew and Greek Words of the Original, James Strong, (Hendrickson Publishers, ISBN 0-917006-01-1).

4. Dictionary of Theological Terms, Alan Cairns, (Ambassador Emerald International, 2002)

5. Wycliffe Bible Dictionary, Charles F. Pfiffer, Howard F. Vos, John Rea, (Hendrickson Publishers, 2003).

6. Baker Theological Dictionary of the Bible, Edited by Walter A. Elwell, (Baker Books, 1996).

Share This:

Tội Lỗi

2,371 views

I. Định nghĩa tội lỗi:

Một cách tổng quát, tội lỗi là bất kỳ điều gì trái ngược với bản tính Thiên Chúa. Bản tính Thiên Chúa chính là sự vinh hiển của Ngài cho nên tội lỗi là sự thiếu hụt sự vinh hiển của Thiên Chúa:

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma – Romans 3:23).

Bản tính Thiên Chúa bao gồm sự Thánh Khiết, sự Công Chính, và Tình Yêu. Bản tính Thiên Chúa được biểu lộ qua các điều răn của Ngài. Sự vi phạm các điều răn của Thiên Chúa, cho dù chỉ trong tư tưởng, là tội lỗi.

Thánh Kinh dùng chữ hamartia [1](αμαρτιαν266), nguyên nghĩa là “trật mục tiêu” để chỉ về tội lỗi. Khi một người bắn cung, bắn không trúng mục tiêu là hamartia. Cũng vậy, khi đời sống của một người không phản ánh sự vinh hiển của Thiên Chúa (không sống đúng với tiêu chuẩn Thánh Khiết, Công Chính, và Yêu Thương của Ngài) thì đời sống của người đó trật mục tiêu mà Thiên Chúa đã đặt ra, là phạm tội. Bởi vì, Thiên Chúa đã dựng nên loài người theo hình ảnh của Ngài, phản chiếu sự vinh hiển của Ngài (Sáng Thế – Genesis 1:26-27; Thi Thiên – Psalm 8:5).

II. Tính chất của tội lỗi:

Tội lỗi có các tính chất như sau:

1. Tội là anomia [2] (ανομια458), có nghĩa là “bất chấp luật pháp”, là biết điều phải mà vẫn làm điều quấy, biết luật pháp mà vẫn vi phạm.

Ma-thi-ơ – Matthew 7:23, 13:41, 23:28, 24:12; Rô-ma – Romans 4:7, 6:19; 2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 6:14; 2 Tê-sa-lô-ni-ca – 2 Thessalonians 2:7; Tít – Titus 2:14; Hê-bơ-rơ – Hebrews 1:9, 8:12, 10:17; 1 Giăng – 1 John 3:4.

Bản năng thứ nhất của loài người là bản năng làm điều mình thích; bởi thế, có những lúc người ta muốn đạp đổ truyền thống, thách thức luật pháp, và làm những điều cấm kỵ. Cho dù có người nào dám nói mình chưa bao giờ hành động phạm các điều răn của Thiên Chúa cũng không thể nói là mình không hề có ước muốn phạm tội.

2. Tội là parabasis [3] (παράβασις3847), nghĩa là “bước ngang qua lằn ranh”, là vượt ngang qua ranh giới giữa đúng và sai.

Rô-ma – Romans 2:23, 4:15, 5:14; Ga-la-ti – Galatians 3:19; 1 Ti-mô-thê – 1 Timothy 2:14; Hê-bơ-rơ – Hebrews 2:2, 9:15.

Chúng ta có luôn luôn ở bên phải của lằn ranh giữa thành thật và giả dối không? Có một điểm không thành thật nhỏ bé nào trong đời sống của chúng ta chăng? Có phải chúng ta luôn luôn ở bên phải lằn phân chia đúng, sai không? Có thật chúng ta không bao giờ dùng lời nói hoặc sự yên lặng để vặn cong, hoặc lẫn tránh, hoặc xuyên tạc sự thật chăng? Có phải chúng ta bao giờ cũng ở bên phải lằn phân chia sự tử tế, lễ độ với tính ích kỷ và gắt gỏng không? Có phải không hề có một hành động tồi hoặc lời nói thiếu lễ độ nào trong đời sống chúng ta không? Khi tự hỏi những câu này, chắc chắn không ai dám tự hào là mình luôn luôn ở bên phải các lằn ranh.

3. Tội là paraptoma [4] (παράπτωμα3900)có nghĩa là “trượt chân té ngã”, là không giữ được tư thế công chính.

Ma-thi-ơ – Matthew 6:14,15, 18:35; Mác – Mark 11:25,26; Rô-ma – Romans 4:25, 5:15-18,20, 11:11,12; 2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 5:19; Ga-la-ti – Galatians 6:1; Ê-phê-sô – Ephesians 1:7, 2:1,5; Cô-lô-se – Colossians 2:13; Gia-cơ – James 5:16.

Chúng ta “trượt chân té ngã” khi chúng ta buộc miệng lỡ lời; khi chúng ta bị lôi cuốn bởi một thôi thúc của cảm xúc hay đam mê nào đó, mà chúng đã chiếm quyền kiểm soát, đoạt mất sự tự chủ của chúng ta trong một phút giây khiến cho chúng ta hành động sai lầm cách nông nổi. Người tốt nhất trong chúng ta cũng sẽ “trượt chân té ngã” nếu chúng ta không cẩn thận đề phòng.

III. Nguồn gốc, hậu quả, và hình phạt của tội lỗi

Tội lỗi là một huyền nhiệm. Vì tội lỗi là huyền nhiệm cho nên trong đời này chúng ta không thể hiểu thấu được nguồn gốc, tính chất, và hậu quả của tội lỗi. Điều chúng ta biết chắc đó là:

– Mỗi chúng ta là một tội nhân. Chúng ta là tội nhân không phải vì chúng ta phạm tội nhưng vì trong chúng ta có bản chất tội khiến cho chúng ta phạm tội;
– Tội lỗi đem đến đau khổ, bất công, và sự chết;
– Dù gắng sức như thế nào, chúng ta vẫn không thể thoát khỏi sức mạnh của tội lỗi.

Thiên Chúa là Thánh Khiết, là Thiện! Vì Thiên Chúa là Thiện cho nên mọi sự Ngài dựng nên đều là Thiện. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng là Công Chính cho nên đối với thiên sứ và loài người Ngài đều ban cho họ ý chí tự do. Thiên sứ và loài người hoàn toàn được tự do chọn lựa vâng phục Thiên Chúa hoặc khước từ Ngài. Khi ý chí tự do bị lạm dụng để khước từ Thiên Chúa thì sự Ác phát sinh. Tất cả sự Ác xưa nay trong lịch sử của thiên sứ và loài người đều là sản phẩm của tội lỗi. Hành động khước từ Thiên Chúa là tội lỗi, tạo ra sự Ác. Hình phạt đương nhiên của tội lỗi là đau khổ và sự chết.

Bằng thể văn ẩn dụ, Thánh Kinh cho biết tội lỗi bắt nguồn từ Satan (Ê-xê-chi-ên – Ezekiel 28:11-15; Ê-sai – Isaiah 14:12-15). Satan là một thiên sứ trưởng được Thiên Chúa dựng nên để phục vụ Ngài. Satan được dựng nên một cách tốt lành, trọn vẹn như bao loài thọ tạo khác cho đến khi sự kiêu ngạo dấy lên trong lòng khiến cho Satan muốn chiếm quyền của Thiên Chúa và dấy loạn.

Với tinh thần phản loạn đó, Satan đã cám dỗ các thiên sứ khác và loài người đi vào con đường không vâng phục Thiên Chúa. Tổ phụ của loài người là A-đam và Ê-va đã phạm tội cho nên toàn thể loài người đều mang lấy bản chất tội.

Thiên Chúa không tạo nên tội lỗi và sự chết, nhưng với bản tính Công Chính khi Ngài ban cho thiên sứ và loài người ý chí tự do thì Ngài cũng phải cho phép tội lỗi và sự chết xảy ra. Nếu tội lỗi (sự chối bỏ, chống nghịch Thiên Chúa) không được phép xảy ra thì không có ý chí tự do thật. Nếu tội lỗi xảy ra mà không có hình phạt là sự chết thì không thỏa mãn sự Công Chính của Thiên Chúa.

Đối với loài người có hai hình thức của sự chết mà Thánh Kinh gọi là sự chết thứ nhất và sự chết thứ hai.

1. Sự chết thứ nhất, bao gồm sự chết của tâm linh và thể xác:

– Về tâm linh, là sự chấm dứt mối tương giao giữa loài người với Thiên Chúa, loài người không còn biết vâng phục, thờ phượng Thiên Chúa (sự chết của tâm thần); là sự chấm dứt mối tương giao giữa loài người với nhau, loài người không còn khả năng yêu thương nhau (sự chết của linh hồn), (Ê-sai – Isaiah 1:15, 59:1,2; Rô-ma – Romans 1:18-32).

– Về thể xác, là sự bệnh tật, già yếu, và trở về cát bụi (Sáng Thế – Genesis 2:17, 3:19; Hê-bơ-rơ – Hebrews 9:27).

Sau khi sự chết của thể xác xảy ra thì tâm linh của loài người bị giam vào địa ngục, chờ ngày thể xác được gọi sống lại và ra ứng hầu trước toà án lớn của Thiên Chúa để nhận lãnh án phạt về mọi việc làm tội lỗi của mình. Sau khi nhận lãnh án phạt từ Thiên Chúa thì loài người đi vào sự chết thứ hai, là hỏa ngục.

2. Sự chết thứ hai, bao gồm sự chết của tâm linh và thể xác:

– Về tâm linh, là sự đời đời xa cách mặt Thiên Chúa, và sự vinh hiển của quyền phép Ngài, nghĩa là xa cách đời đời quyền phép cứu rỗi của Tin Lành (1 Tê-sa-lô-ni-ca – Thessalonians 1:9; Rô-ma – Romans 1:16).

– Về thể xác, là sự đau khổ đời đời trong lửa của hoả ngục (Khải Huyền – Revelation 20:11-15, 21:8).

III. Sự tha tội và làm cho sạch tội:

Thánh Kinh không đề cập đến sự tha tội và làm cho sạch tội của Thiên Chúa đối với Satan và các thiên sứ phạm tội. Toàn bộ Thánh Kinh chỉ tập trung vào ân điển của Thiên Chúa dành cho loài ngưòi về sự tha thứ mọi tội lỗi của loài người qua sự chuộc tội và sự làm cho loài người được sạch tội qua sự tái sinh.

1. Sự tha tội: được thực hiện bởi sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá cho toàn thể nhân loại.

2. Sự làm cho sạch tội: được thực hiện bởi sự tiếp tục tha tội qua huyết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ và bởi sự tái tạo tâm thần, linh hồn, và thể xác của người được tha tội.

Điều kiện để được Thiên Chúa tha tội và làm cho sạch tội là (1) ăn năn tội, (2) tin nhận Tin Lành cứu rỗi, (3) và vâng giữ lời Chúa. Đây là ba mặt của một vấn đề; thiếu một trong ba yếu tố này, chúng ta không nhận được sự cứu rỗi. Ba yếu tố này của sự cứu rỗi tương ứng với ba yếu tố trong sự vinh hiển của Thiên Chúa:

– Thiên Chúa là Thánh Khiết nên Ngài đòi hỏi chúng ta phải ăn năn tội (Ma-thi-ơ – Matthew 3:2).

– Thiên Chúa là Công Chính nên Ngài cung cấp giải pháp chuộc tội cho chúng ta (1 Giăng – John 1:7).

– Thiên Chúa là Tình Yêu nên Ngài bảo toàn sự sống cho chúng ta qua lời của Ngài (Giăng – John 6:63).

Không ăn năn tội thì không nhận được sự tha tội. Ăn năn tội và tin nhận sự tha tội nhưng không vâng giữ lời Chúa thì không có sự sống đời đời. Đức tin không thể hiện bằng hành động thì tự nó sẽ chết đi cũng như thể xác không có hơi thở (Gia-cơ – James 2:14,17,26). Đức Chúa Jesus phán dạy rất rõ về sự kiện những người tin nhận Chúa phải “cứ ở trong Chúa” và “lời của Chúa cứ ở trong họ” để đời sống đức tin của họ có kết quả tốt. Người nào ở trong Chúa mà không có kết quả thì sẽ bị trừ bỏ (Giăng – John 15:1-7). Đức tin trong Đấng Christ phải được thể hiện bằng hành động vâng lời, thực hành những sự dạy bảo của Chúa:

“Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?” (Lu-ca – Luke 6:46).

“Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.” (Ma-thi-ơ – Matthew 7:21).

Mệnh lệnh của Đức Chúa Jesus dành cho người ăn năn tội là: “Hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn!” (Ma-thi-ơ -Matthew 3:8; Lu-ca – Luke 3:8).

Một người chỉ có thể ăn năn tội và tin nhận Tin lành cứu rỗi của Thiên Chúa đang khi còn sống trong thân xác tội lỗi này. Một khi hơi thở tắt đi, thân thể trở về cùng bụi đất, tâm linh bị giam vào địa ngục thì không còn cơ hội. Thánh Kinh dạy rõ: sau sự chết chỉ còn sự phán xét (Hê-bơ-rơ – Hebrews 9:27); và “hiện nay là thì thuận tiện, hiện nay là ngày cứu rỗi” (2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 6:2).

Sự tha tội và làm cho sạch tội là ân điển (ơn ban cho người không đáng nhận lãnh) của Thiên Chúa ban cho loài người bởi sự nhân từ và thương xót vô biên của Ngài. Thiên Chúa không tạo nên tội lỗi và không có trách nhiệm về sự loài người phạm tội.

