Điều Răn: Nước Mỹ và Hình Tượng

3,244 views

I. Tội lỗi của nước Mỹ

Vào ngày 28/10/1886, vào lúc nước Mỹ vừa tròn 110 tuổi, pho tượng “Tự do chiếu sáng toàn thế giới” thường được gọi là “Tượng Nữ Thần Tự Do” do nước Pháp trao tặng nước Mỹ trong tình hữu nghị đã được khánh thành. Pho tượng khổng lồ cao151 feet (46 mét), nặng 150 tấn này tọa lạc trên đảo Ellis thuộc Tiểu Bang New York và New Jersey. Nguồn gốc của tượng “Nữ Thần Tự Do” phát sinh từ huyền thoại Nữ Thần Tự Do của La-mã (Libertas Goddess). Trong 121 năm qua, tượng “Nữ Thần Tự Do” đã trở thành biểu tượng của tự do cho toàn thế giới và biết bao nhiêu di dân đã đến cầu nguyện, dâng hoa, quỳ lạy trước bức tượng này, để cảm tạ sự tự do mà họ tìm được trên đất Mỹ.

Đọc Tiếp →

Share This:

Dọn mình thánh khiết

2,360 views

I. Sự dọn mình của các thầy tế lễ thời Cựu Ước

 

17 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se nữa rằng:

18 Ngươi hãy làm một cái thùng với chân thùng bằng đồng, đặng rửa mình ở trong, rồi để giữa khoảng của hội mạc và bàn thờ, và đổ nước vào.

19 A-rôn cùng các con trai người sẽ rửa tay và chân mình ở trong.

20 Khi họ vào hội mạc sẽ lấy nước rửa mình, hầu cho họ khỏi chết; và khi lại gần bàn thờ đặng phụng sự, tức là xông của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, họ cũng phải giữ như vậy.

21 Thế thì, họ hãy rửa tay và chân, hầu cho khỏi chết. Ấy là một lệ đời đời cho A-rôn, cùng dòng dõi người trải qua các đời.

 

Năm câu Thánh Kinh trên đây ghi lại mệnh lệnh của Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se về việc sắm sẵn một thùng chứa nước bằng đồng làm chỗ rửa mình cho các thầy tế lễ. Thùng chứa nước này được đặt ngay giữa hội mạc. Mỗi ngày hai bận, trước khi các thầy tế lễ vào nơi thánh trong đền tạm để làm đèn và dâng hương cho Đức Giê-hô–va (Xuất Ê-díp-tô Ký 30:7, 8), hoặc mỗi khi vào nơi thánh dâng tế lễ, thì phải rửa tay và chân với nước chứa trong thùng, để khỏi bị chết khi ra mắt Chúa.

Khi từ lều riêng đi đến đền tạm để phục vụ, chắc chắn các thầy tế lễ đã tắm rửa sạch sẽ trước khi mặc lễ phục. Nhưng khi bước vào hội mạc, họ vẫn phải rửa tay và chân trước khi bước vào nơi thánh. Họ phải rửa tay vì tay của họ sắp làm những công tác thờ phượng Chúa như chuẩn bị đèn, thắp đèn, và xông hương, hoặc dâng các sinh tế. Họ phải rửa chân cho sạch hết bụi đường vì họ sắp sửa bước vào nơi thánh. Ngày xưa, Môi-se đã phải cởi giày ra vì vùng đất chung quanh bụi gai cháy đã trở nên thánh bởi sự hiện diện của Chúa ở giữa bụi gai. Ý nghĩa của sự rửa này không chỉ nhằm vào việc tẩy uế tay chân, mà còn mang lấy ý nghĩa về sự tẩy uế thuộc linh mỗi khi chúng ta ra mắt Đức Chúa Trời.

 

II. Địa vị thầy tế lễ của Cơ-đốc nhân

 

Mỗi một Cơ-đốc nhân là một công dân thánh của nước trời và là một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời chí cao:

"Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài." (I Phi-e-rơ 2:9)

"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men." (Khải Huyền 1:6)

 

III. Nhiệm vụ thầy tế lễ của Cơ-đốc nhân

 

Thầy tế lễ của Đức Chúa Trời có nhiệm vụ thờ phượng Chúa qua sự thắp đèn, xông hương, và dâng của tế lễ. Các nghi thức thắp đèn, xông hương, và dâng tế lễ của các thầy tế lễ thời Cựu Ước là hình ảnh về sự chiếu sáng vinh hiển của Đức Chúa Trời, dâng lời cảm tạ, ngợi khen, và dâng chính thân thể mình trong sự thờ phượng Chúa của chúng ta ngày hôm nay.

1. Nghi thức thắp đèn: Thời Cựu Ước, chân đèn tượng trưng cho dân Israel, dầu thắp đèn là điều răn và luật pháp của Chúa, ánh sáng là nếp sống thánh khiết theo điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Thời Tân Ước, chân đèn là Hội Thánh, dầu thắp đèn là lời Chúa, ánh sáng là nếp sống đạo của Cơ-đốc nhân. Vì thế, Đức Chúa Jesus phán:

"14 Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành trên núi thì không khi nào bị khuất được: 15 cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người ta để trên chơn đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà. 16 Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời." (Ma-thi-ơ 5:14-16)

Nhiệm vụ thắp đèn của chúng ta ngày nay là sống theo lời Chúa. Mỗi ý tưởng, lời nói, hành động của chúng ta phải chiếu sáng vinh hiển của Chúa.

"Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm." (I Cô-rinh-tô 10:31)

2. Nghi thức xông hương: Thời Cựu Ước, ngoài những dịp tế lễ, mỗi ngày hai buổi sáng chiều, thầy tế lễ xông hương trong nơi thánh của đền tạm. Hương dùng để xông trong đền tạm là loại hương được bào chế theo chỉ thị của Đức Chúa Trời và không một thức hương nào khác được dùng để dâng lên cho Ngài. Sự dâng hương bày tỏ sự tôn kính và cảm tạ Chúa, nhưng sự tôn kính và cảm tạ này phải được thi hành theo ý Chúa chứ không phải theo ý riêng của loài người. Thức hương đó cũng không được dùng vào việc chi khác hoặc dùng cho loài người. Nghĩa là sự tôn kính và cảm tạ tối cao chỉ có thể dành cho Đức Chúa Trời chứ không thể dành cho ai khác. (Xuất Ê-díp-tô Ký 30:7-8, 34-38). Thời Tân Ước, sự xông hương cho Đức Chúa Trời chính là sự tôn kính và cảm tạ Chúa của chúng ta mỗi ngày. Chúng ta nên xông hương lên Chúa ngày hai bận sáng chiều như các thầy tế lễ thời Cựu Ước. Hãy bắt đầu một ngày mới với lời cầu nguyện tôn vinh và cảm tạ Đức Chúa Trời. Hãy chấm dứt một ngày cũng với lời cầu nguyện tôn vinh và cảm tạ Đức Chúa Trời. (Khải Huyền 5:8)

"Hãy thường thường nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta." (Ê-phê-sô 5:20)

"Mặc dầu anh em nói hãy làm, cũng phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha." (Cô-lô-se 3:17)

"phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy." (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:18)

"Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra." (Hê-bơ-rơ 13:15)

3. Nghi thức dâng tế lễ: Thời Cựu Ước, có ba loại tế lễ khác nhau: tế lễ về sự chuộc tội, tế lễ về sự phục hòa (tế lễ thù ân), và tế lễ tự nguyện. Tế lễ tự nguyện không bị ràng buộc bởi luật pháp, bao gồm tế lễ về sự hứa nguyện, tế lễ về sự cảm tạ, và tế lễ về sự dâng hiến lạc ý. Dâng hiến lạc ý là những sự dâng hiến tỏ lòng tôn kính Chúa. Thời Tân Ước, tế lễ về sự chuộc tội đã được chính Đức Chúa Jesus thực hiện bằng cách dâng chính thân Ngài một lần đủ cả cho sự chuộc tội của toàn thể nhân loại (Hê-bơ-rơ 9:28); tế lễ phục hòa cũng đã được chính Đức Chúa Jesus thực hiện qua sự thiết lập tiệc thánh. Ngày nay, trong địa vị thầy tế lễ, Cơ-đốc nhân chỉ còn dâng các tế lễ tự nguyện: là dâng của lễ cảm tạ sự chăm sóc của Chúa qua sự dâng hiến một phần mười các hoa lợi, dâng của lễ lạc ý bày tỏ lòng yêu kính Chúa qua các sự dâng hiến như dâng hiến tiền bạc, thời gian, công sức cho công tác truyền giáo, và dâng của lễ về sự hứa nguyện của mình với Chúa qua sự dâng hiến chính thân thể mình:

"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em." (Rô-ma 12:1)

"19 Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? 20 Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời." (I Cô-rinh-tô 6:19, 20)

 

Kết luận

 

Vì chúng ta là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời thi hành nhiệm vụ của mình mỗi ngày trước sự hiện diện thánh của Chúa, cho nên chúng ta phải cẩn thận dọn mình trước khi thi hành nhiệm vụ. Ngày xưa, Đức Chúa Jesus phán cùng các sứ đồ rằng, họ đã được trong sạch nhờ vào lời phán của Ngài (Giăng 15:3). Và, trong khi cầu thay cho các sứ đồ, Đức Chúa Jesus đã xin Đức Chúa Cha lấy lẽ thật là lời Chúa làm cho họ được nên thánh (Giăng 17:17). Sứ đồ Phao-lô cũng dạy cho tín đồ Ê-phê-sô biết rằng Đấng Christ đã dùng "đạo để khiến cho Hội Thánh được tinh sạch" (Ê-phê-sô 5:26); và Sứ Đồ Phi-e-rơ đã cho biết "đạo" đó chính là lời hằng sống của Đức Chúa Trời: "Nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là đạo Tin Lành đã giảng ra cho anh em." (I Phi-e-rơ 1:25)