Thí dụ minh họa: Nhà bào chế thuốc chỉ tạo ra thuốc để chữa bệnh, cứu người chứ không tạo ra thuốc độc để giết người. Nhưng khi người tiêu thụ không vâng theo lời chỉ dẫn của nhà bào chế, trộn lẫn một số thuốc nào đó lại với nhau thì làm phát sinh ra thuốc độc có sức mạnh giết chết người. Không một tòa án hay không một lương tâm nào có thể tuyên bố rằng nhà bào chế thuốc đã chế ra thuốc độc cho nên phải chịu trách nhiệm về sự ngộ độc của người tiêu thụ. Mặc dù nhà bào chế thuốc không có trách nhiệm trong sự ngộ độc của người tiêu thụ nhưng vì đoán trước sự ngộ độc có thể xảy ra cho nên tình nguyện bào chế sẵn một phương thuốc giải độc cho những ai muốn được giải độc. Phương thuốc đó được tặng không cho người ngộ độc, nhà bào chế gánh chịu hết mọi chi phí. Tuy nhiên, người ngộ độc cần phải: (1) công nhận mình ngộ độc, muốn được chữa lành, (2) tin và nhận phương thuốc giải độc của nhà bào chế, (3) vâng theo sự hưóng dẫn của nhà bào chế trong sự sử dụng thuốc giải độc. Thiếu một trong ba yếu tố trên đây, người ngộ độc không thể được giải cứu.

Kết luận

Khi một người phạm tội thì ở trong tình trạng mà Thánh Kinh gọi là opheilema [5] (ὀφείλημα3783), có nghĩa là “nợ”, là “không làm tròn bổn phận” (Ma-thi-ơ – Matthew 6:12, Rô-ma – Romans 4:4). Không có một người nào đủ can đảm xưng rằng mình đã làm tròn bổn phận đối với người và đối với Trời. Đó là sự trọn lành, loài người không thể đạt đến đang khi còn sống trong thân xác đã hư hoại vì tội lỗi.

Hiện nay, những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa, và vâng phục Ngài đều được Ngài tha tội và tái sinh tâm linh (tâm thần và linh hồn – spirit and soul). Vì được tha tội nên chúng ta không còn bị đoán phạt, chúng ta được thoát khỏi lửa hỏa ngục (Rô-ma – Romans 1:8). Vì được tái sinh tâm thần nên chúng ta nhận biết Chúa, nghe tiếng Chúa, và thờ phượng Chúa. Vì được tái sinh linh hồn nên chúng ta biết yêu thương, tha thứ lẫn nhau. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn sống trong thân xác đã nhiễm tội cho nên vẫn có những lúc chúng ta “trượt chân” hoặc “bước ngang qua lằn ranh” và trở thành những kẻ “bất chấp luật pháp”. Chúng ta chưa trọn vẹn nhưng nhờ ân điển của Thiên Chúa (2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 12:9; Phi-líp – Philippians 4:13) chúng ta đang ở trên tiến trình đạt đến sự trọn vẹn; chúng ta đang “trở nên” trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời là trọn vẹn (Ma-thi-ơ – Matthew 5:48).

Một ngày kia, khi Đức Chúa Jesus trở lại, Ngài sẽ khiến cho thân xác chúng ta được sống lại hoặc được biến hóa, nghĩa là được dựng nên mới trong thân xác, thì sự cứu rỗi của chúng ta được hoàn thành, là lúc chúng ta đạt đến sự trọn vẹn, và được ở cùng Chúa luôn luôn! (Hê-bơ-rơ – Hebrews 9:28; 1 Phi-e-rơ – 1 Peter 1:3-5; 1 Cô-rinh-tô – Corinthians 13:10, 15:35-58, 1 Tê-sa-lô-ni-ca – 1 Thessalonians 4:13-18, 5:23,24).

Huỳnh Christian Timothy
Tucson, Arizona

15/10/2006

Chú thích:

[1] Hamartia phát âm là “ham-ar-tee’-ah”

[2] Anomia phát âm là “an-om-ee’-ah”

[3] Parabasis phát âm là “par-ab’-as-is”

[4] Paraptoma phát âm là “par-ap’-to-mah”

[5] Opheilema phát âm là “of-i’-lay-mah”

Tham khảo:

1. Textus Receptus Greek New Testament, (www.e-sword.org).

2. Thayer’s Greek Definitions, (www.e-sword.org).

3. Strong’s Exhaustive Concordance of the Bible, Dictionaries of the Hebrew and Greek Words of the Original, James Strong, (Hendrickson Publishers, ISBN 0-917006-01-1).

4. Dictionary of Theological Terms, Alan Cairns, (Ambassador Emerald International, 2002)

5. Wycliffe Bible Dictionary, Charles F. Pfiffer, Howard F. Vos, John Rea, (Hendrickson Publishers, 2003).

6. Baker Theological Dictionary of the Bible, Edited by Walter A. Elwell, (Baker Books, 1996).

 

Share This:

A. W. Tozer: Sử Dụng và Lạm Dụng Tính Hài Hước

2,489 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Có một vài điều hữu ích trong đời sống Cơ Ðốc nhân như là tính hài hước nhẹ nhàng nhưng cũng có một vài thứ tai hại chết người như tính hài hước nằm ngoài sự kiểm soát.
Nhiều người đã bỏ cuộc chạy của sự sống chỉ vì chuyện tầm phào. Phao-lô đã cẩn thận cảnh báo chúng ta. Ông nói rõ rằng tâm tính đặc trưng của Cơ Ðốc nhân không phải là việc pha trò, và nói những chuyện tầm phào, bèn là sự tạ ơn (Ê-phê-sô 5:1-5). Thật có ý nghĩa khi trong chương này vị sứ đồ của chúng ta đã xếp việc nói những chuyện tầm phào chung với sự không tinh sạch, gian dâm và thờ lạy hình tượng.

Ðiều này, hiển nhiên là một sự cảm kích về tính hài hước, tự bản thân nó không phải là điều xấu. Khi Ðức Chúa Trời tạo dựng chúng ta, Ngài có ban cho chúng ta tính hài hước như là một điểm đặc trưng bên trong, và một con người bình thường sẽ có món quà này ít nhất là ở một cấp độ nào đó. Nguồn gốc của sự hài hước là khả năng lĩnh hội những điều phi lý. Những thứ trông không rõ ràng thường có vẻ buồn cười đối với chúng ta và có thể kích thích bên trong chúng ta một cảm giác thích thú đến độ bật ra tiếng cười.

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Yêu Chúa và Yêu Người

2,564 views

Một trong những vấn đề gây bối rối, có thể xuất hiện hoặc sớm hoặc muộn và quấy rầy Cơ Ðốc nhân đang tìm kiếm, là làm thế nào anh ta có thể hoàn thành mạng lệnh Thánh Kinh: Yêu Chúa với tất cả tấm lòng mình và yêu người lân cận như chính mình.
Một Cơ Ðốc nhân sốt sắng nhất, khi anh suy gẫm về nghĩa vụ thánh của mình là yêu mến Ðức Chúa Trời và con người, có thể kinh nghiệm một cảm giác thất bại được gieo từ sự nhận biết rằng anh ta dường như không thể có thêm một chút xúc cảm nào đối với Chúa của mình hay anh em chung quanh. Anh ta muốn thế, nhưng anh không thể làm được. Các nguồn cảm xúc say mê chỉ đơn giản là không còn nữa.

Phần nhiều những con người chân thật đã trở nên thất vọng bởi sự thiếu vắng xúc cảm mang tính chất tôn giáo (sự cảm động) và đã tự kết luận rằng họ không thực sự là Cơ Ðốc nhân gì cả. Họ kết luận rằng họ ắt hẳn đã đi nhầm đường từ một chỗ nào đó trong quá khứ và tôn giáo của họ chẳng là gì nhiều hơn một lời tuyên xưng rỗng tuếch. Vì thế, trong chốc lát họ tấn công chính mình bằng sự lạnh lùng của mình, và cuối cùng lâm vào một tâm trạng chán nản ảm đạm, khó mà biết điều gì để suy nghĩ. Họ tin nơi Ðức Chúa Trời; họ thực sự tin Ðấng Christ là Cứu Chúa của mình, nhưng tình yêu mà họ hy vọng cảm nhận được trước sau như một lại trốn tránh họ. Vấn đề là gì?

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Thập Giá Là Một Điều Cơ Bản

2,174 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Thập giá của Ðấng Christ là điều mang tính cách mạng nhất từng xuất hiện giữa vòng loài người.
Thập giá của thời La Mã xa xưa không biết đến sự thỏa hiệp nào; nó chưa bao giờ nhượng bộ ai. Nó được biết đến bởi khả năng giết chết kẻ thù mình và khiến anh ta câm lặng mãi mãi. Nó không tha cho Ðấng Christ, mà còn giết chết Ngài như bao người khác. Ngài còn sống lúc họ treo Ngài lên trên thập giá, và hoàn toàn đã chết lúc họ đưa Ngài xuống sáu giờ sau đó. Ðó là cái thập giá đầu tiên xuất hiện trong lịch sử Cơ Ðốc.

Sau khi Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, các sứ đồ đi ra và rao giảng sứ điệp của Ngài, và điều mà họ rao giảng là thập giá. Bất cứ nơi nào họ đi ra trên thế giới rộng lớn này, họ mang theo thập giá, và cùng một quyền năng mang tính cách mạng đó (quyền năng phục sinh Ðấng Christ – ND) đi với họ. Sứ điệp cơ bản của thập giá đã biến đổi Sau-lơ ở Tạt-sơ, và biến ông từ một con người dữ tợn, chuyên bắt bớ Cơ Ðốc nhân trở thành một tín hữu mềm mại và một sứ đồ của đức tin. Quyền năng của thập giá biến đổi người xấu thành người tốt. Quyền năng đó tháo gỡ mọi sự trói buộc của ngoại giáo và thay đổi hoàn toàn cái nhìn của thế giới phương Tây về đạo đức và tinh thần. Thập giá đã làm tất cả những điều này và sẽ tiếp tục làm cho đến chừng nào nó vẫn còn được xem là thập giá theo ý nghĩa ban đầu của mình. Sức mạnh của nó mất đi khi nó bị biến đổi từ một vật của sự chết sang một vật của cái đẹp. Khi con người biến nó thành biểu tượng, đeo nó quanh cổ họ như một món đồ trang sức hay đưa nó ra trước mặt họ như là một thứ bùa chú giúp tránh khỏi ma quỷ; rồi thì nó trở thành một biểu tượng yếu ớt xét ở mức độ tốt nhất, và ở mức độ tệ nhất thì nó rõ ràng là một vật thờ cúng. Như thế, ngày nay thập giá được tôn sùng bởi hàng triệu người hoàn toàn không biết tí gì về quyền năng của nó.

Thập giá hoàn tất mục đích của nó bằng cách hủy diệt mẫu hình đã có sẵn, của nạn nhân, và tạo nên một mẫu hình khác, của chính nó. Vì thế nó luôn có phương cách của mình. Nó thắng bằng cách đánh bại đối thủ và áp đặt ý muốn mình lên anh ta. Nó luôn luôn chiếm ưu thế. Nó không bao giờ thỏa hiệp, không bao giờ đổi chác, hay hội ý, không bao giờ đầu hàng một điểm nào vì lợi ích của hòa bình. Nó không quan tâm đến hòa bình; nó chỉ quan tâm đến việc kết thúc kẻ thù mình nhanh hết mức có thể.

Vì biết rất rõ mọi điều này, Ðấng Christ đã phán, “Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta.” Vì thế, thập giá không chỉ đưa sự sống Ðấng Christ trên trần gian này đến chỗ kết thúc, nó cũng chấm dứt đời sống đầu tiên, đời sống cũ, của mỗi người là người thực sự theo Ngài. Nó tiêu diệt mẫu hình cũ, mẫu hình A-đam, trong đời sống người tin, và chấm dứt nó. Rồi thì Ðức Chúa Trời, Ðấng đã khiến Ðấng Christ từ kẻ chết sống lại, làm cho người tin sống lại và đời sống mới bắt đầu.

Ðiều này hoàn toàn là Cơ Ðốc giáo thật, dầu chúng ta không thể nhận ra sự bất đồng tinh vi của quan niệm này với quan niệm của những người Tin Lành ngày nay. Nhưng chúng ta không dám đề cao vị trí của mình. Thập giá vượt quá mọi sự đánh giá của con người và đối với thập giá đó, mọi tư tưởng cuối cùng phải chịu sự đoán xét. Sự lãnh đạo nông cạn và thế tục sẽ sửa đổi thập giá để làm vừa lòng hậu duệ của các thánh nhân, những con người tiêu khiển trong cuồng dại, những người sẵn sàng bày trò vui của họ ngay cả trong nơi rất thánh; nhưng làm như thế tức là chuốc lấy thảm họa thuộc linh và liều lĩnh trước cơn thịnh nộ của Chiên Con biến thành Sư Tử.

Chúng ta phải làm một điều gì đó về thập giá, và chúng ta chỉ có thể làm một trong hai điều mà thôi – chạy trốn nó hay chết trên nó. Và nếu chúng ta dại dột chạy trốn nó, bởi hành động đó, chúng ta sẽ quăng xa mọi niềm tin của cha ông và biến Cơ Ðốc giáo thành một thứ gì đó khác hơn bản chất thực của nó. Rồi thì chúng ta sẽ chỉ còn lại một ngôn ngữ sáo rỗng về sự cứu rỗi; quyền năng sẽ lìa bỏ cùng với sự lìa bỏ thập giá thật của chúng ta.

Nếu chúng ta khôn ngoan, chúng ta sẽ làm điều mà Ðức Chúa Jêsus đã làm: Vác thập giá và xem thường sự xấu hổ của nó vì niềm vui đang được đặt ở phía trước chúng ta. Làm việc này tức là trao phó trọn vẹn kiểu đời sống cũ cho thập giá để bị tiêu hủy đi và xây dựng lại đời sống mới trong quyền năng của sự sống đời đời. Và chúng ta sẽ thấy rằng điều đó còn tuyệt vời hơn cả thơ ca, hơn cả những bài thánh thi ngọt ngào và cảm xúc hân hoan. Thập giá sẽ cắt sâu vào đời sống chúng ta, nơi nó gây đau đớn nhiều nhất, nó không dung tha chúng ta cũng như những danh tiếng tốt mà chúng ta đã cẩn thận gây dựng. Nó sẽ đánh bại chúng ta và chấm dứt đời sống ích kỷ của chúng ta. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể sống lại trong sự đầy trọn của sự sống để hình thành một mẫu hình sống hoàn toàn mới và tự do, tràn đầy những công việc tốt lành.
Thái độ sai lạc về thập giá mà chúng ta thấy trong giới chính thống hiện đại không chứng minh rằng Ðức Chúa Trời đã thay đổi, hay Ðấng Christ đã giảm nhẹ đòi hỏi của Ngài về việc chúng ta phải vác thập giá mình; nó có nghĩa là Cơ Ðốc giáo ngày nay đã đi khỏi những tiêu chuẩn của Thánh Kinh Tân Ước. Cho đến nay, quả thật chúng ta đã đi xa, xa đến độ không có gì khác ngoài một cuộc tân cải chánh mới có thể khôi phục và trả thập giá về đúng vị trí của nó trong thần học cũng như trong sự sống của Hội Thánh.

A. W. Tozer

 

Share This:

A. W. Tozer: Học Thì Phải Hành

2,345 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Ông Charles G. Finney tin rằng việc dạy Kinh Thánh mà không có sự áp dụng trên phương diện đạo đức có thể còn tệ hơn việc không dạy gì cả và có thể gây nên những tổn thương thực sự lớn cho những người nghe. Tôi thường cảm thấy rằng điều này có vẻ là một quan điểm cực đoan, nhưng sau nhiều năm chiêm nghiệm, tôi thay đổi ý kiến, hay có một quan điểm gần như giống hệt nó.

Hầu như không có bất cứ điều gì buồn tẻ và vô nghĩa cho bằng giáo lý Kinh Thánh được dạy vì cớ lợi ích của chính nó. Lẽ thật tách rời cuộc sống không phải là lẽ thật trong ý nghĩa Thánh Kinh, nhưng là một cái gì đó khác hơn và là một cái gì đó thấp kém hơn. Thần học là một tập hợp các sự kiện liên quan đến Ðức Chúa Trời, con người và thế giới. Những sự kiện này có thể và thường được công bố như là những giá trị nội tại; và ở đó có một cái bẫy cho cả người dạy lẫn người nghe.

Kinh Thánh, giữa vòng những điều khác, là một cuốn sách của lẽ thật được bày tỏ. Tức là một số sự kiện nào đó được mặc khải mà không một tâm trí vô cùng lỗi lạc nào có thể khám phá. Chúng ta chỉ có thể hiểu được bản chất của những sự kiện này khi kinh nghiệm chúng. Chúng được giấu đằng sau một tấm màn; và cho đến khi có ai đó nói rằng họ được cảm thúc bởi Thánh Linh để đến và dở bỏ tấm màn đi, không một con người hay chết nào có thể biết đến chúng. Chúng ta gọi việc dở bỏ tấm màn vô thức khỏi những cái chưa được khám phá là sự khải thị thiêng liêng.

 

Tuy nhiên, Kinh Thánh còn hơn là một tuyển tập những sự kiện mãi cho đến nay chưa được biết đến về Ðức Chúa Trời, con người và vũ trụ. Nó là một cuốn sách của sự mời gọi nhiệt thành dựa trên những sự kiện đó. Phần lớn Kinh Thánh là một nỗ lực cấp bách nhằm thuyết phục con người thay đổi đường lối của mình và đưa đời sống của họ trở lại hòa thuận với ý muốn Ðức Chúa Trời như đã được viết trong những trang quý báu của nó.

 

Chẳng có người nào trở nên tốt hơn vì biết rằng từ ban đầu Ðức Chúa Trời đã dựng nên trời và đất. Ma quỷ cũng biết điều đó, A-háp và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt cũng thế. Chẳng có người nào trở nên tốt hơn khi biết rằng vì Ðức Chúa Trời quá yêu thương thế gian nên đã ban Con Một của Ngài xuống trần chịu chết vì sự cứu chuộc tội lỗi họ. Trong địa ngục, có hàng triệu người biết điều đó. Lẽ thật thần học hoàn toàn vô dụng cho đến khi nó được vâng theo. Mục đích đằng sau mọi giáo lý là để bảo vệ hành động đạo đức.

 Nhìn chung, điều đã bị bỏ qua chính là sự thật, như được chép trong Thánh Kinh Cơ Ðốc, đó là một điều mang tính đạo đức; nó không chỉ nhằm vào lý trí, mà còn nhằm vào ý chí con người nữa. Nó hướng chính mình đến toàn bộ con người và những đòi hỏi của nó không thể được hoàn thành chỉ bởi việc nắm bắt, thấu hiểu nó trong tâm trí mà thôi. Lẽ thật chiếm lấy pháo đài của lòng người và sẽ không được thỏa mãn cho đến khi nó chinh phục được mọi sự ở đó. Ý chí phải đến và quy phục dưới lưỡi gươm của lẽ thật. Ý chí phải đứng đó chú ý nhận những mệnh lệnh mà nó phải vui vẻ vâng phục. Thiếu điều này, bất cứ sự hiểu biết nào về lẽ thật Cơ Ðốc cũng không đủ và chỉ vô ích mà thôi.

Sự giải nghĩa Kinh Thánh mà không có sự áp dụng mang tính chất đạo đức sẽ chẳng gây nên sự đối kháng nào. Chỉ khi nào người nghe được làm cho hiểu rằng lẽ thật mâu thuẫn với lòng mình, khi đó sự chống đối xuất hiện. Chừng nào mà con người có thể nghe rằng lẽ thật chính thống đã tách rời khỏi đời sống, khi đó họ sẽ gia nhập và ủng hộ các Hội Thánh, các học viện mà không một lời phản đối nào. Lẽ thật chỉ là một bài hát hay, trở nên ngọt ngào bởi những cuộc nhóm họp dài hơi, dễ xúc động; và vì nó không đòi hỏi gì nhiều, chỉ vài đô la thôi, mà lại vừa được nghe nhạc hay, vừa có những tình bạn thú vị, và một cảm giác khỏe mạnh thoải mái, lẽ thật sẽ không gặp sự chống đối nào từ những tín đồ sùng đạo. Phần lớn điều đó được xem là Cơ Ðốc giáo Tân Ước, vốn chỉ nhỉnh hơn lẽ thật bị chống đối một chút, được làm cho ngọt dịu với bài hát và làm cho dễ chịu bởi trò giải trí tôn giáo.

Có lẽ không có phần nào khác trong Kinh Thánh có thể so sánh với những thư tín của Phao-lô khi nói đến việc tạo nên những vị thánh nhân tạo. Phi-e-rơ cảnh báo rằng những người dốt nát và những người không tin quyết sẽ xuyên tạc những điều Phao-lô viết và rồi tự chuốc lấy sự hư mất cho riêng mình (II Phi-e-rơ 3:16); và chúng ta chỉ cần viếng thăm một hội nghị Kinh Thánh nào đó, lắng nghe một vài bài thuyết trình thì sẽ biết được ông muốn nói gì. Một điều đáng lo ngại là những giáo lý của Phao-lô có thể được dạy với sự chính xác đến từng con chữ mà không khiến người nghe trở nên tốt hơn chút nào. Vị giáo sư có thể và thường dạy lẽ thật không khác gì nhồi nhét, bỏ mặc nó ở đó cho người nghe mà không tạo cho họ một nhân thức về bổn phận đạo đức nào cả.

Một lý do cho việc tách rời giữa lẽ thật và đời sống có lẽ là do thiếu sự soi sáng của Thánh Linh. Một nguyên nhân chắc chắn khác là người giáo viên không muốn gây rắc rối cho chính mình. Bất cứ người nào có khả năng giảng dạy hợp lý đều có thể gần gũi với hội chúng bình thường nếu ông ta chỉ việc “cho họ ăn” và để họ yên. Ban phát nhiều lẽ thật khách quan và không bao giờ ám chỉ rằng họ sai thì mọi chuyện sẽ ổn, họ sẽ thỏa lòng lắm.

Trái lại, người nào giảng dạy lẽ thật và áp dụng nó vào đời sống của người nghe sẽ cảm biết móng vuốt và gai nhọn. Ông ta sẽ sống rất khó khăn, nhưng là một đời sống vinh hiển. Nguyện Chúa sẽ dấy lên nhiều những tiên tri như vậy. Hội Thánh hết sức cần họ.

A. W. Tozer

 

Share This:

A. W. Tozer: Sự Phân Rẽ Không Phải Lúc Nào Cũng Xấu

2,351 views

A. W. Toze

Khi nào thì hiệp nhất và khi nào thì phân rẽ, đó là vấn đề; và một câu trả lời đúng đòi hỏi sự khôn ngoan của một Sa-lô-môn. 

Hầu hết mọi người đều giải quyết vấn đề theo quy luật tự nhiên, đó là Mọi sự hiệp nhất thì cho là tốt lành và mọi sự chia rẽ thì cho là xấu xa. Nếu quyết định như thế thì là thật là dễ dàng cho cuộc sống của chúng ta có phải không! Nhưng khi nhìn rõ ràng vào phương pháp đối diện với vấn đề này một cách quá đơn giản như thế thì chúng ta đã bỏ qua những bài học lịch sử và xem nhẹ những định luật thuộc linh sâu thẳm nhất mà con cái Chúa phải nhờ đó mà tồn tại.

Nếu hiệp một là bản tánh của những người tốt và chia rẽ là bản tánh của những người xấu thì điều đó sẽ đơn giản hóa vấn đề cho chúng ta. Nếu Đức Chúa Trời luôn luôn hiệp nhất còn ma quỷ thì luôn luôn chia rẽ, thì cuộc hành trình tâm linh của chúng ta thật là dễ dàng trong thế giới hỗn độn này.

Nhưng mọi sự đâu phải như thế.

Phân rẽ cái cần phải phân rẽ và hiệp nhất cái cần phải hiệp nhất mới là khôn ngoan. 

Sự hiệp nhất của những yếu tố không giống nhau chẳng bao giờ là tốt cả, cho dù điều đó có thể làm được, và sự phân rẽ tùy tiện những yếu tố giống nhau cũng vậy. Ðiều này đúng trong mọi lãnh vực đạo đức, tôn giáo, chính trị hay khoa học.

Công việc phân rẽ đầu tiên mà Đức Chúa Trời thực hiện là Ngài đã phân rẽ sự sáng ra cùng bóng tối. Sự phân rẽ này đặt một hướng đi cho tất cả các mối liên hệ của Đức Chúa Trời trong tự nhiên và trong ân điển. Ánh sáng và bóng tối là hai thứ hoàn toàn xung khắc với nhau; Sự hòa hợp ánh sáng và bóng tối là một việc hoàn toàn không thể làm được và nếu có làm được thì kết quả cũng chẳng được điều gì, ngoại trừ sự mập mờ, và tối tăm.

Trong thế giới hiện đại rất khó cho người đứng ngoài cuộc có thể kết luận hay là phân ranh giới những công việc của người trong cuộc. Vì loài người đã sa ngã và tội lỗi đã mang đến sự hỗn độn hoàn toàn trong thế giới này, cho nên lúa mì mới mọc chung với cỏ lùng, đàn cừu mới đi chung với lũ dê, các trụ sở của những điều công chính và không công chính nằm cạnh nhau trong một ngôi nhà lầu, hội truyền giáo nằm ngay bên cạnh quán rượu…v.v..

Nhưng những điều như thế không thể tồn tại muôn đời tại vì ngày và giờ của Chúa đang đến gần khi bầy chiên sẽ được phân rẽ ra khỏi lũ dê, cỏ lùng sẽ bị loại ra khỏi ruộng lúa mì. Đức Chúa Trời một lần nữa sẽ phân rẽ ánh sáng và bóng tối, và rồi mọi sự sẽ được sáng tỏ. Cỏ lùng sẽ bị cho vào lửa với cỏ lùng và lúa mì sẽ được cho vào vựa với lúa mì. Sự mờ tối sẽ như lớp sương mờ tan mất dưới ánh nắng, và rồi mọi công việc sẽ được tỏ tường. Lúc đó người ta sẽ thấy được Địa ngục hiện ra nguyên hình mặc dù bề ngoài đã được tô lên một lớp phấn Thiên Ðàng. Thiên đàng cũng sẽ hiện ra như một mái ấm gia đình cho tất cả những ai có bản chất của Đức Chúa Trời có Một và Thật.

Hiện nay chúng ta đang kiên nhẫn để chờ đợi những giây phút đó. Trong khi chờ đợi, thì mỗi người trong chúng ta và Hội Thánh, mặc dù ở bất kỳ nơi đâu trong xã hội loài người, cũng phải liên tục đặt câu hỏi là: Chúng ta sẽ hiệp nhất với cái gì và phân rẽ với cái gì?