Như vậy, chúng ta cần phải thanh tẩy chính mình mỗi ngày bằng lời của Chúa. Trước khi cầu nguyện, trước khi giảng đạo, trước khi dâng hiến, trước khi tôn vinh, ca ngợi Chúa… nói tóm lại, trưóc khi nhân danh Chúa để làm một điều gì, chúng ta phải nhờ lời Chúa tra xét, tẩy rửa chúng ta để chúng ta không lưu giữ một chút tội lỗi nào trong chúng ta mà vi phạm sự thánh khiết của Chúa. Lời của Chúa sẽ chỉ ra tội lỗi, dẫn chúng ta đến sự ăn năn, và sự ăn năn dẫn chúng ta đến sự được tha tội và được làm cho sạch tội:

"16 Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, 17 hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành. " (II Ti-mô-thê 3:16, 17)

"Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng." (Hê-bơ-rơ 4:12)

"Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác." (I Giăng 1:9)

 

Huỳnh Christian Timothy
11/03/2007

Share This:

Tiêu Chuẩn của Sự Chọn Lựa

2,095 views

Hậu quả của sự chọn lựa


Thánh Kinh ghi lại nhiều hậu quả thảm khốc phát sinh từ sự chọn lựa của loài người. Dưới đây là một vài trường hợp điển hình:

Không vâng lời: Sự chọn lựa ăn trái cây biết điều thiện và điều ác của ông A-đam và bà Ê-va đã đem tội lỗi, đau khổ, và sự chết vào trong thế gian; đã khiến cho Đức Chúa Trời Ngôi Con toàn năng, vinh hiển, không thể chết phải nhập thế làm người, chịu yếu đuối, sĩ nhục, và chịu chết, (Sáng Thế Ký 3).

Theo ý riêng: Sự chọn lựa có con theo ý riêng của ông Áp-ra-ham và bà Sa-ra đã khiến cho mấy ngàn năm nay hai dân tộc Ả-rập và Do-thái tranh chấp, hận thù, tương tàn, đem bất an đến cho toàn thế giới, (Sáng Thế Ký 15, 16, 21).

Tham của người: Sự tham muốn vợ người khác của Vua Đa-vít đã đem lại đại họa lưu truyền trong gia đình của ông; anh hiếp em, anh em tàn sát lẫn nhau, con chiếm ngôi cha, (II Sa-mu-ên 11, 13, 15, 18).

Kiêu ngạo, khoe khoang: Sự kiêu ngạo, khoe khoang của Vua Ê-xê-chia đã khiến cho toàn bộ báu vật của Israel bị Vua Ba-by-lôn cướp lấy, (II Sử Ký 32:31; II Các Vua 20:12-18).

Bên cạnh những chọn lựa mang đến hậu quả thảm khốc, cũng có những chọn lựa mang đến phước hạnh:

Thánh sạch: Sự chọn lựa giữ mình thánh sạch của Giô-sép đã khiến cho ông trở thành tể tướng Ai-cập và hai con của ông trở thành hai chi phái trong số 12 chi phái của Israel (Sáng Thế Ký 37-48).

Nhân đức: Sự chọn lựa đầy lòng nhân đức của Ru-tơ đã khiến cho bà trở thành tổ mẫu về phần xác của Đức Chúa Jesus (Ru-tơ).

Công bình: Sự lựa chọn của Hoàng Hậu Ê-xơ-tê đem lại sự giải phóng cho dân tộc của bà (Ê-xơ-tê).

 

Tiêu chuẩn của sự chọn lựa

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để vào trang download audio


Mỗi sự chọn lựa đều dựa trên một số tiêu chuẩn đã được quy định trước. Những tiêu chuẩn chọn lựa thường là do chính người chọn lựa thiết lập. Hai người cùng chọn lựa mua một chiếc xe mới nhưng tiêu chuẩn chọn lựa có thể khác nhau. Tiêu chuẩn của người thứ nhất có thể là: sang-đẹp-bền, trong khi tiêu chuẩn của người thứ nhì là: rẽ-bền-đẹp. Là con dân Thiên Chúa, chúng ta nên thực hiện những chọn lựa của mình dựa trên các tiêu chuẩn do chính Chúa quy định. Các tiêu chuẩn này được trình bày rõ ràng trong Thánh Kinh và được chính Đức Thánh Linh nhắc nhở trong lòng của chúng ta, hoặc Ngài dùng người khác nhắc nhở chúng ta khi chúng ta đối diên với sự chọn lựa. Sứ Đồ Phao-lô đã tổng kết các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời trong Phi-líp 4:8, như sau:

"Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều cho chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến."

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của các tiêu chuẩn này:

Chân thật: là sự chọn lựa của mình không đi ngược lại lời Chúa. Thánh Kinh là lời Chúa và là thẩm quyền tuyệt đối trong đời sống của người đi theo Chúa (II Phi-e-rơ 1:20, 21; II Ti-mô-thê 3:16, 17). Mọi sự chọn lựa của chúng ta đều phải hoàn toàn dựa trên lời Chúa thay vì dựa vào tri thức của đời này, hay dựa vào cảm xúc của xác thịt. Chính Đức Chúa Jesus tuyên bố lời Chúa là lẽ thật (Giăng 17:7). Trên một phương diện khác, Đức Chúa Jesus chính là lời Chúa, danh xưng của Ngài là NGÔI LỜI (Giăng 1;1, Khải Huyền 19:13), Ngài đến thế gian để giãi bày Đức Chúa Cha cho chúng ta (Giăng 1:18), và Ngài tự xưng mình là lẽ thật (Giăng 14:6); cho nên sự chọn lựa của chúng ta cần phải không đi ngược lại mọi điều mà Đức Chúa Jesus đã truyền cho chúng ta (Ma-thi-ơ 28:20). Ngài là Đấng mà "trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá" (I Phi-e-rơ 2:22).

Đáng tôn: là sự chọn lựa của mình được thi hành trong danh Chúa, làm vinh hiển danh Chúa. Cô-lô-se 3:17 "Mặc dầu anh em nói hay làm, cũng phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha." Và như thế, những sự chọn lựa của chúng ta khiến cho người khác tôn vinh Chúa:

"Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời." (Ma-thi-ơ 5:16).

"Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm." (I Cô-rinh-tô 10:31)

Sự lựa chọn của ba chàng nô lệ Hê-bơ-rơ thời Vua Nê-bu-cát-nết-xa, không sấp mình thờ lạy tượng vua, đã khiến cho danh Chúa được vinh hiển, chính Vua Nê-bu-cát-nết-xa đã ra chiếu chỉ tôn vinh Chúa:

"Vua Nê-bu-cát-nết-sa lại cất tiếng nói rằng: Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô! Ngài đã sai thiên sứ Ngài và giải cứu các tôi tớ Ngài nhờ cậy Ngài, họ đã trái mạng vua, và liều bỏ thân thể mình, hầu để không hầu việc và không thờ phượng thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời mình.

Cho nên ta ban chiếu chỉ nầy: Bất kỳ dân nào, nước nào, thứ tiếng nào, hễ có người nói xấu đến Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, thì sẽ bị phân thây, nhà nó sẽ phải thành ra đống phân, vì không có thần nào khác có thể giải cứu được thể nầy." (Đa-ni-ên 3:28, 29)

Công bình: là sự chọn lựa của mình được thực hiện trong đức tin. Chúng ta được xưng công bình vì có đức tin vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Chúng ta cần thực hiện các sự chọn lựa của mình trong đức tin nơi Chúa, cho dù, theo lý trí của xác thịt, theo tiêu chuẩn của thế gian, sự chọn lựa của chúng ta bị xem là rồ dại. Áp-ra-ham chọn lựa dâng Y-sác trong đức tin vì ông tin rằng "Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến cho kẻ chết sống lại." (Hê-bơ-rơ 11:19). Ba trăm người Israel không vũ khí đi theo Ghê-đê-ôn để tấn công 135,000 người có tài cầm gươm của dân Mê-đi-an (Các Quan Xét 7, 8) đã làm một sự chọn lựa bởi đức tin.

"Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin." (Rô-ma 5:1)

"Phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi." (Rô-ma 14:23).

Trên một phương diện khác, sự lựa chọn của chúng ta không thể là nguồn gốc đem đến bất công cho người khác.

Thánh sạch: là sự chọn lựa của mình không vì lợi nhơ bẩn (I Phi-e-rơ 5:2), không vì danh vọng giả dối (Ga-la-ti 5:26), không vì muốn lấy lòng loài người mà làm buồn lòng Chúa (Ga-la-ti 1:10). Chính Sứ Đồ Phi-e-rơ cũng đã có lần làm một sự lựa chọn không thánh sạch khi ông sợ mất lòng những người tín đồ gốc Do-thái mà không dám ngồi ăn chung với các tín đồ gốc dân ngoại tại thành An-ti-ốt. Sứ Đồ Phao-lô đã quở trách Sứ Đồ Phi-e-rơ ngay trước mặt Hội Thánh (Ga-la-ti 2:11-14).

Đáng yêu chuộng: là sự chọn lựa đem lại ích lợi cho nếp sống đạo, đáng làm gương tốt. Có những chọn lựa đáng yêu chuộng được ghi chép trong Thánh Kinh như sau:

"Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy." (I Cô-rinh-tô 11:1)

"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào." (Rô-ma 12:1, 2)

Có tiếng tốt: là sự chọn lựa mà mọi người, ngay cả kẻ thù của chúng ta, cũng không thể chê trách. Đó là những chọn lựa đem lại ích lợi cho xã hội. Lời Chúa dạy:

"Vậy đương lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người; nhứt là cho anh em chúng ta trong đức tin." (Ga-la-ti 6:10)

"Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời." (I Phi-e-rơ 2:15)

Có nhân đức đáng khen: là sự lựa chọn đem lại ích lợi cho người khác, ngay cả cho kẻ thù nghịch và kẻ ghét mình hơn là cho chính mình:

"Nhưng ta phán cùng các ngươi, là người nghe ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình." (Lu-ca 6:27)

"Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều làm gương tốt. Chớ ai tìm lợi riêng cho mình, nhưng ai nấy hãy tìm cho kẻ khác." (I Cô-rinh-tô 10:23, 24).

 

Kết luận


Mỗi chọn lựa trong cuộc đời của chúng ta, dù lớn hay nhỏ, cần phải hội đủ bảy tiêu chuẩn trên đây. Đối với Đức Chúa Trời lớn hay nhỏ không quan trọng bằng thánh khiết hay ô uế. Biết lựa chọn theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời là chúng ta sống một đời sống tràn đầy phước hạnh, một đời sống thỏa lòng, một đời sống sung mãn, một đời sống: "bước đi theo Thánh Linh" (Ga-la-ti 5:16), "bước đi trong Đấng Christ" (Cô-lô-se 2:6).

Và, đó là ấn chứng chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời: "Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời" (Rô-ma 8:14).

Hãy học tập để cho những tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời thấm nhuần trong chúng ta đến nỗi mỗi sự chọn lựa của chúng ta đều trở thành sự chọn lựa một cách vô ý thức, nhưng đều đẹp ý Ngài.

Huỳnh Christian Timothy
03.04.2007

Share This:

Điều Răn: Thần Khác

2,367 views

Vì chỉ có một Đức Giê-hô-va (nghĩa là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu) cho nên chỉ có Ngài là Đấng Tạo Hóa, là cội nguồn của muôn loài vạn vật, là Đức Chúa Trời, và xứng đáng cho muôn loài vạn vật thờ phượng chỉ một mình Ngài, sự vinh hiển chỉ thuộc về một mình Ngài. Ngài đã phán về chính mình Ngài như sau:

“Ta là đầu tiên và cuối cùng; ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác.” (Ê-sai 44:6)

“Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!” (Ê-sai 42:8)

Lịch sử cho thấy rằng loài người đã tạo ra vô số các thần linh và sấp mình thờ lạy các thần linh do chính mình tạo ra. Riêng chỉ trong Ấn-độ giáo đã có trên một triệu thần linh; và nếu kể đến tục thờ lạy tổ tiên của các dân tộc thì loài người có đến hàng tỉ tỉ thần linh.

Tại Việt Nam, một người ăn mày khi sống bị nhiều người khinh khi, bỏ mặc cho chết đói, hay một tên ăn trộm khi sống bị nhiều người ghét bỏ, nguyền rủa, nhưng khi chết đi có thể trở thành một thần linh và được cả làng thờ phượng, phong cho chức Thành Hoàng, là một hình thức Đức Chúa Trời của một làng. Thậm chí, ngay cả những ống bình vôi đựng vôi ăn trầu, hay những cái kiềng bếp, những cục đất sét kê nồi bị vứt bỏ ở gốc đa đầu làng cũng trở thành những thần linh trong tín ngưỡng của người Việt Nam.

Từ chỗ được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời để làm con Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 1;27; Lu-ca 3:38) và cai trị vạn vật (Sáng Thế Ký 1:28), loài người đã sấp mình thờ lạy những thần tượng vô tri, vô giác, những tà linh, những điểu, thú, côn trùng, đồng loại, và chính các dục vọng của mình, làm nhục hình ảnh của Đức Chúa Trời ở trong mình (Rô-ma 1:18-32).

 

Phân loại các giả thần

 

Dù loài người đã sáng tạo ra nhiều thần linh khác nhau để tôn lên làm Đức Chúa Trời, nhưng những thần linh nhân tạo ấy có thể được xếp loại như sau:

– Thần Tài,

– Thần Tình, và

– Thần Tôi

 

1. Thần Tài

Truyền Đạo 10:9 chép rằng: “Có tiền bạc thì ứng cho mọi sự”. Đó là nhận định của một người khôn ngoan, quyền thế, và giàu có nhất trong thế gian đang thời của ông: Vua Sa-lô-môn. Thực tế cuộc sống hàng ngày cho chúng ta thấy, quả thật tiền bạc cần thiét để giải quyết nhiều vấn đề; ngay cả trong các công tác hầu việc Chúa cũng cần đến tiền bạc; trong sự dâng hiến cho Chúa cũng sử dụng đến tiền bạc. Như vậy, tự bản thân tiền bạc không phải là điều xấu; nhưng từ chỗ quản trị tiền bạc, sử dụng tiền bạc, cho đến chỗ ham muốn tiền bạc và nương cậy vào tiền bạc là một khoảng cách rộng lớn như khoảng cách giữa thiên đàng và hoả ngục.

Lời Chúa trong 1 Ti-mô-thê 6:6-10 răn dạy chúng ta như sau:

6 Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng ấy là một lợi lớn.

7 Vì chúng ta ra đời chẳng đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được.

8 Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng;

9 Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất.

10 Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn.

Loài người ham mê tiền bạc đến nỗi đã tạo ra Thần Tài để thờ lạy. Thần Tài không có nghĩa đơn giản chỉ là tiền bạc mà còn là phương tiện tạo ra tiền bạc, trong đó có công ăn, việc làm, tri thức, kỷ năng của chúng ta, những người có thế lực, và tất cả những gì tiền bạc có thể mang đến cho chúng ta. Khi chúng ta xem tiền bạc, phương tiện tạo ra tiền bạc, và những thứ do tiền bạc đem lại là trên hết trong đời sống của chúng ta là chúng ta đang tôn thờ Thần Tài. Người kém trí tôn thờ thần tài qua hình tượng, bàn thờ. Người đa trí tôn thờ thần tài bằng cách hối lộ, tham nhũng.

Đức Chúa Jesus phán: “Chẳng ai được làm tôi hai chủ; vì sẽ ghét người nầy mà yêu người kia, hoặc trọng người nầy mà khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi Ma-môn nữa.” (Ma-thi-ơ 6;24; Lu-ca 16:13). Ma-môn trong câu phán này là Thần Tiền Bạc, Thần Tài.

 

2. Thần Tình

Thần Tình ở đây bao gồm tình cảm chân chính giữa loài người với nhau lẫn những đam mê tình dục bất chính.

Những tình cảm chân chính giữa loài người với nhau như tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa cha mẹ con cái, tình nghĩa anh chị em, tình nghĩa bạn bè, tình nghĩa thầy trò, tình nghĩa chủ tớ, tình nghĩa đồng bào… luôn luôn được Thánh Kinh đề cao nhưng cũng chính Thánh Kinh dạy cho chúng ta biết, chúng ta không thể xem các tình cảm đó cao trọng hơn tình cảm của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời. Trong thực tế, nếu chúng ta đặt tình yêu Đức Chúa Trời cao trọng hơn tất cả các tình cảm khác thì chính tình yêu Đức Chúa Trời trong chúng ta khiến cho chúng ta được đầy trọn tình yêu đến từ Chúa và chúng ta sẽ yêu người khác bằng chính tình yêu mà Chúa đã yêu chúng ta. Đó là tình yêu đích thật được mô tả trong 1 Cô-rinh-tô 13.

Nhiều khi chúng ta yêu người khác hơn yêu Chúa mà chúng ta không biết. Bất cứ vì một người nào mà chúng ta bê trể bổn phận của chúng ta với Chúa, như bỏ qua hoặc đi trể trong sự nhóm lại để học hỏi lời Chúa và thờ phượng Chúa, như chìu theo người đó mà làm những việc chúng ta biết rõ là không đẹp ý Chúa, không đúng với sự dạy dỗ của Thánh Kinh… là chúng ta đã tôn thờ Thần Tình trong lòng chúng ta. Chúa phán rất rõ ràng: “Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta.” (Ma-thi-ơ 10:37).

Thần Tình còn là những đam mê tình dục bất chính như gian dâm, ngoại tình kể cả gian dâm và ngoại tình trong tư tưởng, như lén lút xem các văn hóa phẩm tình dục làm băng hoại nhân phẩm qua phim, ảnh, sách, báo, hoặc Internet. Thần Tình ngày nay còn được tôn thờ và đề cao qua các phong trào đồng tính luyến ái, thậm chí công khai xâm nhập vào trong các Hội Thánh, đến nổi một vài giáo hội lớn cho phép những người đồng tình luyến ái làm mục sư và giám mục.

 

3. Thần Tôi

Trong thế gian này có bao nhiêu con người là có bấy nhiêu Thần Tôi. Thần Tôi là chính cái bản ngã tội lỗi của mỗi người. Khi chúng ta chưa biết Chúa, chúng ta sống chết cho bản ngã của mình và rất mực tôn thờ nó. Thần Tôi xuất hiện dưới hai hình thức: lòng tự ái và lòng kiêu ngạo.

a) Lòng tự ái khác xa với lòng tự trọng. Tự trọng là không làm bất cứ một điều gì khiến cho hình ảnh của Đức Chúa Trời trong chúng ta bị sỉ nhục. Còn tự ái là tự mình yêu chính mình, không muốn cho bất kỳ ai làm thương tổn đến mình. Lòng tự ái tự nó không có gì sai trái, vì Chúa dạy chúng ta hãy yêu người khác như chúng ta yêu chúng ta. Nhưng khi lòng tự ái bị điều khiển bởi bản ngã tội lỗi thì nó khiến cho chúng ta đặt mình lên trên trước người khác thậm chí đặt mình lên trên cả Đức Chúa Trời, và khi đó, nó biến thành Đức Chúa Trời của chúng ta.

Vì lòng tự ái mà có sự ganh tỵ, bè phái, chia rẽ trong Hội Thánh. Nhiều người bất chấp thủ đoạn, bất chấp hậu quả, nhất quyết hành động miễn sao lòng tự ái xác thịt của mình được thỏa mãn. Có người vì tự ái mà đã giết người. Cũng có người vì tự ái mà tự sát, mong rằng cái chết của mình sẽ đem lại đau khổ cho người đã làm mình đau khổ!