Hãy nêu ra vài câu hỏi sau đây….Khi lúa mì mọc trong cánh đồng với cỏ lùng thì cả hai có giao phấn với nhau hay không? Bầy chiên gặm cỏ gần lũ dê, nhưng chúng có tìm cách giao phối với nhau hay không? Điều bất chính và điều công chính đều được hưởng mưa nắng như nhau, nhưng chúng có quên đi những sự khác biệt đạo đức bên trong và “kết thông gia” với nhau hay không?

Mục tiêu kêu gọi sự hiệp nhất là vì lợi ích của sự hiệp nhất, và con người sẽ làm mọi việc cho sự lợi ích đó. Vì thế cho nên sự hiệp nhất được thu hút một cách mãnh liệt đến nỗi không có điều gì là quá cao để thay đổi được nó và không có điều gì quan trọng đủ để tách rời nó ra. Lẽ thật bị giết chết vì sự hiệp một để chiêu đãi một buổi đại tiệc ăn mừng hôn phối của thiên đàng và địa ngục, và tất cả chỉ vì muốn sinh ra một quan niệm về sự hiệp nhất vốn không hề có trong Lời của Đức Chúa Trời.

Một Hội Thánh được Thánh Linh soi sáng sẽ không liên hệ vào chuyện này. Trong một thế giới sa ngã giống như của chúng ta, sự hiệp nhất không phải là một kho báu có thể mua được với cái giá thỏa hiệp. Lòng trung thành với Đức Chúa Trời, sự thành tín với lẽ thật và sự gìn giữ một lương tâm tốt là những món nữ trang còn quý giá hơn vàng của Ô-phia, hay đá quý từ trong mỏ. Vì những món trang sức này, con người đã phải chịu sự mất mát của cải, hình phạt tù đày và ngay cả cái chết. Ðối với họ, ngay cả trong những thời điểm hiện tại, đằng sau các bức màn, những người theo chân Đấng Christ đã trả xong cái giá của sự tận hiến và thầm lặng chết đi, cái thế giới to lớn này không hề biết đến, nhưng chính Đức Chúa Trời biết và họ trở nên gần gũi với tấm lòng của Cha mình. Vào một ngày mà mọi sự bí mật của tất cả những linh hồn sẽ được tiết lộ, những linh hồn này sẽ nhận lãnh những công việc đã làm trong thể xác. Ðây là những con cái Chúa đã từng bị ruồng bỏ, nhưng lúc ấy sẽ thông minh hơn những người theo đuổi sự hiệp nhất tôn giáo vô nghĩa, những người không có can đảm đứng lên chống lại xu hướng đang thuận hành, và những người kêu gọi tình anh em hoà hiệp chỉ vì đó là thời điểm để trở nên nổi tiếng. 

“Một cây làm chẳng lên non..” là câu nói trên đầu môi của những nhà lãnh đạo chính trị nham hiểm, nhưng Sa-tan cũng biết cách làm thế nào để lừa bịp con dân Chúa bằng câu “Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”. Satan, nó muốn bắt đầu chinh phục thế giới này bằng sự kêu gọi hiệp một bằng những lời khơi gợi lòng tự hào dân tộc, hay những lời cổ võ báo thù một cái gì đó sai trái, kẻ mị dân thành công trong việc thống nhất quần chúng đằng sau mình. Sau đó, Satan sẽ điều khiển quân đội và đánh vào cơ quan lập pháp cho đến khi họ phải đầu hàng và thống nhất toàn diện mọi mặt chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng đó là sự thống nhất của cái chuồng nhốt gia súc vào một trại tập trung để chuẩn bị đưa đến sự hủy diệt. Chúng ta đã thấy điều này xảy ra vài lần trong thế kỷ 20, và thế giới sẽ thấy nó ít nhất một lần nữa khi các quốc gia trên thế giới hiệp lại với nhau dưới tay chỉ huy của Anti-christ.

Khi một đàn cừu đang bối rối đi đến bờ vực thẩm, thì một con cừu chỉ có thể bảo tồn sự sống của nó bằng cách tách ra khỏi bầy. Sự hiệp nhất hoàn hảo trong thời điểm đó đồng nghĩa với sự hủy diệt hoàn toàn.

Sức mạnh nằm bên trong sự hiệp nhất của những sự việc giống nhau, và cũng nằm bên trong sự phân rẽ của những sự việc khác nhau.

Có lẽ những gì chúng ta cần trong Hội Thánh ngày nay không phải là sự hiệp nhất bèn là một sự phân rẽ thông minh và can đảm. Mọi người đều mong ước sự hòa bình, nhưng phấn hưng chỉ có thể đến sau lưỡi gươm của Chúa Giê-xu Christ thấu đến hồn, linh, cốt, tủy.

 

Share This:

Những giấc mơ và khải tượng

2,172 views

Người Việt Về Nguồn 2006
Kiêng ăn, cầu thay cho Hội Thánh, dân tộc, và quê hương Việt Nam

Lời chứng: Những giấc mơ và khải tượng
Diễn giả: Huỳnh Christian Priscilla

Nhấp nút trái của chuột vào | đây | để nghe bài giảng
Nhấp nút phải của chuột vào | đây | rồi chọn [Save Target As…]
để lưu bài giảng trên computer của bạn

Nhấp nút trái của chuột vào | đây | để nghe các bài giảng khác

 

 

 

 

Share This:

A. W. Tozer: Lời Cầu Nguyện Của Một Tiên Tri Nhỏ

2,372 views

Tác Giả: A. W. Tozer
 

Lời cầu nguyện này của một người được kêu gọi để làm chứng nhân cho các nước.

Đây là những gì ông nói với Chúa của mình vào ngày ông được kêu gọi. Sau khi các trưởng lão và các người chăn cầu nguyện rồi đặt tay lên ông, ông trở về gặp gỡ Cứu Chúa của mình trong nơi kín nhiệm và trong sự tĩnh lặng, xa khỏi những nơi mà các anh em của ông có thể tìm thấy ông.

Ông thưa với Chúa: Lạy Chúa, con đã nghe tiếng Ngài và con sợ hãi. Ngài đã kêu gọi con vào một chức vụ đáng sợ trong hầm mộ và giờ phút hiểm nghèo. Ngài sắp sửa lay chuyển tất cả các nước, cả trái đất cùng toàn thể thiên đàng, đến độ những thứ không thể lay chuyển được cũng phải đổ xuống. Ôi Chúa, là Thiên Chúa, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, là Chúa của con, Ngài đã đoái thương và chọn con làm tôi tớ Ngài. Không một người nào có thể lấy được vinh dự này ngoại trừ người đã được Ngài kêu gọi như A-rôn. Ngài đã khiến con trở thành người mang sứ điệp của Ngài đến cho những kẻ cứng lòng mà không chịu lắng nghe. Họ đã chối bỏ Ngài, vị Chủ Tể Oai Quyền, và con cũng không mong đợi họ sẽ chấp nhận con, một tôi tớ.

Lạy Chúa của con, con sẽ không lãng phí thời gian kể lể về những yếu đuối của mình cũng như sự thiếu năng lực để hoàn thành công việc. Trách nhiệm đó không phải của con, bèn là của Ngài. Ngài đã phán, “Ta đã biết ngươi rồi – ta đã biệt riêng ngươi – lập ngươi làm kẻ tiên tri cho các nước,” và Ngài cũng đã phán, “Ngươi sẽ đi khắp nơi nào ta sai ngươi đi, và sẽ nói mọi điều ta truyền cho nói.” Con là ai mà dám tranh luận với Ngài hay nghi ngờ sự lựa chọn thánh của Ngài? Quyết định không phải của con, bèn là của Ngài. Xin ý Cha được nên, Chúa ôi! Ý Cha, chứ không phải ý con, được nên. Phải, con biết rõ Ngài là Đức Chúa Trời của các đấng tiên và sứ đồ, và hễ khi nào con tôn cao Ngài thì Ngài lại nhắc con lên. Vì thế xin hãy giúp con giữ được lời hứa trang nghiêm này, rằng con sẽ tôn cao Ngài suốt cả cuộc đời và công việc tương lai của con, bất luận khi con được hay mất, sống hay chết, và xin hãy giữ lời hứa đó nguyên vẹn chừng nào con còn sống.

Đã đến lúc rồi Cha ơi, đến lúc Ngài hành động, vì kẻ thù đã xâm lấn vào các đồng cỏ của Ngài, và bầy chiên thì tan lạc, tẻ tách khắp nơi. Những kẻ chăn chiên trá hình có nhiều vô số, họ mặc kệ các mối hiểm họa và mỉm cười trước cơn nguy khốn đang vây quanh bầy của Ngài. Những con chiên bị đánh lừa bởi những kẻ làm thuê này và bước đi theo họ một cách rất trung thành trong khi lũ sói đang đến gần để giết chóc và hủy diệt. Con xin Ngài ban cho con đôi mắt tinh xảo để phát giác được sự hiện diện của kẻ thù; hãy ban cho con sự thông sáng để thấy và can đảm thuật lại những gì mình thấy cách thành tín. Hãy khiến cho giọng con giống như tiếng của chính Ngài để những con chiên đang bệnh sẽ nhận ra và bước theo Ngài.

Lạy Chúa Jêsus, con đến với Ngài và xin Ngài chuẩn bị phần thuộc linh cho con. Xin hãy đặt tay lên con. Hãy thánh hóa con với dầu của Nhà Tiên Tri Tân Ước. Hãy ngăn chặn để con không trở thành người sao chép tôn giáo và vì thế đánh mất sự kêu gọi tiên tri. Hãy cứu con khỏi mọi sự rủa sả vốn nằm đó che mất gương mặt của một người chăn hiện đại, lời nguyền của sự thỏa hiệp, sự bắt chước, của trình độ nghiệp vụ. Xin hãy cứu con khỏi sai lầm của việc đánh giá một Hội Thánh bằng độ lớn, sự nổi tiếng của Hội hay số dâng hàng năm. Xin hãy giúp con nhớ rằng con là một nhà tiên tri, chứ không phải một người sáng lập ra cái gì, cũng không phải một nhà quản lý tôn giáo, bèn là một tiên tri. Xin đừng bao giờ để con trở thành nô lệ của đám đông. Hãy chữa lành linh hồn con khỏi những tham vọng xác thịt và giải phóng con khỏi ham muốn nổi danh. Hãy cứu con khỏi sự ràng buộc vào vật chất. Xin đừng để con lãng phí các ngày của mình lăng xăng trong và quanh nhà. Hãy đặt để lòng kính sợ Ngài lên con, Chúa ôi, và thúc đẩy con vào sự cầu nguyện, nơi mà con có thể vật lộn với sự thống trị, những sức mạnh và các vua cầm quyền thế giới tối tăm này. Xin hãy giải phóng con khỏi thói ham ăn nhiều và ngủ dậy trễ. Hãy dạy con biết tự kỷ luật mình để trở thành một người lính giỏi của Đấng Christ.

Con chấp nhận công việc nặng nhọc và phần thưởng ít ỏi trong cuộc đời này. Con không cầu xin một chỗ dễ dàng nào cả. Con sẽ cố nhắm mắt trước những con đường rộng lớn có thể khiến cuộc sống dễ dàng hơn. Nếu những người khác tìm kiếm con đường bằng phẳng, con sẽ cố tìm kiếm và đi theo con đường chông gai mà không đoán xét họ quá khắc nghiệt. Con thực sự chờ đón sự chống đối và sẽ cố đương đầu với nó cách thầm lặng khi nó đến. Hay nếu, như thỉnh thoảng các tôi tớ Ngài vẫn rơi vào, khi nào đó con phải nhận những món quà từ dân sự tốt bụng của Ngài, xin hãy đứng bên cạnh con và cứu con khỏi ảnh hưởng xấu rất thường hay theo sau. Xin hãy dạy con sử dụng bất cứ gì con nhận lãnh được trong các trường hợp đó để con sẽ không làm tổn thương linh hồn mình hay làm giảm bớt sức mạnh thuộc linh của con. Và nếu trong ý muốn cho phép của Ngài, vinh dự đến với con từ Hội Thánh Ngài, thì xin đừng để con quên rằng ngay chính trong những giờ đó con không đáng giá chút nào với ân điển Ngài, và rằng nếu người khác biết con tường tận như con biết chính mình thì họ sẽ rút lại những vinh dự đó hay ban tặng cho những người khác xứng đáng nhận lãnh chúng hơn con.
Và bây giờ, hỡi Chúa của cả trời và đất, con hiến dâng trọn vẹn những ngày còn lại của con trên đất này cho Ngài; xin hãy cho chúng được nhiều hay ít, tùy vào ý muốn Ngài. Hãy để con đứng trước những người vĩ đại hay các người chăn hoặc trước người nghèo và thấp hèn; lựa chọn đó không phải của con, và xin đừng để con gây ảnh hưởng lên nó khi mà con có thể. Con là đầy tớ Ngài để làm theo ý muốn Ngài. Và ý muốn đó đối với con ngọt ngào hơn cả địa vị hay sự giàu sang, hoặc sự nổi tiếng và con lựa chọn nó trên hết mọi thứ trên đất cũng như trên thiên đàng.