Chúa không bảo chúng ta thôi yêu thương chính mình nhưng dạy chúng ta cũng yêu người lân cận như chúng ta yêu chúng ta vậy. Vì thế, Chúa dạy chúng ta hãy xem người khác là tôn trọng hơn mình, lấy lẽ kính nhường nhau, và đối với Chúa thì chúng ta hãy tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo Chúa, (Phi-líp 2:3; Rô-ma 12:10; Lu-ca 9:23).

b) Lòng kiêu ngạo là tội đứng hàng đầu trong các thứ tội. Vì kiêu ngạo mà Satan phản nghịch Đức Chúa Trời; vì kiêu ngạo mà A-đam và Ê-va muốn bằng Đức Chúa Trời; vì kiêu ngạo mà nhiều người cho rằng mình đạo đức, thánh thiện, không cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời; vì kiêu ngạo mà nhiều người cho rằng mình hiểu biết về Chúa đến mức không cần phải học hỏi từ ai khác hết; vì kiêu ngạo mà nhiều người cho rằng Chúa phán trực tiếp với mình, không cần đến Thánh Kinh nữa; vì kiêu ngạo mà nhiều người không tiếp nhận những sự khuyên răn, quở trách từ người khác mà đòi chính Đức Chúa Trời trực tiếp phán dạy họ! Vì kiêu ngạo mà nhiều người bất chấp các thẩm quyền Chúa đã lập ra trong Hội Thánh hoặc tự dành lấy các chức vụ trong Hội Thánh mà Chúa không hề ban cho mình…

Một người trong thế gian có thể đắc thắng được tiền bạc, vật chất, và các thứ tình cảm nhưng không thể đắc thắng được lòng tự ái và lòng kiêu ngạo. Trong Chúa, chúng ta sẽ đắc thắng khi chúng ta chịu mặc lấy Đấng Christ, vì Ngài có lòng nhu mì và khiêm nhường (Ma-thi-ơ 11:29).

 

Kết luận

 

Điều răn: “Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác.” là điều răn không chỉ dành riêng cho dân Israel mà là cho muôn loài thọ tạo, bao gồm cả thiên sứ, loài người, những vật thấy được lẫn những vật không thấy được. Ngay cả cõi thiên nhiên cũng âm thầm tôn thờ Đức Chúa Trời:

“Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm. Ngày nầy giảng cho ngày kia, Đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ. Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó.” (Thi Thiên 19:1-3)

Chúng ta hãy nhờ Đức Thánh Linh tra xét lòng của chúng ta, chỉ ra cho chúng ta những thần khác đang còn chễm chệ trên ngôi lòng của chúng ta và xin lửa của Đức Thánh Linh thiêu đốt hết tất cả những thần tượng ấy.

Lời Chúa phán:

“Ngươi khá giữ hết mọi lời ta phán cùng ngươi. Chớ xưng đến danh các thần khác; chớ cho nghe danh đó ở nơi miệng ngươi ra.” (Xuất Ê-díp-tô-ký 23:13)

Huỳnh Christian Timothy
25/02/2007

 

Share This:

Quốc Thái Dân An

1,979 views

Quốc thái, dân an là niềm mơ ước muôn đời của mọi quốc gia, mọi dân tộc. Thái là thái bình, an là an lạc. Quốc thái, dân an là đất nước được thanh bình, thịnh vượng, không có chiến tranh hoặc thiên tai, dân chúng trong nước được sống trong an vui, ấm no, và hạnh phúc.

Từ ngàn xưa đến nay, quốc gia nào, dân tộc nào cũng hướng về những quyền lực siêu nhiên để tìm cầu quốc thái dân an, vì thế, lịch sử cho thấy có những tôn giáo trở thành quốc giáo của nhiều quốc gia. Kể từ thế kỷ 20 cho đến nay, những tư tưởng và chủ nghĩa, thậm chí kiến thức về khoa học cũng trở thành một thứ quốc giáo. Nói cách khác, những tôn giáo, tư tưởng, chủ nghĩa, và kiến thức khoa học đã trở thành các thần linh, các quyền lực tối thượng mà mọi dân tộc nương cậy vào đó để mưu cầu quốc thái dân an.

Riêng đối với đất nước và dân tộc Việt Nam, từ các thời Đinh, Lê, Lý, Trần đã có tục triều đình tế Trời vào đầu năm âm lịch để cầu xin cho quốc thái dân an. Trong dân gian thì nhà nhà có bàn thờ Trời, gọi là bàn Ông Thiên. Sự kiện này cho thấy dân tộc Việt Nam có ý thức về Đức Chúa Trời và đức tin vào Đức Chúa Trời. Vào năm 1803, Vua Gia Long cho thiết lập một đàn tế Trời lộ thiên, gọi là “Đàn Nam Giao”. Mỗi năm, vào thượng tuần tháng hai âm lịch thì triều đình làm lễ tế Trời. Vua phải đến trước ba ngày, trai tịnh để chuẩn bị cho tế lễ. Khi vào lễ, vua từ chỗ ở gọi là Trai Cung, ngồi trên kiệu gọi là Ngự Liễn, được quân lính gánh lên đài; có từ 1000 đến 5000 người, gọi là Ngự Đạo, mặc lễ phục sặc sở đi theo. Khi tế, vua là chủ tế và có 128 văn võ sinh đứng múa. Đại lễ bắt đầu từ 2 giờ sáng và kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ. Tục tế Nam Giao chấm dứt với vị vua cuối cùng của Việt Nam là Bảo Đại.

Văn hóa Việt cho thấy, dân tộc Việt Nam rất khao khát quốc thái dân an nhưng lịch sử Việt chỉ ghi lại toàn là chiến tranh và loạn lạc, nước mất và nhà tan. Hơn 4000 năm lịch sử của Việt Nam là hơn 4000 ngàn năm của khổ đau! Cho đến bao giờ và bằng cách nào để đất nước và dân tộc Việt Nam chúng ta được thực sự quốc thái dân an?

Tác giả của Thi Thiên 33 đã ghi lại một chân lý tuyệt vời cho mọi dân tộc: “Nước nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình,dân tộc nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp mình, có phước thay.” (Thi Thiên 33:12).

Chúng ta không thể biết chắc người nào đã viết ra Thi Thiên 33, cũng không biết Thi Thiên này đã được viết ra trong hoàn cảnh nào, hoặc vào thời điểm nào. Mặc dù bài thơ này được chép chung trong quyển thứ nhất các bài thơ của Đa-vít và được đặt ở giữa hai bài thơ có ghi tên ông, nhưng trong phần mở đầu của bài thơ không hề ghi tên tác giả. Bài thơ cũng không đề cập đến những nghi thức thờ phượng của Israel hay lịch sử của dân tộc này. Nội dung của bài thơ hoàn toàn có tính tổng quát, có thể áp dụng chung cho mọi dân tộc.

Có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình, nghĩa là nhận thức đúng về Đức Chúa Trời, rằng Ngài là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu (tự có và còn đến mãi mãi) và chọn lựa chỉ thờ phượng một mình Ngài. Vì Đức Chúa Trời là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu cho nên Ngài là Đấng Cao Siêu Tuyệt Đối, không ai có thể sánh với Ngài và mọi vinh hiển đều quy về Ngài. Lời phán của Ngài được ghi lại trong Thánh Kinh như sau:

“Ta là đầu tiên và cuối cùng; ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác.” (Ê-sai 44:6)

“Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!” (Ê-sai 42:8)

Dân tộc Việt Nam dầu có ý thức về Đức Chúa Trời và biết cầu khẩn Đức Chúa Trời nhưng suốt lịch sử mấy ngàn năm vẫn sống trong bất hạnh là vì chưa có nhận thức đúng về Đức Chúa Trời nên chưa biết thờ phượng chỉ một mình Ngài. Bên cạnh sự tôn kính, kêu cầu Đức Chúa Trời, người Việt Nam còn tin tưởng và thờ lạy vô số các thần tượng, còn thực hành nhiều hủ tục mê tín, dị đoan… là những điều vi phạm luật thánh khiết của Đức Chúa Trời. Người Việt Nam cần đến với Thánh Kinh để học biết về Đức Chúa Trời và thờ phượng Ngài theo sự dạy dỗ của Thánh Kinh. Khi các thần tượng vô tri, vô giác bị dẹp bỏ và chỉ có Đức Chúa Trời được tôn cao trong lòng người Việt Nam, thì đất nước Việt Nam mới thật sự có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình.

Được Đức Chúa Trời chọn làm cơ nghiệp, nghĩa là sống đẹp ý Chúa, vâng giữ luật pháp của Ngài nên được Ngài chọn để sống đời đời với Ngài và vui hưởng tình yêu cùng những sự bình an, vinh hiển, giàu có vô lượng của Ngài.

Quốc thái dân an không phải là một sáo ngữ hay một niềm không tưởng. Lời của Đức Chúa Trời đã khẳng định: “Nước nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình,Dân tộc nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp mình, có phước thay.”

Trong những ngày đầu của một năm mới này, chúng ta hãy dọn lòng, đến với Chúa, kêu cầu sự nhơn từ thương xót của Ngài tiếp tục dàn trải trên quê hương và dân tộc Việt Nam chúng ta. Xin Chúa cho dân tộc chúng ta sớm nhận biết và thờ phượng chỉ một mình Chúa. Xin cho dân tộc Việt Nam được bước vào một ngàn năm quốc thái dân an dưới quyền cai trị của Đấng Christ và cùng có mặt với các dân tộc khác trong trời mới, đất mới của cõi đời đời!

Huỳnh Christian Timothy
18/02/2007

 

Share This:

Điều trọng hơn hết

2,307 views

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống mp3
https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/sets/101_toiloiductinsucaunguyen

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

I. Ba điều thiết yếu

1 Cô-rinh-tô 13:13 nói lên một chân lý vô cùng quan trọng đối với toàn thể nhân loại. Cuộc đời của một người từ khi sinh ra cho đến khi qua đời hoàn toàn gắn bó với ba điều thiết yếu này: Đức tin, sự trông cậy, và tình yêu.

1. Đức tin

Điều thiết yếu đầu tiên trong cuộc sống của loài người là đức tin. Đức tin ở đây là:

– Đức tin vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)

“Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta.” (1 Giăng 1:7)

– Đức tin vào trong sự chăm sóc của Đức Chúa Trời.

“Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em.” (1 Phi-e-rơ 5:7)

“Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jêsus Christ.” (Phi-líp 4:19)

– Đức tin vào trong sự thành tín của Đức Chúa Trời.

“Vậy nên, phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ấy là Đức Chúa Trời, tức Đức Chúa Trời thành tín, giữ sự giao ước và nhân từ đến ngàn đời cho những người yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài.” (Phục Truyền 7:9)

“Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài đã gọi anh em được thông công với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.” (1 Cô-rinh-tô 1:9)

2. Sự trông cậy

Đức tin dẫn đến sự trông cậy. Vì tin nhận sự cứu rỗi của Chúa cho nên chúng ta có:

– Sự trông cậy về sự cứu rỗi:

“Nhưng chúng ta thuộc về ban ngày, nên hãy giè giữ, mặc áo giáp bằng đức tin và lòng yêu thương, lấy sự trông cậy về sự cứu rỗi làm mão trụ.” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:8)

Chẳng những chúng ta trông cậy về sự cứu rỗi, nghĩa là sự được tha tội và được làm cho sạch tội, mà chúng ta còn có:

– Sự trông cậy về sự sống đời đời

“Hầu cho chúng ta nhờ ơn Ngài được xưng công bình, trở nên con kế tự của Ngài trong sự trông cậy của sự sống đời đời.” (Tít 3:7)

– Sự trông cậy về sự đồng trị với Chúa trong cõi đời đời

“Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta.” (2 Ti-mô-thê 2:12)

3. Tình yêu

Thánh Kinh định nghĩa Đức Chúa Trời là tình yêu cho nên tình yêu chính là bản thể của Đức Chúa Trời. Điều thiết yếu thứ ba trong đời người là tình yêu. Chúng ta có thể có đức tin nơi Đức Chúa Trời và có các sự trông cậy nơi Đức Chúa Trời, nhưng nếu chúng ta không có tình yêu, tức là không có chính mình Ngài thì đức tin và sự trông cậy của chúng ta sẽ trở thành vô nghĩa.

Chúng ta không thể biết yêu nếu chúng ta không được yêu. Vì thế, Thánh Kinh cho biết: “Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước” (1 Giăng 4:19).

Sự kiện Đức Chúa Trời là tình yêu và Ngài yêu chúng ta đã được Thánh Kinh ghi lại như sau:

“9 Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống.

10 Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta.” (1 Giăng 4:9, 10).

Loài người xưa nay tưởng rằng họ có thể yêu và được yêu mà không cần biết đến Đức Chúa Trời. Nhưng thực tế của lịch sử loài người đã chứng minh ngược lại.

Vì không biết Đức Chúa Trời nên người ta không tiếp nhận Ngài; vì không tiếp nhận Ngài nên người ta không biết yêu; vì không biết yêu nên người ta đã nhân danh tình yêu để làm những chuyện hoàn toàn phản lại các thuộc tính của tình yêu.

Thánh Kinh chép: “Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương.” (1 Giăng 4:8); Và, chúng ta có thể nói: “Ai không biết Đức Chúa Trời thì không biết tình yêu!”

II. Điều trọng hơn hết

Muốn có đức tin và sự trông cậy nơi Đức Chúa Trời, trước hết chúng ta phải có tình yêu, tức là phải có Đức Chúa Trời trong cuộc đời của chúng ta. Không có Đức Chúa Trời cùng nghĩa với không có tình yêu. Một người có thể tin Chúa nhưng không có Chúa trong đời sống. Một người có thể nhân danh Chúa để làm các việc vĩ đại nhưng không có Chúa trong đời sống.

– Đức tin có thể đem đến cho chúng ta những sự ban cho của Đức Chúa Trời, nhưng nếu chúng ta không có tình yêu, thì những sự ban cho đó trở thành vô nghĩa:

“1 Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng.

2 Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.

– Chúng có thể làm những việc công đức vĩ đại nhưng nếu những việc làm công đức ấy không phát xuất từ tình yêu, thì sẽ trở thành vô nghĩa:

3 Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi.

– Tình yêu tỏ lộ các thuộc tính rõ ràng:

4 Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,

5 chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ,

6 chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật.

7 Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.

Đức tin và sự trông cậy sẽ chấm dứt vì không cần thiết nữa khi chúng ta sống với Chúa trong cõi đời đời. Nhưng tình yêu còn lại mãi mãi, vì: tình yêu chính là Đức Chúa Trời:

8 Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ.”

Kết luận

Cội rễ và cuối cùng của tất cả luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời là tình yêu. Mục đích sự thực hữu của chúng ta là:

– để được Đức Chúa Trời yêu chúng ta,

– để chúng ta yêu Đức Chúa Trời, và

– để chúng ta yêu lẫn nhau.

Trong cuộc sống hiện tại giữa thế gian tội lỗi này, khi một người thực lòng ăn năn tội, tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, thì đời sống của người ấy được đổi mới và người ấy có thể kinh nghiệm được ba điều thiết yếu cho nhân loại:

– đức tin vào Đức Chúa Trời,

– trông cậy vào Đức Chúa Trời, và

– yêu Chúa, yêu người.

11/02/2007

 

Share This:

Nên thánh

1,932 views
I. Sự tự do của người được nên thánh
Người được nên thánh là người đã được tháp vào trong Đấng Christ, nhận lấy sự sống của chính Ngài; sức sống cũ của xác thịt tội lỗi và ô uế đã bị tiêu diệt, thay vào đó là sức sống mới của Đấng Christ, là thánh linh của Đức Chúa Trời.
Thân thể bụi đất của A-đam là một thân thể chết cho đến khi Đức Chúa Trời thổi thánh linh của Ngài vào thì A-đam trở thành một sanh linh, có tâm thần và linh hồn trong một thân thể vật chất. Sự sống của A-đam, vì thế, khác xa với sự sống của các sinh vật khác. Một người đang sống trong tội lỗi là một người chết, đó là điều Đức Chúa Jesus ngụ ý khi Ngài phán: "Hãy theo ta, để kẻ chết chôn kẻ chết!" (Ma-thi-ơ 8:22). Khi chúng ta ăn năn tội và tiếp nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì Ngài làm cho chúng ta được sống lại trong Đức Chúa Jesus Christ: "Đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu." (Phi-líp 2:5).
Đời sống của một người đã được Đức Chúa Trời tái sinh là đời sống của một người đã được cứu thoát khỏi sức mạnh của tội lỗi, nghĩa là được tự do đối với tội lỗi, tội lỗi không thể bắt phục được người ấy nữa. Nhưng trên một phương diện khác, người được tái sinh cũng có quyền tự do chọn lựa để sống một nếp sống mới thánh khiết trong Chúa hay tiếp tục sống nếp sống cũ theo tư dục của xác thịt. Sự chọn lựa tiếp tục sống theo xác thịt hay quay lại sống theo xác thịt là sự thối lui trong đức tin. Thánh Kinh chép:
"Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm đẹp chút nào." (Hê-bơ-rơ 10:38)
"Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn." (2 Phi-e-rơ 2:21)
Thánh Kinh cũng nói rõ, phần của những kẻ lui đi là sự hư mất, chỉ những ai bền vững trong đức tin thì linh hồn mới được cứu rỗi:
"Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi." (Hê-bơ-rơ 10:39)
 
II. Khả năng phạm tội của người được nên thánh
Đức Chúa Trời có khả năng làm điều ác vì Ngài là Đấng toàn năng; nhưng Ngài chọn lựa không làm điều ác, vì thế, Ngài là thiện, là tình yêu, là thánh khiết. Khi dựng nên thiên sứ và loài người, Đức Chúa Trời cũng ban cho họ một ý chí tự do để chọn lựa làm thiện hoặc làm ác. Làm thiện là vâng phục Đức Chúa Trời, làm ác là nghịch lại những sự tốt lành của Đức Chúa Trời. Có ý chí tự do thì mới có tình yêu đích thực; bởi vì, tình yêu chỉ chân thật khi có sự chọn lựa. Đức Chúa Trời muốn thiên sứ và loài người tương giao với Ngài trong tình yêu chân thật, tự nguyện. Ý chí tự do mang đến cho thiên sứ và loài người cùng lúc hai khả năng: khả năng làm thiện và khả năng làm ác. Vì thế, người đã nên thánh, tức đã được tái sinh vẫn có thể phạm tội, vì vẫn có khả năng làm ác. Điều khác biệt giữa một người chưa được tái sinh với một người đã được tái sinh, ấy là người đã được tái sinh không còn nô lệ cho tội lỗi và được phục hồi khả năng làm lành. Vì thế, sự phạm tội của một người đã được tái sinh khác với sự phạm tội của một người chưa được tái sinh.
Một người đã được tái sinh có thể phạm tội vì vô ý, vì một phút yếu lòng trước sự cám dỗ hoặc sự thử thách, nhưng liền sau khi phạm tội người ấy ăn năn, thống hối và biết tìm đến ơn thương xót của Chúa để cầu xin sự tha thứ và sự làm cho sạch tội. Vì thế, 1 Giăng 1:9 chép rằng: "Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín, công bình, để tha tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác".
Người chưa được tái sinh là người đang sống trong tội, nghĩa là phạm tội có dự mưu, nghĩa là không có lòng dứt bỏ đời sống tội lỗi, vì phạm tội là mục đích của đời sống họ. Thánh Kinh chép về những người chưa được tái sinh như sau:
"28 Tại họ không lo nhìn biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó họ theo lòng hư xấu, đặng phạm những sự chẳng xứng đáng. 29 Họ đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ; 30 hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ; 31 dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót. 32 Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa." (Rô-ma 1:28-32).
 