Dầu con đã được lựa chọn thuộc về Ngài và được tôn cao bởi sự kêu gọi cao cả và thánh khiết, xin đừng bao giờ để cho con quên rằng con chỉ là một con người của đất cát và tro bụi, một con người với tất cả những thiếu sót và đam mê tự nhiên vốn đã đang tràn lan khắp nơi trong vòng chủng tộc loài người. Vì thế, con cầu xin Ngài, Đấng Cứu Chuộc con, hãy giải cứu con khỏi chính mình và khỏi tất cả những tổn thương con gây ra cho chính mình khi cố gắng trở thành một nguồn phước cho người khác. Hãy đầy dẫy con bởi quyền năng của Thánh Linh, và con sẽ ra đi với sức mạnh của Ngài mà nói về sự công bình của Ngài, và chỉ mình Ngài mà thôi. Con sẽ rao giảng khắp nơi sứ điệp giải cứu của tình yêu thương trong khi những sức mạnh tự nhiên của con tồn tại.

Rồi thì, ôi Chúa của con, khi con già yếu, kiệt sức và quá mệt mỏi để tiếp tục, xin hãy chuẩn bị cho con một chỗ ở trên nơi cao kia và hãy khiến con được ở chung nhóm với các thánh Ngài trong sự vinh hiển đời đời vô cùng. Amen.

 

Share This:

Cây cân giả

2,188 views

1. Bổn phận

 

– Cha mẹ & con cái:

 

Cha mẹ có bổn phận nuôi, dạy, cầu thay cho con cái.

 

Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo; Dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó.

(Châm ngôn 22:6)

 

Chớ tha sửa phạt trẻ thơ; Dầu đánh nó bằng roi vọt, nó chẳng chết đâu. Khi con đánh nó bằng roi vọt.

(Châm ngôn 23:13)

 

Sự ngu dại vốn buộc vào lòng con trẻ; Song roi răn phạt sẽ làm cho sự ấy lìa xa nó.

(Châm ngôn 22:15)

 

Người nào kiêng roi vọt ghét con trai mình; Song ai thương con ắt cần lo sửa trị nó.

(Châm ngôn 13:24)

 

Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con ta. Nếu nó phạm tội ác, tất ta sẽ sửa phạt nó bằng roi và thương vít loài người.

(2 Sa-mu-ên 7:14)

 

Con cái có bổn phận tôn kính, vâng phục, và chăm sóc cha mẹ (đã trình bày trong bài giảng Hãy hiếu kính cha mẹ).

 

– Vợ & chồng:

 

Chồng phải yêu thương vợ như Đấng Christ yêu thương và hy sinh cho Hội Thánh. Vợ phải vâng phục chồng như Hội Thánh vâng phục Đấng Christ.

 

Chồng phải làm hết bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền tự chủ về thân mình, bèn là chồng; chồng cũng vậy, không có quyền tự chủ về thân mình bèn là vợ.

(1 Cô-rinh-tô 7:3-4)

 

Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội thánh, Hội thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Cứu Chúa của Hội thánh.

Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh.

(Ê-phê-sô 5:23-25)

 

– Người chăn & chiên:

 

Người chăn hết lòng chăm sóc bầy chiên, làm gương cho bầy chiên và vì chiên mà phó sự sống mình. Chiên chia xẻ tài sản vật chất của mình cho người chăn.

 

Hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em; làm việc đó chẳng phải bởi ép tình, bèn là bởi vui lòng, chẳng phải vì lợi dơ bẩn, bèn là hết lòng mà làm, chẳng phải quản trị phần trách nhậm chia cho anh em, song để làm gương tốt cho cả bầy.

(1 Phi-e-rơ 5:2-3)

 

Người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình.

(Giăng 10:11)

 

Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy đó.

(Ga-la-ti 6:6)

 

2. Trách nhiệm

 

3. Tình cảm

 

Dùng cân gian và trái cân giả với Đức Chúa Trời

 

Ta có những cân gian và trái cân giả dối trong bao, thì Ta sao được tinh sạch?

(Mi-chê 6:11)

 

Con dân của Chúa cũng có thói quen sử dụng cân gian và trái cân giả với Chúa trong sự:

 

– dâng hiến

 

Mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra, không phải phàn nàn hay vì ép uổng; vì Đức Chúa Trời yêu kẻ thí của cách vui lòng.

(2 Cô-rinh-tô 9:7)

 

Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.

(Rô-ma 12:1)

– phục vụ

 

Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.

(1 Cô-rinh-tô 15:58)

 

Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật.

(2 Ti-mô-thê 2:15)

 

Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta,

(Cô-lô-se 3:23)

 

Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy. Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa.

(Ma-thi-ơ 25:40-45)

 

 

– hứa nguyện

 

Khi một người nào có hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va, hoặc phát thề buộc lấy lòng mình phải giữ một sự gì, thì chớ nên thất tín. Mọi lời ra khỏi miệng người, người phải làm theo.

(Dân Số Ký 30:3)

 

Khi ngươi hứa nguyện cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, thì chớ trì hoãn làm cho xong; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi hẳn sẽ đòi sự hoàn nguyện ấy; bằng chẳng làm cho xong, ngươi sẽ mang lấy tội. Nhưng nếu ngươi không hứa nguyện, thì không phạm tội. Khi môi ngươi đã hứa cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi một sự hứa nguyện lạc ý, thì khá cẩn thận làm trọn lời ra khỏi miệng mình đó.

(Phục Truyền Luật Lệ Ký 23:21-23)

 

Hãy dâng sự cảm tạ làm của lễ cho Đức Chúa Trời, Và trả sự hứa nguyện ngươi cho Đấng Chí cao.

(Thi Thiên 50:14)

 

Kết luận

 

Cách thức chúng ta cư xử với ngưòi khác và với Chúa sẽ được Đức Chúa Trời báo trả xứng đáng.

 

Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy.
(Ga-la-ti 6:7).

 

Mắt Ta chẳng đoái tiếc ngươi, Ta chẳng thương xót ngươi đâu. Ta sẽ tùy theo đường lối ngươi báo trả ngươi, sự gớm ghiếc ngươi sẽ ở giữa ngươi. Các ngươi sẽ biết rằng chính Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng đánh phạt.

(Ê-xê-chi-ên 7:9)

Share This:

A. W. Tozer: Chúa Phán với Người Quan Tâm

2,445 views

A. W. Tozer

Thánh Kinh được viết trong nước mắt và đào sâu vào đó sẽ tìm được những kho báu tuyệt diệu nhất. Đức Chúa Trời không có gì để nói với con người phù phiếm.

Chính Môi-se, một người đang run rẩy, được nghe Đức Chúa Trời phán trên núi, và cũng chính ông là người sau này đã giải cứu cả đất nước khi ông sấp mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời với một của lễ để xin Ngài xóa tên ông khỏi sách của Ngài vì lợi ích của dân I-sơ-ra-ên. Lần kiêng ăn cầu nguyện dài ngày của Đa-ni-ên đã đưa Gáp-ri-ên từ thiên đàng đến để nói với ông về bí mật của các thế kỷ. Khi Giăng, một người rất được yêu mến, khóc dầm dề vì không có ai xứng đáng để mở cuốn sách có bảy ấn, thì một trong số những trưởng lão đã an ủi ông bằng một tin vui rằng Sư Tử của chi phái Giu-đa đã chiến thắng.

Những người viết thánh thi thường viết trong nước mắt, các nhà tiên tri khó có thể che đậy lòng phiền muộn của mình, và Sứ Đồ Phao-lô trong một lá thư đầy sự vui mừng gởi cho người Phi-líp đã đổ nước mắt khi ông nghĩ đến những người là kẻ thù của thập giá Đấng Christ và kết cuộc của họ là sự hủy diệt. Những nhà lãnh đạo Cơ-đốc đã làm rung chuyển thế giới là những người có lòng sầu não, những người mà lời chứng của họ cho cả nhân loại xuất phát từ cõi lòng phiền muộn, nặng gánh lo âu: Không hề có chút sức mạnh nào trong bản thân những giọt nước mắt, nhưng những giọt nước mắt và sức mạnh nằm sát cạnh nhau trong Hội Thánh đầu tiên.

Thật không phải là một ý tưởng đáng để yên lòng khi nhận ra rằng các tác phẩm của những nhà tiên tri mòn mỏi vì buồn phiền thường được nghiền ngẫm bởi những người thích thú chỉ vì tò mò và những người chẳng bao giờ đổ một giọt nước mắt nào vì những tai ương của thế giới này. Họ có sự tò mò về thời gian biểu của những sự kiện trong tương lai, mà quên rằng mục đích lớn của lời tiên tri trong Thánh Kinh là để chuẩn bị chúng ta về phương diện đạo đức cũng như thuộc linh cho thì giờ sắp đến.

Ngày nay, giáo lý về sự trở lại của Đấng Christ đã bị xao lãng, ít nhất là trên lục địa Bắc Mỹ, và như những gì tôi nhận thấy, khiến cho trong hàng ngũ các Cơ-đốc nhân tin vào Thánh Kinh không còn một chút sức mạnh nào. Về vấn đề này, theo như điều tôi tin, có thể có vài yếu tố góp phần, nhưng cái chủ yếu là lẽ thật của những lời tiên tri đã phải chịu đựng sự rủi ro giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, khi mà những con người không có nước mắt đảm trách việc hướng dẫn chúng ta vào các tác phẩm của những nhà tiên tri thánh chứa chan nước mắt. Những đám đông khổng lồ và những của dâng to lớn bởi đó mà ra cho đến khi thực tế chứng minh rằng các giáo viên đã sai lầm ở quá nhiều điểm; rồi thì phản ứng nổ ra và lời tiên tri mất đi thiện ý nơi mọi người. Đây là một cú lừa tinh xảo của ma quỷ: nó thực hiện quá hiệu quả. Chúng ta nên và phải học biết rằng chúng ta không thể luận giải những điều thánh khiết một cách bất cẩn mà không vướng phải những hậu quả nghiêm trọng.

Những con người không có nước mắt cũng đã gây nên mối nguy hại khôn tả cho chúng ta trong một lĩnh vực khác: cầu nguyện cho người bệnh. Luôn luôn có những con người kính sợ, nghiêm túc khi cảm biết nhiệm vụ thánh khiết của họ là cầu nguyện cho người bệnh để họ được chữa lành theo ý muốn Đức Chúa Trời. Người ta nói về Spurgeon rằng những lời cầu nguyện của ông đã vực dậy nhiều người bệnh hơn bất cứ sự chữa trị nào của các bác sĩ ở Luân Đôn. Khi những người lãnh đạo không có nước mắt tóm lấy giáo lý, nó đã bị biến thành một cái vợt sinh lợi. Những con người dịu dàng, đầy sức thuyết phục đã dùng các phương pháp tối ưu của nghệ thuật bán hàng để tạo nên những của cải ấn tượng từ các chiến dịch của họ. Những nông trại lớn và những món đầu tư tài chính khổng lồ của họ chứng minh họ đã thành công như thế nào trong việc tách rời người bệnh và tiền bạc của mình. Và điều này được làm trong danh của Đấng từng trải sự buồn bực, Đấng không có chỗ gối đầu!

Cái gì được thực hiện mà không có tấm lòng là cái được thực hiện trong bóng tối bất luận việc nó có vẻ phù hợp với Thánh Kinh như thế nào đi nữa. Bởi luật đền bù công bình, tấm lòng của những người hay đùa giỡn với tôn giáo sẽ bị hủy diệt trong sự sáng chói lọi của lẽ thật mà anh ta chạm vào. Những con mắt không giọt lệ cuối cùng sẽ bị mù vì chính ánh sáng mà chúng nhìn vào. Chúng ta, những người thuộc về các Hội Thánh không mang tính nghi lễ, có khuynh hướng nhìn vào những Hội Thánh tiến hành một hình thức thờ phượng đã được cẩn thận lên chương trình với một thái độ khinh khỉnh, và chắc chắn phải có một cái gì đó tốt bên trong những buổi thờ phượng như thế, mà điều này có ít hoặc không có chút ý nghĩa nào đối với một người tham dự bình thường – điều này không phải là do nó được lên chương trình cẩn thận mà là vì chính bản chất của những người tham dự bình thường. Nhưng tôi đã quan sát và thấy rằng những bài giảng ứng khẩu quen thuộc của chúng ta, được nhà lãnh đạo làm dàn ý 20 phút trước đó, thường có khuynh hướng đi theo một trật tự rời rạc và mệt mỏi, gần như được tiêu chuẩn hóa rất thành công. Ít nhất những bài giảng mang tính lễ nghi cũng đẹp vậy; còn của chúng ta thì thường là xấu xí. Những bài giảng của họ đã được cẩn thận vạch ra từ hàng thế kỷ để nắm bắt cái vẻ đẹp càng nhiều càng tốt, và để duy trì một tinh thần kính sợ giữa vòng những người thờ phượng. Còn của chúng ta thường là những bài giảng tạm bợ, ứng khẩu, không có gì đáng lưu tâm. Cái gọi là quyền tự do thường không tự do chút nào, mà thay vào đó là tính lười biếng cẩu thả.

Lý thuyết là ở chỗ cho rằng nếu buổi nhóm không có chương trình thì Thánh Linh sẽ tự do hành động, và điều này là thật nếu tất cả những người thờ phượng đều là những người kính sợ Chúa và đầy dẫy Thánh Linh. Nhưng hầu hết đều không có trật tự, cũng chẳng có Thánh Linh, buổi nhóm chỉ là một buổi cầu nguyện thường lệ, ngoại trừ một số thay đổi nhỏ, chúng giống như nhau từ tuần này sang tuần khác, với một số ít bài hát mở đầu cũng không có gì nhiều, vả lại, từ lâu lắm rồi, nó đã mất đi tất cả mọi ý nghĩa bởi sự lập lại vô nghĩa.Trong phần lớn những buổi nhóm của chúng ta, hiếm khi có dấu hiệu của một ý tưởng tôn kính, không có biểu hiện của sự hiệp nhất trong Thân Thể, chỉ có chút ít cảm giác về Sự Hiện Diện Thánh, không có giây phút nào yên tĩnh, không có tính trang nghiêm, không có điều kỳ diệu, cũng không có sự kính sợ thánh. Nhưng thường lại có hoặc một người uể oải hay một người hoạt bát với những câu bông đùa bất khiết lên hướng dẫn hát, cũng như một trưởng ban nào đó lên thông báo từng “con số” cùng với những tiếng sột soạt phát ra từ cái máy tăng âm cũ kỹ trong một nỗ lực để gắn liền mọi thứ lại với nhau.