III. Nếp sống của người được nên thánh
Người được nên thánh là người thờ phượng Đức Chúa Trời bằng cách dâng hiến thân thể mình cho Đức Chúa Trời như một của lễ sống và thánh, không còn sống theo thế gian nữa:
"1 Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. 2 Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào." (Rô-ma 12:1, 2)
Người được nên thánh là người không làm việc gì không bởi đức tin, vì hành động không bởi đức tin là tội lỗi:
"Vả, phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi." (Rô-ma 14:23)
Người được nên thánh không làm việc gì tựa như điều ác:
"Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:22)
Người được nên thánh làm việc gì cũng nhân danh Chúa mà làm và hết lòng mà làm như là làm cho Chúa:
"Mặc dầu anh em nói hãy làm, cũng phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha." (Cô-lô-se 3:17)
"Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta." (Cô-lô-se 3:23)
Người được nên thánh vui mừng trong mọi cảnh ngộ, không lo phiền chi hết, tạ ơn Chúa trong mọi sự, và lòng luôn hướng về những sự chân thật, công bình, thánh khiết:
"4 Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi. 5 Hãy cho mọi người đều biết nết nhu mì của anh em. Chúa đã gần rồi. 6 Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn và trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. 7 Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ. 8 Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều cho chơn thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến." (Phi-líp 4:4-8)
Người được nên thánh có năng lực vâng giữ và làm theo mọi điều Chúa dạy vì chính Chúa là Đấng ban ơn, và thêm sức:
"Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi." (Phi-líp 4:13)
Người được nên thánh sẽ ở luôn trong sự nên thánh:
"Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa!" (Khải Huyền 22:11)
 
Kết luận
Người được nên thánh là người được tái sinh, được dựng nên mới, có Thánh Linh của Đức Chúa Trời là nguồn sống cho nên đời sống của người ấy thể hiện thuộc tính của Đức Thánh Linh, mà ai cũng nhìn thấy được:
"Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ." (Ga-la-ti 5:22)
Chúa Nhật 04/02/2007

Share This:

Thánh hóa

1,721 views
I. Tiến trình thánh hóa
 
Đức Chúa Trời thánh hóa người có lòng ăn năn thống hối về tội lỗi và tin nhận sự cứu rỗi của Ngài như sau:
1) Tha tội và làm cho sạch tội: Con Một của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Jesus Christ gánh thay hình phạt của tội nhân bằng cách chết thay cho tội nhân trên thập tự giá. Nhờ vào cái chết của Đấng Christ trên thập tự giá mà tội lỗi của toàn thể nhân loại – bao gồm tội lỗi trong quá khứ, hiện tại, lẫn tương lai – đều được Đức Chúa Trời tha thứ và bôi xóa:
"Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên." (Ê-sai 1:18)
"Ta đã xóa sự phạm tội ngươi như mây đậm, và tội lỗi ngươi như đám mây. Hãy trở lại cùng ta, vì ta đã chuộc ngươi." (Ê-sai 44:22)
"Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, Thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu." (Thi Thiên 103:12)
"Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng hiện nay Ngài sống, ấy là sống cho Đức Chúa Trời." (Rô-ma 6:10)
"Ấy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jêsus Christ một lần đủ cả." (Hê-bơ-rơ 10:10)
"Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta." (1 Giăng 1:7)
"Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác." (1 Giăng 1:9)
"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men." (Khải Huyền 1:6)
2) Tái sinh: Sau khi được tha tội và làm cho sạch tội, người thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời được Ngài tái sinh và ban cho quyền phép trở nên con cái của Ngài. Quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời là quyền phép thắng được điều dữ, làm được điều lành (Rô-ma 7:14-25).
"Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy." (Giăng 1:12, 13)
"Ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta được tái sinh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống." (1 Phi-e-rơ 1:3)
"Anh em đã được tái sinh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời." (1 Phi-e-rơ 1:23)
"Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần." (Rô-ma 8:37)
"Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta." (1 Cô-rinh-tô 15:17)
"Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn, và bởi chúng tôi, Ngài rải mùi thơm về sự nhận biết Ngài khắp chốn!" (2 Cô-rinh-tô 2:14)
"Vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta." (1 Giăng 5:4)
 
II. Dấu chứng của sự được thánh hóa
 
Thánh Kinh gọi những người đã được tái sinh là thánh đồ, tập thể của các thánh đồ được gọi "là dòng giống được lựa chọn, là chức vụ thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời" (1 Phi-e-rơ 2:9), là Hội Thánh.
Người đã được Đức Chúa Trời thánh hóa, nghĩa là đã được Ngài tha tội, làm cho sạch tội, và tái sinh thì không còn sống theo bản tính tội lỗi cũ nữa. Dấu chứng của một người đã được tái sinh là trái của Đức Thánh Linh phát sinh trong đời sống của họ:
"Nhưng trái của Đức Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ." (Ga-la-ti 5:22)
Thánh Kinh khẳng định lẽ thật về một người đã được tái sinh như sau:
"Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài." (Rô-ma 8:9)
Bởi vì, người được Đức Chúa Trời thánh hóa, tái sinh là người được dựng nên mới; bản tính tội lỗi cũ của xác thịt đã chết đi và bản tính thánh khiết mới đã được sinh ra bởi Đức Chúa Trời:
"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới." (2 Cô-rinh-tô 5:17)
Mọi sự đều trở nên mới có nghĩa là mới trong tâm linh, mới trong linh hồn, và mới trong thể xác.
Mới trong tâm linh là vì được tương giao với Đức Chúa Trời, được dẫn đắt bởi Đức Thánh Linh, được nhận biết Đức Chúa Trời.
"Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ." (1 Giăng 1:3)
"Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời." (Rô-ma 8:14)
"Nguyền xin ân điển và sự bình an được gia thêm cho anh em bởi sự nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus, là Chúa chúng ta!" (2 Phi-e-rơ 1:2
Mới trong linh hồn là vì sự yêu thương của Chúa đổ đầy trong chúng ta, khiến cho chúng ta có thể hết lòng yêu Chúa hơn tất cả mọi sự và yêu thương mọi người như chính mình, tha thứ ngay cả kẻ thù nghịch, chăm lo về quyền lợi của người khác hơn của mình, khiêm nhường, nhịn nhục, xem người khác là tôn trọng hơn mình, và có thể hy sinh mạng sống của mình để người khác có cơ hội nhận được sự cứu rỗi:
"Vả, sự trông cậy không làm cho hổ thẹn, vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta." (Rô-ma 5:5)
"Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu người lân cận như mình." (Lu-ca 10:27)
"Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi." (Ma-thi-ơ 5:44)
"Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa." (Phi-líp 2:4)
"Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình." (Phi-líp 2:3)
"Phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau." (Ê-phê-sô 4:2)
"Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình." (Giăng 15:13)
Mới trong thể xác có nghĩa là thân thể của chúng ta được dâng lên cho Đức Chúa Trời, trở nên đồ dùng của Đức Chúa Trời:
"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em." (Rô-ma 12:1)
"Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình." (Rô-ma 6:12, 13)
 
III. Dấu chứng của sự chưa được tái sinh
 
Trái của Đức Thánh Linh là thuộc tính của Đức Chúa Trời. Đối nghịch với trái của Đức Thánh Linh là trái của của tội lỗi, là thuộc tính của xác thịt. Người đã được tái sinh không thể có những trái của xác thịt trong đời sống:
"Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời." (Ga-la-ti 5:19-21)
Đối với những người tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhưng không chịu từ bỏ tội lỗi thì sự thánh hóa của Đức Chúa Trời không thể hoàn thành trong họ; nghĩa là cho dù họ tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, kêu cầu cùng Đức Chúa Trời nhưng nếu họ không chịu từ bỏ tội lỗi, vẫn sống theo bản tính của xác thịt, thì họ không được Đức Chúa Trời tái sinh! Những người như vậy, là những người bị Đức Thánh Linh cáo trách về tội lỗi nhưng không có lòng ăn năn tội. Một người không có lòng ăn năn tội là một người không muốn từ bỏ những thú vui của tội lỗi; hoặc quá tự ái, quá kiêu ngạo, không thể mặc lấy lòng nhu mì, khiêm nhường, và thương xót của Đấng Christ; không thể yêu thương, tha thứ cho người khác vô điều kiện như Chúa đã yêu thương và tha thứ mình. Những người như vậy là những người chưa được tái sinh; mà chưa được tái sinh là không có sự cứu rỗi, vì Đức Chúa Jesus Christ khẳng định:
"Nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời." (Giăng 3:5)
Nước là lễ báp-tem, là chịu dìm mình trong nước. Lễ báp-tem là hình bóng về sự chết, về sự đoán phạt con người cũ tội lỗi như xưa kia Đức Chúa Trời đã đoán phạt thế gian bằng cơn nước lụt (1 Phi-e-rơ 3:20, 21). Người có lòng ăn năn thống hối về tội lỗi sẽ bày tỏ lòng mình qua sự chịu lễ báp-tem. Thánh Linh là quyền phép của Đức Chúa Trời khiến cho kẻ chết được sống lại. Một người phải bằng lòng chết đi con người cũ của mình thì mới được Đức Chúa Trời tái sinh thành một con người mới.
 
Kết luận
 
Thánh hóa là một phần trong ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Tiếp nhận ân điển của Đức Chúa Trời có nghĩa là tiếp nhận sự thánh hóa của Ngài. Nhiều người chỉ muốn tiếp nhận sự tha tội của Đức Chúa Trời nhưng không chịu tiếp nhận sự làm cho sạch tội của Ngài; vì thế, dầu họ tuyên xưng đức tin nơi Chúa nhưng họ vẫn sống trong tội lỗi. Sứ Đồ Phao lô gọi đó là những kẻ có nếp sống thù nghịch thập tự giá.
"Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ." (Phi-líp 3:18)
Chúng ta hãy đối chiếu lòng mình với lời Chúa. Hãy nhờ Đức Thánh Linh chỉ ra những điều tội lỗi sâu kín trong linh hồn của chúng ta. Hãy hạ mình, nhu mì đón nhận sự quở trách, sửa trị của lời Chúa. Hãy làm theo lời Chúa, hãy tiếp nhận sự thánh hóa của Đức Chúa Trời. Hãy biết rằng, một ngày kia, mỗi chúng ta đều phải ứng hầu trước Đấng Thánh.
"Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại." (Hê-bơ-rơ 4:13)
"Vậy, hãy bỏ đi mọi điều ô uế, và mọi điều gian ác còn lại, đem lòng nhu mì nhận lấy lời đã trồng trong anh em, là lời cứu được linh hồn của anh em. Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình." (Gia-cơ 1:21, 22)
"Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy." (Ga-la-ti 6:7).
Chúa Nhật 28/01/2007

Share This:

Không Có Thì Giờ [Never found the time]

2,243 views

I knelt to pray, but not for long.
I had too much to do,
Must hurry off and get to work,
For bills would soon be due.
And so I said a hurried prayer,
Jumped up from off my knees.
My Christian duties now were done,
My soul could be at ease.
All through the day I had no time,
To speak a word of cheer;
No time to speak of Christ to friends,
They’d laugh at me I feared.
No time, no time, too much to do.
That was my constant cry;
No time to give to those in need –
At last was time to die.
And when before the Lord I came;
I stood with downcast eyes;
Within His hands He held a book
– It was the "Book of Life".
God looked into His book and said,
"Your name I cannot find,"
"I once was going to write it down,"
"But never found the time."

Author Unknown 

 Không Có Thì Giờ

Tôi đã quỳ cầu nguyện,
Nhưng không được bao lâu.
Phải đứng lên làm việc,
Nợ đang réo điên đầu.
Đâu cần nói lôi thôi,
Lời nguyện ngắn xong rồi.
Bổn phận tín đồ đủ
Linh hồn chắc được ngơi.
Lời Chúa Trời tuy tốt,
Nói ra e họ cười.
Thôi thì không nên thốt,
Để khỏi mất thì giờ.
Không có giờ cho tôi,
Có đâu cho kẻ khác.
Bận bịu suốt cả đời,
Rồi đến ngày tôi thác.
Cúi mặt lòng lo âu,
Trước Chúa tôi đứng hầu.
Tay cầm "Sách Sự Sống",
Ngài tìm kiếm hồi lâu.
Lắc đầu Chúa Trời phán:
"Tên ngươi không có đây!
Có lần Ta định chép,
Nhưng không rãnh một giây!"

Translated by Châu Sa

Share This:

Kính sợ và nhìn biết Đấng Thánh

2,551 views

I. Đức Giê-hô-va là Đấng Thánh

 

"Vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi; ta là thánh, nên các ngươi phải nên thánh, thì sẽ được thánh." (Lê-vi Ký 11:44)

"Hãy nên thánh, vì ta Giê-hô-va Đức Chúa Trời các người, vốn là thánh." (Lê-vi Ký 19:2)

"Đức Chúa Trời là Đấng Thánh nên thánh trong sự công bình." (Ê-sai 5:16)

 

Trước hết, chúng ta cần phải ý thức rằng: Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa mà Thánh Kinh bày tỏ là Đấng Thánh. Khi nói đến danh từ "thánh" chúng ta thường nghĩ đến những sự tốt lành, trong sạch; vì thế mà chúng ta có những danh từ: "thánh thiện", "thánh khiết". Chúng ta thường nghĩ rằng "thánh" là trái ngược với sự ác và sự ô uế. Từ sự suy nghĩ đó, chúng ta kết luận rằng: hễ ai không làm điều ác, không phạm sự ô uế thì đó là thánh nhân. Thực ra, không làm điều ác, không phạm ô uế chưa phải là thánh; bởi vì thánh không chỉ có nghĩa là sự vắng mặt của điều ác và sự ô uế, mà còn là sự thể hiện tích cực của sự thiện và sự trong sạch.

Nghĩa đen của chữ "thánh" trong Thánh Kinh là: chỉ có một, và hoàn toàn khác với tất cả những thứ khác, hoàn toàn riêng biệt với tất cả những thứ khác. Trong ý nghĩa đó, Đức Chúa Trời là Đấng Thánh, vì Ngài chỉ có một, và hoàn toàn khác biệt với muôn sự. Chỉ Đức Chúa Trời là Đấng Tự Có và Còn Đến Mãi Mãi; chỉ Đức Chúa Trời là sự sống và là nguồn của sự sống. Danh xưng Giê-hô-va là tên tự xưng của Ngài, và có nghĩa: Ta là Đấng Tự Có và Hằng Có! (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14, 15). Vì muôn vật, từ những vật thấy được cho đến những vật không thấy được, đều do Đức Chúa Trời dựng nên, cho nên Đức Chúa Trời khác với muôn vật và biệt riêng với muôn vật.

 

II. Kính sợ Đức Giê-hô-va

 

Chữ "kính sợ" trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là: "tôn kính trong tiêu chuẩn đạo đức". Vua Đa-vít trong Thi Thiên 19:9 gọi đó là "sự kính sợ trong sạch" và là "sự kính sợ còn đến đời đời". Kính sợ ở đây không hề có sự hãi hùng. Thánh Kinh chép:

"Quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương, nhưng sự yêu thương trọn vẹn thì cắt bỏ sự sợ hãi; vì sự sợ hãi có hình phạt, và kẻ đã sợ hãi thì không được trọn vẹn trong sự yêu thương." (1 Giăng 4:19).

Sự kính sợ ở đây là sự tôn kính dẫn đến sự yêu thương, thờ phượng, và vâng phục Đức Chúa Trời. Sự kính sợ Chúa thật lòng luôn luôn thể hiện: tình yêu của chúng ta dành cho Chúa, sự thờ phượng của chúng ta dành cho Chúa, và sự vâng phục của chúng ta dành cho Chúa.

 

1. Yêu thương

"Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước!" (1 Giăng 4:19). Chúng ta yêu Chúa hơn cả mạng sống của mình (Giăng 15:13).

2. Thờ phượng

Chúng ta thờ phượng Chúa bằng tâm thần và bằng lẽ thật: "Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy." (Giăng 4:24). Chúng ta thờ phượng Chúa bằng cách dâng hiến thân thể của mình cho Chúa (Rô-ma 12:1).

3. Vâng phục

Chúng ta vâng phục Chúa theo gương Đức Chúa Jesus: "Vâng phục cho đến chết!" (Phi-líp 2:8); thậm chí chết bằng những cái chết nhục nhã và tàn khốc nhất!

 

Sự kính sợ Chúa không phải là một chọn lựa mà là một mệnh lệnh:

"Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi." (Lu-ca 10:27).

Chữ "kính mến" trong bản dịch Việt ngữ của chúng ta được dịch từ động từ "agapao" của tiếng Hy-lạp, có nghĩa là "yêu vô điều kiện", "yêu mặc dầu", yêu đến nỗi có thể chết cho người mình yêu (Giăng 15:13).

Chữ "lòng", trong nguyên tác là "trái tim", dùng để diễn tả trung tâm điểm của toàn vẹn một con người, tức là trung tâm điểm của tâm thần, linh hồn, và thể xác chúng ta.

Chữ "linh hồn" chỉ về toàn bộ sự sống trong chúng ta; nghĩa là mục đích của đời sống chúng ta và niềm vui trong đời sống của chúng ta là kính mến Chúa. Khi chúng ta "hết linh hồn" kính mến Chúa thì linh hồn chúng ta sẽ được Chúa bồi bổ lại, được Chúa làm cho vui vẻ, và được Ngài bảo hộ (Thi Thiên 23:3; 94:19; 97:10).

Chữ "sức" chỉ về toàn bộ năng lực của chúng ta; nghĩa là tất cả phương tiện, tài năng, sức mạnh của chúng ta được dâng hiến cho Chúa, dùng vào công tác phục vụ Ngài, làm những việc lành mà Ngài đã sắm sẵn cho chúng ta. Khi chúng ta "hết sức" kính mến Chúa thì chính Đức Chúa Jesus Christ thêm sức cho chúng ta để khiến cho chúng ta làm những việc lớn hơn Ngài đã làm khi Ngài nhập thế làm người, và trở nên "trọn vẹn như Cha chúng ta ở trên trời là trọn vẹn" (Phi-líp 4:13; Giăng 14:12; Ma-thi-ơ 5:48).

Chữ "trí" chỉ về toàn bộ nhận thức của chúng ta; nghĩa là chúng ta luôn nghĩ về Chúa, suy gẫm về Chúa, học biết về Chúa qua lời của Ngài. Khi chúng ta "hết trí" kính mến Chúa thì Đức Thánh Linh sẽ ban sự thông sáng cho chúng ta và dẫn chúng ta "vào mọi lẽ thật" (Giăng 16:13).

Câu phán trên đây của Đức Chúa Jesus có thể diễn ý như sau:

"Hãy yêu Chúa vô điều kiện bằng toàn thể tâm thần, linh hồn, và thể xác của ngươi, nghĩa là yêu Chúa với tất cả sự sống, tất cả năng lực, và tất cả lý trí của ngươi!"

 

III. Nhìn biết Đấng Thánh

 

Sự kính sợ Chúa là khởi đầu của sự khôn ngoan; và sự khôn ngoan dẫn chúng ta đến với sự nhận biết Chúa, thông biết lẽ thật; khiến chúng ta được giải phóng khỏi sự ngu muội, tội lỗi, và sự chết! Nhìn biết Chúa là nhìn biết bản thể và thuộc tính của Ngài. Nhìn biết Chúa là nhìn biết thánh ý của Ngài cho chúng ta, và qua đó, chúng ta biết được: mục đích, ý nghĩa, và nếp sống của chính mình.

1. Nhìn biết bản thể của Chúa

Là nhìn biết Đức Chúa Trời Hằng Sống: Thánh Khiết, Công Chính, và Yêu thương.