Cả gia đình Cơ Đốc đang cố gắng một cách tuyệt vọng trong nhu cầu khôi phục lại lòng ăn năn, khiêm nhường và nước mắt. Xin Chúa sớm gởi chúng đến.

A.W. Tozer

 

Share This:

Hãy giữ kẻo ngã

2,308 views

Những lý do khiến cho bị ngã

1. Yêu mến thế gian và những sự thuộc về thế gian

– Yêu mến thế gian
– Yêu người thân hơn yêu Chúa
– Yêu mến tội lỗi

Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy. Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra. Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời.
(1 Giăng 2:15-17)

2. Nghi ngờ

– Nghi ngờ sự chân thật của lời Chúa
– Nghi ngờ sự thành tín của Chúa
– Nghi ngờ quyền năng của Chúa

Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.
(Hêbơrơ 11:6)

3. Kiêu ngạo

– Xem mình là tôn trọng hơn người khác
– Xem mình là thánh khiết hơn người khác
– Xem mình là hiểu biết hơn người khác

Phàm ai có lòng kiêu ngạo lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va; Quả thật nó sẽ chẳng được khỏi bị phạt.
(Châm ngôn 16:5)

Kết luận

Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời.
(Galati 6:7-8)

Share This:

Khung cửa hẹp

2,403 views

1. Cửa rộng

 

Cửa rộng thường liên kết với đường rộng. Đường rộng thì dễ đi, cửa rộng thì dễ vào cho nên có nhiều người bước đi trên đường rộng để vào cửa rộng. Người ta có thể mang theo tất cả những gì mình ưa thích để đi trên đường rộng và vào cửa rộng.

 

Nhưng "cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất": "Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết." (Châm Ngôn 14:12).

 

Đường rộng tức là lối sống theo sự khôn ngoan của đời này, được trình bày qua các chủ nghĩa, triết lý, tôn giáo… Cửa rộng tức là cửa của hỏa ngục, cửa của sự chết!

 

2. Cửa hẹp

 

Cửa hẹp và đường chật đương nhiên là khó đi và khó vào. Người đi trên đường chật và vào cửa hẹp phải bỏ hết những gì có thể làm cản trở hành trình của mình. Rất ít người đi trên đường chật và vào cửa hẹp, bởi vì phải hết lòng tìm kiếm thì mới thấy được đường chật dẫn đến cửa hẹp: "Nhưng trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài." (Ma-thi-ơ 6:33).

 

"Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.": Tại đó sẽ có một đường cái, và một lối gọi là đường thánh. Kẻ nào ô uế sẽ không được đi qua; song nó sẽ dành cho những người được chuộc. Ai đi trong đường đó, dầu khờ dại cũng không lầm lạc. Trên đường đó không có sư tử, không có một thú dữ nào lên; chẳng ai gặp nó ở đó. Song những kẻ được chuộc sẽ bước đi đường ấy." (Ê-sai 35:8-9).

 

Đường chật tức là Đấng Christ, dẫn đến Đức Chúa Cha, là sự sống đời đời: "Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống, chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha" (Giăng 14:6). Cửa hẹp cũng chính là Đấng Christ: "Ta là cái cửa: nếu ai bởi Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi." (Giăng 10:9).

 

 

3. Điều kiện để vào cửa hẹp

 

– liều mình

– vác thập tự giá

 

"Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo Ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta." (Ma-thi-ơ 16:24, Mác 8:34).

 

Kết luận

 

"Hãy gắng sức vào cửa hẹp, vì, Ta nói cùng các ngươi, nhiều người sẽ tìm cách vào mà không vào được." (Lu-ca 13:24).

 

Gắng sức ở đây có nghĩa là thoát bỏ tất cả những gì thuộc về thế gian này làm vương vấn chúng ta, khiến chúng ta không thể bước đi trên con đường chật, không thể vào khung cửa hẹp: "Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta." (Hê-bơ-rơ 12:1).

Share This:

A. W. Tozer: Thập Giá Cũ và Mới

2,449 views

A. W. Tozer

Trong thời đại ngày nay đã có một thập giá mới xuất hiện cách âm thầm, không ai nhận biết trong vòng những nhà truyền giáo. Nó có vẻ vẫn giống thập giá cũ nhưng thực chất lại khác vì chỉ giống ở vỏ bề ngoài nhưng khác về bản chất sâu xa bên trong.

Thập giá mới này đã cho ra một triết lý mới của đời sống Cơ-đốc nhân, và triết lý mới đó dẫn tới một cách truyền giảng mới, nghĩa là giảng lời Chúa theo kiểu mới và nhóm lại với nhau theo kiểu mới. Ngôn ngữ để truyền giảng Phúc Âm mới này xem chừng vẫn là ngôn ngữ cũ nhưng nội dung của nó đã thay đổi và trọng tâm cũng khác xưa.

Thập giá cũ chẳng có gì chung với thế gian. Nó chấm dứt mọi điều thuộc về xác thịt kiêu ngạo của A-đam. Nó thi hành bản án đã tuyên của bộ luật ban hành tại Si-na-i. Còn thập giá mới không chống đối loài người; mà ngược lại, nó là một người bạn thân thiện và, nếu được hiểu đúng, nó là cội nguồn của vô số trò vui “sạch sẽ” cũng như những sở thích “vô tội.” Nó để cho A-đam sống mà không can thiệp chi cả. Ðộng cơ sống của anh ta không hề thay đổi; anh ta vẫn sống vì sở thích riêng của mình, chỉ có điều giờ đây anh thấy vui trong việc hát hợp xướng và xem những phim tôn giáo thay vì hát những bài hát xấu xa và nốc rượu mạnh. Tóm lại, cuộc đời vẫn lấy vui chơi thỏa thích là chính, mặc dù niềm vui cao cấp hơn về mặt đạo đức hay nói đúng hơn là về mặt trí tuệ.

Thập giá mới khuyến khích một phương cách truyền giảng khác lạ hoàn toàn. Người truyền đạo không còn giảng rằng phải từ bỏ đời sống cũ để nhận lãnh đời sống mới nữa. Không còn giảng rằng phải đối nghịch với đời sống cũ mà lại giảng hãy sống tương tự như cũ. Người truyền giảng tìm cách làm thế gian quan tâm qua việc trình bày rằng Cơ-đốc Giáo không hề đòi hỏi những điều làm người thế gian khó chịu, ngược lại Cơ Đốc giáo mang đến cùng những điều mà thế gian mang đến, chỉ là ở cấp bậc cao hơn. Tóm lại, ngày nay, thế gian mê đắm tội lỗi này yêu thích điều gì thì phúc âm cung cấp điều ấy, có điều sản phẩm tôn giáo chất lượng hơn mà thôi.

Thập giá mới không tiêu diệt tội nhân, nó chỉ chỉnh hướng anh ta. Nó thúc đẩy anh đi vào một con đường sống sạch sẽ hơn, vui vẻ hơn và giúp cứu vãn sự tự trọng của anh. Ðối với những người luôn muốn khẳng định mình, nó nói, “Hãy đến và khẳng định mình cho Ðấng Christ.” Ðối với những người ích kỷ, nó nói, “Hãy đến và khoe mình trong Chúa.” Ðối với những người tìm kiếm cảm giác mạnh, nó nói, “Hãy đến và tận hưởng cảm xúc mạnh mẽ tình ái hữu Cơ-đốc.” Sứ điệp Cơ-đốc chạy theo mốt hầu mong được công chúng chấp nhận.

Triết lý ẩn đằng sau điều này có thể chân thành, nhưng sự chân thành không cứu nó khỏi bị sai trật. Nó sai vì nó mù quáng. Nó đánh mất toàn bộ ý nghĩa của thập giá.

Thập giá cũ là một biểu tượng của sự chết. Nó biểu trưng cho sự kết thúc đột ngột và đau đớn của một con người. Trong thời kỳ La Mã Ðế Quốc, con người phải chia tay vĩnh biệt bạn bè trước khi mang thập giá mình ra đi vì hiểu rằng một khi đặt thập giá lên vai là một đi không trở lại. Anh đang bước ra để chấm dứt cuộc đời. Thập giá không thỏa hiệp, không phải để điều chỉnh mà là để tiêu diệt tất cả; nó giết chết con người, trọn vẹn và mãi mãi. Nó không chừa cho nạn nhân của nó bất cứ đường lui nào.Nó tra tấn anh ta dữ dội và tàn khốc. Sau khi nó hoàn tất công việc, con người chết hoàn toàn.

Chủng tộc A-đam đang ở dưới bản án tử hình. Không hề có sự thay thế nào và cũng chẳng có lối thoát nào. Ðức Chúa Trời không thể chấp nhận bất cứ bông trái nào của tội lỗi, bất luận chúng có vẻ vô tội ra sao hay đẹp đẽ trước mắt con người như thế nào. Chúa cứu một cá nhân bằng cách thanh toán chính anh ta và rồi khiến anh sống lại trong đời mới.

Truyền bá Phúc Âm mà vẽ ra con đường dễ chịu, trung dung giữa đường lối của Ðức Chúa Trời và đường lối con người là sai với quan điểm Kinh Thánh và nguy hại cho linh hồn của người nghe. Ðức tin của Ðấng Christ không chấp nhận đi song song với thế gian mà là dứt bỏ thế gian. Ðến với Ðấng Christ, chúng ta không mang theo đời sống cũ để nâng lên một tầm cao hơn; chúng ta phải quăng bỏ đời sống cũ ấy tại thập giá. Hột giống lúa mì phải rơi vào trong đất và chết đi.

Chúng ta, những người rao giảng Phúc Âm, không được phép nghĩ mình như nhân viên quan hệ công chúng, được sai đến để xây dựng một mối quan hệ dễ chịu giữa Đấng Christ và thế gian. Chúng ta không được phép tưởng rằng mình được ủy nhiệm để làm cho thương giới, báo giới, thể thao giới hay nền giáo dục hiện đại chấp nhận Đấng Christ. Chúng ta không phải là những nhà ngoại giao bèn là những tiên tri; và sứ điệp của chúng ta không phải là một sự thỏa hiệp, bèn là một tối hậu thư.

Ðức Chúa Trời ban sự sống, nhưng không phải là một sự sống cũ được cải thiện. Sự sống Ngài ban là một sự sống mới đi ra từ cái chết. Sự sống đó ở phía bên kia của thập giá. Bất kỳ ai muốn được nó phải trải qua sự trừng phạt. Phải từ bỏ chính mình và phải chịu bản án công bình của Ðức Chúa Trời.

Nhưng với một người, vốn đã bị lên án tử, bây giờ muốn tìm kiếm sự sống trong Đức Chúa Jesus Christ thì điều ấy nghĩa là gì? Phải vượt qua thập giá, phải chịu hình phạt…đó là cách nói thần học, nhưng làm thế nào chuyển lý thuyết thần học đó thành sự sống? Thật đơn giản, con người ấy hãy ăn năn và tin. Anh ta phải từ bỏ tội lỗi của mình và tiến đến từ bỏ chính mình. Không che đậy, không phòng thủ, không bào chữa bất cứ điều gì. Anh ta không được tìm phương mặc cả, thỏa thuận với Thiên Chúa mà phải cúi đầu trước đòn trách phạt lạnh lùng nghiêm khắc của Thiên Chúa và nhận biết rằng mình đáng chết.

Làm xong điều này, hãy để anh nhìn lên với một niềm tin đơn sơ nơi Cứu Chúa đã sống lại, và từ nơi Ngài sẽ tuôn tràn ra sự sống, sự tái sanh, sự tẩy sạch và quyền năng. Thập giá ngày trước đã giết chết cuộc sống của Jesus nơi trần thế thì bây giờ cũng kết liễu sự sống của tội nhân; quyền năng trước đó đã vực Đấng Christ từ cõi chết sống lại bây giờ cũng vực tội nhân từ kẻ chết vào thằng sự sống mới với Đấng Christ.

Nếu ai phản đối hoặc cho rằng điều tôi vừa trình bày đây chỉ là một góc nhìn hẹp hòi mang tính cá nhân đối với chân lý thì cho tôi tuyên với người ấy rằng Đức Chúa Trời đã đóng ấn chấp thuận của Ngài trên sứ điệp này từ thời Phao-lô cho đến tận ngày nay. Bất chấp những lời của tôi ở đây có lột tả được nó hay không thì sứ điệp này vẫn là nội dung của mọi sự rao giảng đã đưa đến sự sống và sức mạnh cho thế giới qua bao thế kỷ. Người truyền đạo dù là ở hệ phái nào, thần bí hay cải chánh hay phấn hưng, cũng đều đặt trọng tâm truyền giảng tại sứ điệp này và những dấu kỳ, phép lạ, việc quyền năng của Đức Thánh Linh đã làm chứng cho sự chấp thuận của Đức Chúa Trời.

Lẽ nào chúng ta, những kẻ thừa hưởng gia tài quyền năng, lại dám giả mạo chân lý nầy? Chúng ta, với những mẩu bút chì nhỏ bé của mình lại dám xóa đi bản thiết kế hay chỉnh sửa kiểu mẫu mà Chúa đã ban cho chúng ta trên núi? [1] Đức Chúa Trời cấm điều đó. Chúng ta hãy rao giảng về thập giá cũ và sẽ được chứng nghiệm quyền năng ngày trước.

 A.W. Tozer

[1] Ý tác giả muốn nói: Trên núi Gô-gô-tha, cái chết của Đấng Christ đã thiết lập ý nghĩa của thập tự giá trong đức tin của Cơ-đốc nhân.

 

THE OLD CROSS AND THE NEW

ALL UNANNOUNCED AND MOSTLY UNDETECTED there has come in modern times a new cross into popular evangelical circles. It is like the old cross, but different: the likenesses are superficial; the differences, fundamental.

From this new cross has sprung a new philosophy of the Christian life, and from that new philosophy has come a new evangelical technique—a new type of meeting and a new kind of preaching. This new evangelism employs the same language as the old, but its content is not the same and its emphasis not as before.

The old cross would have no truck with the world. For Adam’s proud flesh it meant the end of the journey. It carried into effect the sentence imposed by the law of Sinai. The new cross is not opposed to the human race; rather, it is a friendly pal and, if understood aright, it is the source of oceans of good clean fun and innocent enjoyment. It lets Adam live without interference. His life motivation is unchanged; he still lives for his own pleasure, only now he takes delight in singing choruses and watching religious movies instead of singing bawdy songs and drinking hard liquor. The accent is still on enjoyment, though the fun is now on a higher plane morally if not intellectually.

The new cross encourages a new and entirely different evangelistic approach. The evangelist does not demand abnegation of the old life before a new life can be received. He preaches not contrasts but similarities. He seeks to key into public interest by showing that Christianity makes no unpleasant demands; rather, it offers the same thing the world does, only on a higher level. Whatever the sin-mad world happens to be clamoring after at the moment is cleverly shown to be the very thing the gospel offers, only the religious product is better.

The new cross does not slay the sinner, it redirects him. It gears him into a cleaner and jollier way of living and saves his self-respect. To the self-assertive it says, “Come and assert yourself for Christ.” To the egotist it says, “Come and do your boasting in the Lord.” To the thrillseeker it says, “Come and enjoy the thrill of Christian fellowship.” The Christian message is slanted in the direction of the current vogue in order to make it acceptable to the public.

The philosophy back of this kind of thing may be sincere but its sincerity does not save it from being false. It is false because it is blind. It misses completely the whole meaning of the cross.

The old cross is a symbol of death. It stands for the abrupt, violent end of a human being. The man in Roman times who took up his cross and started down the road had already said good-by to his friends, He was not coming back. He was going out to have it ended. The cross made no compromise, modified nothing, spared nothing; it slew all of the man, completely and for good. It did not try to keep on good terms with its victim. It struck cruel and hard, and when it had finished its work, the man was no more.

The race of Adam is under death sentence. There is no commutation and no escape. God cannot approve any of the fruits of sin, however innocent they may appear or beautiful to the eyes of men. God salvages the individual by liquidating him and then raising him again to newness of life.

That evangelism which draws friendly parallels between the ways of God and the ways of men is false to the Bible and cruel to the souls of its hearers. The faith of Christ does not parallel the world, it intersects it. In coming to Christ we do not bring our old life up onto a higher plane; we leave it at the cross. The corn of wheat must fall into the ground and die.

We who preach the gospel must not think of ourselves as public relations agents sent to establish good will between Christ and the world. We must not imagine ourselves commissioned to make Christ acceptable to big business, the press, the world of sports or modern education. We are not diplomats but prophets, and our message is not a compromise but an ultimatum.

God offers life, but not an improved old life. The life He offers is life out of death. It stands always on the far side of the cross. Whoever would possess it must pass under the rod. He must repudiate himself and concur in God’s just sentence against him.

What does this mean to the individual, the condemned man who would find life in Christ Jesus? How can this theology be translated into life? Simply, he must repent and believe. He must forsake his sins and then go on to forsake himself. Let him cover nothing, defend nothing, excuse nothing. Let him not seek to make terms with God, but let him bow his head before the stroke of God’s stern displeasure and acknowledge himself worthy to die.

Having done this let him gaze with simple trust upon the risen Saviour, and from Him will come life and rebirth and cleansing and power. The cross that ended the earthly life of Jesus now puts an end to the sinner; and the power that raised Christ from the dead now raises him to a new life along with Christ.

To any who may object to this or count it merely a narrow and private view of truth, let me say God has set His hallmark of approval upon this message from Paul’s day to the present. Whether stated in these exact words or not, this has been the content of all preaching that has brought life and power to the world through the centuries. The mystics, the reformers, the revivalists have put their emphasis here, and signs and wonders and mighty operations of the Holy Ghost gave witness to God’s approval.

Dare we, the heirs of such a legacy of power, tamper with the truth? Dare we with our stubby pencils erase the lines of the blueprint or alter the pattern shown us in the Mount? May God forbid. Let us preach the old cross and we will know the old power.

 A.W. Tozer

 

 

Share This:

Sự Bình an trong Chúa

2,515 views

1. Sự bình An thật đến từ Chúa:

 

Đức Giê-hô-va sẽ ban sức mạnh cho dân sự Ngài; Đức Giê-hô-va sẽ xuống phước bình an cho dân sự Ngài. (Thi Thiên 29:1).

 

Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ lập sự bình an cho chúng tôi; vì mọi điều chúng tôi làm, ấy là Ngài làm cho! (Ê-sai 26:12).

 

Ấy chính ta là Đấng gây nên sự sáng và dựng nên sự tối tăm, làm ra sự bình an và dựng nên sự tai vạ; chính ta, là Đức Giê-hô-va, làm mọi sự đó. (Ê-sai 45:7).

 

2. Kẻ ác không thể hưởng được bình an:

 

Những người ác chẳng hưởng sự bình an bao giờ, Đức Giê-hô-va phán vậy. (Ê-sai 48:2).

 

Đức Chúa Trời ta đã phán: Những kẻ gian ác chẳng hưởng sự bình an. (Ê-sai 57:21).

 

Họ không biết đường bình an, trong đường họ đi không có sự công nghĩa. Họ tự làm những lối quanh queo: ai đi trong đó thì chẳng biết sự bình an! (Ê-sai 59:8).

 

3. Sự bình an thật đã được Đấng Christ ban cho chúng ta:

 

Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. (Ê-sai 53:5).

 

Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi. (Giăng 14:27).

 

4. Sự bình an thật của Đức Chúa Trời chu toàn mọi nhu cầu của chúng ta:

 

Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ. (Phi-líp 4:6-7).

 

Kết luận:

 

Chúa đã ban sự bình an của Ngài cho chúng ta. Để được luôn luôn ở trong sự bình an của Chúa, chúng ta phải bước đi theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh:

 

Than ôi! ước gì ngươi đã để ý đến các điều răn ta! thì sự bình an ngươi như sông, và sự công bình ngươi như sóng biển. (Ê-sai 48:18).

 

Vả, chăm về xác thịt sanh ra sự chết, còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an. (Rô-ma 8:6).

Share This:

Vui mừng trong mọi cảnh ngộ

2,584 views

1. Vui mừng là sự ban cho của Chúa

Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. (Ga la ti 5:22).

2. Sự vui mừng của Chúa đến với chúng ta qua Lời của Ngài

Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì tôi được xưng bằng danh Ngài! (Giê rê mi 15:16).

Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa. (Thi Thiên 19:8)

3. Sự vui mừng Chúa ban là sự vui mừng trọn vẹn

Như Cha đã yêu thương ta thể nào, ta cũng yêu thương các ngươi thể ấy; hãy cứ ở trong sự yêu thương của ta. Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài. Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta trong các ngươi, và sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn. (Giăng 15:9-11).

Đến bây giờ, các ngươi chưa từng nhơn danh ta mà cầu xin điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn. (Giăng 16:24).

4. Chúng ta vui mừng vì được ở trong sự nhơn từ của Chúa

Tôi sẽ vui mừng và khoái lạc bởi sự nhơn từ của Chúa; Vì Chúa đã đoái đến sự hoạn nạn tôi, biết nỗi sầu khổ linh hồn tôi. (Thi Thiên 31:7).

5. Chúng ta vui mừng khi làm theo lời của Chúa

Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi. (Thi Thiên 40:8).

6. Chúng ta vui mừng khi thờ phượng Chúa

Bấy giờ tôi sẽ đi đến bàn thờ Đức Chúa Trời, Tức đến cùng Đức Chúa Trời, là sự rất vui mừng của tôi: Hỡi Chúa, là Đức Chúa Trời tôi, tôi sẽ lấy đờn cầm mà ngợi khen Chúa. (Thi Thiên 43:4).

7. Chúng ta vui mừng khi hầu việc Chúa

Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài. (Thi Thiên 100:2).

8. Chúng ta vui mừng trong mọi cảnh ngộ

Hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhịn nhục trong sự hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện. (Rô ma 12:22).

Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn. (Gia cơ 1:2).

Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót. (1 Phi erơ 4:13).

9. Chúng ta vui mừng vì biết chắc Chúa sẽ trở lại với chúng ta

Khác nào như các ngươi hiện ở trong cơn đau đớn, nhưng ta sẽ lại thấy các ngươi, thì lòng các ngươi vui mừng, và chẳng ai cướp lấy sự vui mừng các ngươi được. (Giăng 16:22).

10. Vui mừng là một mệnh lệnh và là năng lực Chúa ban

Hãy vui mừng mãi mãi. (1 Tê sa lô ni ca 5:16).

Lòng vui mừng vốn một phương thuốc hay; Còn trí nao sờn làm xương cốt khô héo. (Châm Ngôn 17:22).

Share This:

Kiêu ngạo và khiêm nhường

3,926 views

I. Định nghĩa:

 

Kiêu ngạo là sự khoe mình quá mức nhằm nâng mình lên trên người khác. Kiêu ngạo là tội lỗi. Satan muốn hơn Đức Chúa Trời, loài người muốn bằng Đức Chúa Trời. Kiêu ngạo thường đi đôi với tham lam và dối trá

 

Khiêm nhường là biết từ bỏ địa vị cao trọng của mình để hòa nhập với người khác hầu có thể nâng họ lên cùng một địa vị với mình. Khiêm nhường còn là nhận biết giá trị thật sự của mình để học tập nơi người hiểu biết hơn mình.

 

 

II. Hậu quả của sự kiêu ngạo:

 

1. Sự kiêu ngạo lừa gạt lòng người:

 

Giê rê mi 49:16

Hỡi ngươi ở trong bộng đá lớn, choán trên đỉnh núi kia, cho mình là đáng sợ, lòng kiêu ngạo đã dối trá ngươi; dầu ngươi lót ổ mình cao như ổ chim ưng, ta cũng làm cho ngươi từ đó rớt xuống, Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

2. Sự kiêu ngạo khiến cho cứng lòng:

 

Đa ni ên 5:20

Nhưng vì lòng người tự cao, và tánh người cứng cỏi, làm một cách kiêu ngạo, nên người bị truất mất ngôi vua và lột hết sự vinh hiển.

 

3. Sự kiêu ngạo gây ra tranh cạnh

 

Châm Ngôn 13:10

Sự kiêu ngạo chỉ sanh ra điều cãi lộn; Còn sự khôn ngoan ở với người chịu lời khuyên dạy."

 

4. Bị Chúa gớm ghiếc, quở trách, rủa sả, chống cự, và đoán phạt.

 

Thi thiên 119:21

Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo, là kẻ đáng rủa sả,

hay lầm lạc các điều răn Chúa.

 

Châm ngôn 16:5

Phàm ai có lòng kiêu ngạo lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va; Quả thật nó sẽ chẳng được khỏi bị phạt.

 

Châm ngôn 16:18

Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau,

Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã.

 

 

Gia-cơ 4:6

Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo,

nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.

 

5. Hay vi phạm các điều răn của Chúa.

 

Thi thiên 119:21

Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo, là kẻ đáng rủa sả,

hay lầm lạc các điều răn Chúa.

 

6. Bị sa ngã, thất bại:

 

Châm ngôn 16:18

Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau,

Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã.

 

III. Phước hạnh của sự khiêm nhường:

 

1. Được Đức Chúa Trời nâng đỡ

 

Thi thiên 147:6

Đức Giê-hô-va nâng đỡ người khiêm nhường, Đánh đổ kẻ ác xuống đất.

 

2. Được Đức Chúa Trời cứu rỗi

 

Thi Thiên 149:4

Vì Đức Giê-hô-va đẹp lòng dân sự Ngài; Ngài lấy sự cứu rỗi trang sức cho người khiêm nhường.

 

3. Được Đức Chúa Trời ban ơn

 

Châm Ngôn 3:34

Quả thật Ngài nhạo báng kẻ hay nhạo báng; Nhưng Ngài ban ơn cho người khiêm nhường.

 

Gia-cơ 4:6

Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo,

nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.

 

4. Được Đức Chúa Trời ở cùng và làm cho tươi tỉnh thần linh

 

Ê-sai 57:15

Đấng cao cả, ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh, có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, với người có lòng ăn năn đau đớn và khiêm nhường, đặng làm tươi tỉnh thần linh của những kẻ khiêm nhường, và làm tươi tỉnh lòng người ăn năn đau đớn.

 

5. Được Đức Chúa Trời sai người giảng Tin Lành

 

Ê-sai 61:1

Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục.