2. Nhìn biết thuộc tính của Chúa

Là nhìn biết Đức Chúa Trời Hằng Sống: Toàn Tại, Toàn Tri, và Toàn Năng

3. Nhìn biết thánh ý của Chúa

Là nhìn biết Đức Chúa Trời Hằng Sống:

a) muốn cho mọi người được cứu và thông biết lẽ thật:

"Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật." (1 Ti-mô-thê 2:4)

b) muốn cho mọi người được làm con nuôi của Ngài:

"Bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài." (Ê-phê-sô 1:5)

c) muốn cho mọi người được nên thánh:

"Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:3)

d) muốn cho mọi người tạ ơn Ngài trong mọi sự:

"Trong mọi sự phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:18)

e) muốn cho mọi người làm việc lành mà Ngài đã sắm sẵn:

"Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo." (Ê-phê-sô 2:10)

F) muốn cho mọi người nhẫn nại, chịu khổ trong khi làm lành:

"Vậy những kẻ chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy cứ làm lành mà phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín." (1 Phi-e-rơ 4:19)

g) muốn cho mọi người không bị lừa đảo mà lạc đạo nhưng rao giảng lẽ thật trong sự yêu thương:

"14 Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc, 15 nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ." (Ê-phê-sô 4:14, 15)

 

Kết luận

 

Chúng ta thực sự phải kính sợ Đức Giê-hô-va, Đấng Tự Có và Còn Đến Mãi Mãi, Đấng tạo dựng nên và tể trị muôn loài vạn vật, là Nguồn Sự Sống. Sự kính sợ đó phải được thể hiện bằng hành động trong nếp sống của chúng ta.

Sự kính sợ Chúa khởi đầu cho sự khôn ngoan; sự khôn ngoan dẫn đến sự nhìn biết Chúa; và sự nhìn biết Chúa dẫn đến sự sống đời đời:

"Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Đấng Cha đã sai đến." (Giăng 17:3).


Chúa Nhật 21/01/2007

Share This:

Ý Chúa

1,824 views
I. Ý muốn của Đức Chúa Trời là mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật
Thánh Kinh cho biết tất cả mọi người đều đã phạm tội, nghĩa là loài người chống nghịch lại Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng nên muôn loài. Tội lỗi là không thờ phượng Đức Chúa Trời và vi phạm những tiêu chuẩn đạo đức của Ngài. Thánh Kinh khẳng định lòng người là xấu xa và dối trá hơn muôn vật, không ai có thể dò biết được, và chính chúng ta cũng nhận biết sự thật phủ phàng đó, [1]. Tội lỗi gây ra đau khổ, bất công, và dẫn đến sự chết, [2]. Sự chết mà chúng ta đang nhìn thấy mỗi ngày và chắc chắn một ngày kia chính mình sẽ trải qua chỉ là sự phân rẽ tạm thời giữa linh hồn và thể xác của chúng ta, đã là kinh khiếp, nhưng Thánh Kinh cho biết, còn có một sự chết nữa, gọi là sự chết thứ hai. Một ngày kia, Đức Chúa Trời sẽ tiêu diệt thế gian tội lỗi này và Ngài sẽ khiến mỗi người sống lại trong một thân xác mới để ra trước tòa phán xét về mỗi việc đã làm trong khi đang sống trong thế gian. Vì Đức Chúa Trời là công chính cho nên mỗi người sẽ bị hình phạt tùy theo từng tội đã phạm; nhưng bản án chung là đời đời bị xa cách Chúa và bị giam giữ trong hỏa ngục. Thánh Kinh gọi đó là sự chết thứ hai, [3].
Tuy nhiên, vì Đức Chúa Trời là tình yêu, và Ngài yêu thương loài người trên hết mọi sự, cho nên Đức Chúa Trời đã ban cho loài người sự cứu rỗi. Sự cứu rỗi đó được thực hiện bằng cách Con Một của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Jesus phải nhập thế làm người để chết thay cho cả nhân loại. Cái chết của Đức Chúa Jesus trên thập tự giá thỏa mãn sự công chính của Đức Chúa Trời là tội lỗi phải bị hình phạt nhưng cũng bày tỏ tình yêu của Ngài đối với nhân loại, vì nhờ sự chết của Đức Chúa Jesus mà nhân loại được tha tội và làm cho sạch tội. Vì thế, thánh ý đầu tiên của Đức Chúa Trời đối với nhân loại đang chết mất trong tội lỗi là: Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật.
Được cứu rỗi là được cứu ra khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi. Được cứu ra khỏi sức mạnh của tội lỗi là được cứu ra khỏi sự phạm tội. Được cứu ra khỏi hậu quả của tội lỗi là được cứu ra khỏi hỏa ngục vì Đức Chúa Jesus đã gánh chịu hình phạt thế cho nhân loại. Để nhận được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, tội nhân phải ăn năn tội, tức là thật lòng muốn từ bỏ tội, và tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus.
Hiểu biết lẽ thật là hiểu biết số phận hư mất của loài người và hiểu biết rằng, ngoài sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, loài người không thể tự cứu và cũng không thể nhờ ai khác cứu mình ra khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi.
"Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật." (1 Ti-mô-thê 2:4)
"Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời." (Giăng 3:16)
"Đây là ý muốn của Cha ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt." (Giăng 6:40)
"Nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta, là Đấng phó mình vì tội lỗi chúng ta, hầu cho cứu chúng ta khỏi đời ác nầy, y theo ý muốn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta." (Ga-la-ti 1:3, 4)
"Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn." (2 Phi-e-rơ 3:9)
 
II. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta được làm con nuôi của Ngài
Khi một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus trên thập tự giá thì người ấy lập tức nhận được sự tha tội và sự làm cho sạch tội, được ban cho quyền làm con của Đức Chúa Trời. Được ban cho quyền làm con của Đức Chúa Trời là được Ngài nhận làm con nuôi và đồng kế nghiệp với Con Một của Ngài là Đức Chúa Jesus. Kế nghiệp có nghĩa là được hưởng tất cả những gì thuộc về Đức Chúa Trời, từ sự vinh hiển, quyền phép cai trị, và sự giàu có vô lượng vô biên, cho đến sự sống đời đời, [4].
"12 Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài,13 là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy." (Giăng 1:12, 13)
"3 Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời, 4 trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, 5 bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài, 6 để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài!" (Ê-phê-sô 1:3-6)
"Ấy cũng là trong Ngài mà chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp, như đã định trước cho chúng ta được điều đó, theo mạng của Đấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán." (Ê-phê-sô 1:11)
 
III. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta phải nên thánh
Thánh khiết là thuộc tính của Đức Chúa Trời. Khi Ngài ban quyền làm con cho những ai thực lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Ngài qua Đức Chúa Jesus thì Ngài cũng ban luôn cho họ sự thánh hóa nghĩa là làm cho họ được sạch tội và trở nên trọn vẹn như chính mình Ngài, [5]. Chúng ta không thể tự mình làm nên thánh nhưng phải nhờ vào huyết chuộc tội của Đức Chúa Jesus rửa sạch tội lỗi chúng ta, nhờ vào quyền năng tái sinh của Đức Thánh Linh để dựng lại một tâm thần mới, một lương tâm trong sạch cho chúng ta, và nhờ vào lời hằng sống của Chúa là Thánh Kinh, [6].
"Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời," (Ê-phê-sô 1:4)
"Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:3)
"Bởi chưng Đức Chúa Trời chẳng gọi chúng ta đến sự ô uế đâu, bèn là sự nên thánh vậy." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:7)
 
IV. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta phải tạ ơn Chúa trong mọi sự
Đức tin của chúng ta được thể hiện khi chúng ta tạ ơn Chúa trong mọi sự. Cuộc sống của người tin nhận Chúa dường như có những đau đớn, khó khăn, hoạn nạn, thiếu thốn, bắt bớ… có khi còn nhiều hơn cả những người không tin nhận Chúa; nhưng nếu hai con chim sẻ chỉ đáng giá một đồng tiền không thể rơi xuống đất nếu không bởi ý Chúa thì làm sao có điều gì xảy ra trong đời sống của chúng ta mà không nằm trong thánh ý của Chúa? [7]. Mà nếu Chúa đã cho phép một sự gì xảy ra trong đời sống của chúng ta thì chắc chắn điều đó là phước hạnh. Dĩ nhiên, nếu chúng ta phạm tội thì sẽ gánh lấy hậu quả của sự phạm tội, và Chúa cho phép hậu quả đó xảy ra là vì sự công chính của Ngài, đồng thời cũng là sự sửa phạt của Ngài để khiến chúng ta ăn năn, [8].
"Trong mọi sự phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:18)
"Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra." (Hê-bơ-rơ 13:15)
"Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định." (Rô-ma 8:28)
"6 Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. 7 Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ." (Phi-líp 4:6, 7)
 
V. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta phải làm mọi việc lành
Đức Chúa Trời là thiện; sự nhơn từ Ngài còn đến đời đời! Vì vậy mọi việc Đức Chúa Trời làm là tốt lành, và Ngài cũng sắm sẵn cho chúng ta những việc tốt lành để làm theo Ngài. Khi chúng ta làm những việc lành là chúng ta bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời cho mọi người, khiến cho họ tôn vinh Chúa và khiến cho những kẻ không tin phải ngậm miệng trước sự thiện và sự nhơn từ của Đức Chúa Trời chiếu sáng qua các việc lành của chúng ta.
"Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời." (Ma-thi-ơ 5:16)
"Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo." (Ê-phê-sô 2:10)
"Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời." (1 Phi-e-rơ 2:15)
 
VI. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta phải chịu khổ trong khi làm lành
Trong khi làm lành, chắc chắn chúng ta sẽ chịu khổ. Khổ vì chịu khó khăn, thiếu thốn để giúp người khác, khổ vì bị ganh tỵ, khổ vì không chìu theo những sự sai trái, bất công, độc ác… Nhưng lời Chúa hứa chắc cho chúng ta rằng sự vinh hiển và Thánh