 

6. Được tôn quý trong nước thiên đàng

 

Ma thi ơ 18:4

Vậy, hễ ai trở nên khiêm nhường như đứa trẻ nầy, sẽ là lớn hơn hết trong nước thiên đàng.

 

IV. Bản chất khiêm nhường của một người thật sự ở trong Chúa:

 

1. Bước đi cách khiêm nhường với Chúa

 

Mi chê 6:8

Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?

 

2. Học khiêm nhường từ nơi Chúa

 

Ma thi ơ 11:29

Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ.

 

3. Hầu việc Chúa cách khiêm nhường

 

Công vụ 20:19

tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, phải nhiều nước mắt, và ở giữa sự thử thách mà người Giu-đa đã lập mưu hại tôi.

 

4. Ưa thích sự khiêm nhường

 

Rô ma 12:16

Trong vòng anh em phải ở cho hiệp ý nhau; đừng ước ao sự cao sang, nhưng phải ưa thích sự khiêm nhường. Chớ cho mình là khôn ngoan.

 

5. Khiêm nhường hết mực, xem người khác là tôn trọng hơn mình.

 

Ê phê sô 4:2

Phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau.

 

Phi líp 2:3

Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình.

 

6. mặc lấy sự khiêm nhường

 

Cô lô se 3:12

Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục.

 

Kết luận:

 

Kiêu ngạo là bản chất của con người cũ. Một người thật sự ở trong Chúa sẽ không còn kiêu ngạo. Người đó đã được dựng nên mới. Bản chất của con người mới là khiêm nhường, hạ mình, xem người khác là tôn trọng hơn mình.

Share This:

A. W. Tozer: Cái Nhục Dục và Cái Thuộc Linh

2,561 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Thời kỳ chúng ta đang sống đây có thể được ghi vào lịch sử như là Kỷ Nguyên (của) Nhục Dục (Erotic Age). Tình yêu nhục dục đã được đề cao thành một thần tượng. Ngày nay, thần Ái Tình được nhiều người văn minh tôn thờ hơn là bất cứ vị thần nào khác. Đối với hàng triệu con người, cái nhục dục đã hoàn toàn thay thế cái thuộc linh.

Việc làm thế nào thế giới lâm vào tình trạng này là một điều không mấy khó để phát hiện. Các yếu tố góp phần chính là máy hát và ra-đi-ô, vốn có thể phát một bản tình ca khắp từ nơi này đến nơi khác trong vòng một khoảng thời gian có vài ngày; điện ảnh và truyền hình, vốn có thể khiến toàn bộ số dân (ở một nơi nào đó) dán mắt vào những phụ nữ hấp dẫn và những người đàn ông đa tình đang siết chặt vòng tay (điều này cũng diễn ra ngay trong phòng khách của những gia đình “Cơ Đốc”, ngay trước mắt những trẻ em ngây thơ!); giờ làm việc ngắn hơn và vô số vật dụng máy móc tạo nên thời gian rảnh rỗi nhiều hơn cho mọi người. Thêm vào những điều này là các chiến dịch quảng cáo rầm rộ mà trong đó tình dục là miếng mồi lấp ló thu hút khách hàng trên hầu hết các sản phẩm có thể tưởng tượng ra được; các nhà bình luận thoái hóa, những con người đã đổ dồn cuộc đời mình vào nhiệm vụ quảng bá những con người bất tài, ẻo lả, yếu đuối dưới bộ mặt của các thiên thần và cái luân lý của những người đàn bà nanh ác; những nhà văn viết tiểu thuyết vô lương tâm, những con người đã đạt được sự nổi tiếng và giàu lên từ một việc làm không chút vinh dự: nạo vét những thứ độc hại từ các cống rãnh trong lòng họ để làm nên một trò giải trí cho công chúng. Những điều này cho chúng ta thấy đôi điều về việc làm thế nào thần Ái Tình đã đạt được thắng lợi của mình trên thế giới văn minh.

Bây giờ, nếu vị thần này không động đến các Cơ Đốc nhân, tôi cũng sẽ để yên cho ông ta. Một ngày nào đó cái mớ hỗn độn, hôi hám, lỗ rỗ này sẽ chìm xuống bởi chính sức nặng của mình và trở thành nhiên liệu tuyệt vời cho địa ngục, một sự đền bù công bằng rất thích hợp, và chúng ta sẽ cảm thấy thương hại những con người bị mắc kẹt trong đó. Nước mắt và sự yên lặng có lẽ tốt hơn lời nói nếu mọi thứ khác hơn chính chúng một chút. Nhưng sự sùng bái thần Ái Tình đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến Hội Thánh. Tôn giáo thuần túy của Đấng Christ, vốn tuôn chảy giống như dòng sông pha lê từ trái tim của Đức Chúa Trời, đang bị ô nhiễm bởi những thứ nước ô uế chảy nhỏ giọt từ phía sau những bàn thờ của sự bội đạo xuất hiện trên từng đỉnh đồi và bên dưới những gốc cây xanh khắp từ New York đến Los Angeles.

Sự ảnh hưởng của tinh thần nhục dục được cảm thấy hầu như là ở khắp mọi nơi trong các quỹ đạo Tin Lành. Phần nhiều trong số những lời hát ở một số loại hội họp nào đó chứa đựng sự lãng mạn hơn là nói về Thánh Linh. Cả nhạc và lời đều được viết để kích thích tính dâm đãng. Đấng Christ được thu hút bởi sự gần gũi vốn cho thấy sự không biết Ngài là ai. Đó không phải là sự gần gũi có tính kính sợ của một vị thánh có tấm lòng tha thiết, nhưng là sự gần gũi trơ trẽn của tình yêu thể xác.

Các tiểu thuyết tôn giáo cũng lạm dụng tình dục để thu hút giới độc giả, lời bào chữa mong manh chính là: Nếu sự lãng mạn và tôn giáo được hòa quyện vào trong một câu chuyện, và một con người bình thường vốn không thích đọc các sách tôn giáo thuần túy sẽ đọc câu chuyện và vì thế Phúc Âm sẽ được phơi bày cho người đó. Bỏ sang một bên sự thật là hầu hết các nhà văn viết tiểu thuyết tôn giáo ngày nay đều là những tay nghiệp dư, hiếm khi có một người có thể viết một hàng đơn giản với lối văn thật đẹp, cả quan niệm đằng sau tiểu thuyết lãng mạn tôn giáo có khuyết điểm lớn. Sự thúc đẩy tính dâm đãng và sự cảm động ngọt ngào, sâu xa của Đức Thánh Linh hoàn toàn đối nghịch với nhau. Quan niệm cho rằng thần Ái Tình có thể trở thành một “trợ thủ” cho Đức Chúa Trời vinh hiển là một quan niệm sỉ nhục Ngài. Phim ảnh “Cơ Đốc” lôi kéo người xem bằng cách quay những cảnh yêu đương say đắm trong quảng cáo là một điều hoàn toàn sai trái đối với Tin Lành của Đấng Christ. Chỉ có những kẻ mù lòa thuộc linh mới chấp nhận nó.

Cái mốt hiện tại của vẻ đẹp thể xác và những nhân cách sinh động trong sự thăng tiến (trong) tôn giáo là một biểu hiện khác nữa của sự ảnh hưởng của tinh thần lãng mạn trên Hội Thánh. Sự lãnh đạo nhịp nhàng, nụ cười giả tạo, và giọng nói quá vui vẻ tố cáo cái tôn giáo trần tục. Anh đã học hỏi kỹ xảo của mình qua màn ảnh truyền hình, nhưng chưa học đủ để thành công trong lĩnh vực chuyên nghiệp, vì thế anh mang cái sản phẩm vớ vẩn của mình vào nơi thánh và bán cho những Cơ Đốc nhân ốm đau và nhỏ bé, những người đang tìm kiếm một cái gì đó để hấp dẫn họ đang khi ở trong ranh giới của tôn giáo hiện tại.

Nếu lời tôi nói có vẻ nghiêm trọng quá, thì xin nhớ rằng nó không được viết để hướng về bất cứ cá nhân nào. Hướng về thế giới hư mất của con người, tôi cảm nhận một sự thương cảm sâu xa và một ao ước rằng mọi người sẽ trở lại ăn năn. Vì những Cơ Đốc nhân có sự lãnh đạo mạnh mẽ nhưng sai lầm đã đẩy Hội Thánh hiện tại từ chỗ bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời sang những bàn thờ của sai lầm; tôi cảm nhận một tình yêu thật và sự thông cảm. Tôi muốn là người cuối cùng làm tổn thương họ, nhưng cũng là người đầu tiên tha thứ họ, nhớ lại những tội lỗi của tôi trong quá khứ và nhu cầu cần sự nhơn từ, cũng như sự yếu đuối của riêng tôi cùng với khuynh hướng tội lỗi và sai lầm tự nhiên. Con lừa của Ba-la-am đã được Đức Chúa Trời dùng để quở trách nhà tiên tri. Điều này cho thấy rằng Đức Chúa Trời chẳng cần sự hoàn hảo trong phương tiện Ngài dùng để cảnh cáo và khích lệ dân sự Ngài.

Khi bầy chiên của Đức Chúa Trời lâm vào mối hiểm họa, người chăn không được nhìn vào các ngôi sao và suy nghĩ về những đề tài “gây cảm hứng”. Anh ta, về phương diện đạo đức, bị buộc phải chộp lấy vũ khí của mình và chạy ra bảo vệ bầy chiên. Khi hoàn cảnh đòi hỏi, tình yêu thương có thể dùng lưỡi gươm, dầu vậy, bởi bản chất của mình, nó sẽ hàn gắn những tấm lòng tan vỡ và chăm sóc những người bị thương. Đã đến lúc nhà tiên tri và những người thấy được sự việc phải lên tiếng để người ta nghe và cảm với họ. Trong ba thập kỷ vừa qua, tính rụt rè cải trang dưới sự khiêm tốn đã chui rúc trong góc đang khi mà chất lượng thuộc linh của Phúc Âm Cơ Đốc ngày càng trở nên tệ hơn hết từ năm này sang năm khác. Bao lâu, ôi Chúa ôi, bao lâu?

 

Share This:

Thi Thiên 19:1

1,939 views

"Các tầng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời
Bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm."

(Thi Thiên, Psalm 19:1)

This image resembling Vincent van Gogh's painting, "Starry Night," is an expanding halo of light around a distant star, named V838 Monocerotis (V838 Mon). This Hubble Telescope image was obtained with the Advanced Camera for Surveys on February 8, 2004. Image Credit: NASA, Hubble Heritage Team

Hình chụp gợi nhớ đến tranh vẽ "Starry Night" của Vincent van Gogh này là vùng hào quang tỏa rộng chung quanh một vì sao tên V838 Monocerotis. Hình được chụp bởi Viễn Vọng Kính Hubble với máy ảnh tối tân dùng khảo sát  vào ngày 8 tháng 2 năm 2004.  Nhấp vào | đây | để xem toàn hình.

 

 

 

Đọc Tiếp →

Share This:

Ý Nghĩa Của Tin Lành Cứu Rỗi

2,297 views

Thánh Kinh, là Lời của Đức Chúa Trời, qua đó Ngài bày tỏ tình yêu và sự cứu rỗi của Ngài dành cho nhân loại. Bất cứ ai xưng nhận mình là người có tội, tin nhận Đức Chúa Jesus Christ, là Con Một của Đức Chúa Trời đã nhập thế làm người chết thay cho tội lỗi của nhân loại, thì sẽ được Đức Chúa Trời tha thứ và làm cho người ấy sạch mọi tội lỗi; được Ngài ban cho quyền trở nên con cái của Đức Chúa Trời; và qua khỏi cuộc đời này được sống lại và sống mãi mãi với Ngài trong hạnh phúc.

Đức Chúa Trời tức là Đấng Tạo Hóa mà người Việt chúng ta quen gọi là Ông Trời và tôn thờ Ngài từ bao ngàn năm qua. Ngài tự nhiên có và còn đến đời đời. Ngài là Tình Yêu, Công Chính, và Thánh Khiết.

Vì Ngài là Tình Yêu nên Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên muôn loài vạn vật, xinh đẹp, tuyệt hảo, trong đó có loài người và Ngài ban cho loài người quyền cai trị trái đất cùng muôn vật Ngài đã dựng nên trên đất. Tuy nhiên, loài người đã dùng quyền tự do Chúa ban cho để chống nghịch lại Đức Chúa Trời.

Hậu quả của sự không tin cậy, không vâng lời Đức Chúa Trời đem lại đau khổ và sự chết cho loài người. Sự chết đó bắt đầu bởi sự mất mối giao thông với Đức Chúa Trời nên tâm thần của loài người không còn nhận biết và tôn thờ Ngài đúng cách, không còn được nối tiếp với nguồn của sự sống. Đức Chúa Trời là thánh khiết nên Ngài không thể ngự trong con người tội lỗi. Sự chết trong tâm thần dẫn đến sự chết của linh hồn, khiến linh hồn không còn khả năng yêu thương, không còn khả năng sống công chính… thay vào đó là tác động của tội lỗi, sinh ra: hận thù, ganh ghét, kiêu ngạo, ích kỷ, gian tham, độc ác, v.v. Sự chết của linh hồn dẫn đến việc làm tội lỗi của thể xác và cuối cùng là sự chết của thể xác. Loài người tàn sát lẫn nhau hoặc hậu quả của tội lỗi là thiên tai, bệnh tật, già yếu, v.v. khiến cho thể xác của loài người tàn tạ và tiêu tan, trở về với cát bụi. Đó là sự chết thứ nhất mà chúng ta ai cũng biết và cũng sẽ trải qua!

Đọc Tiếp →

Share This: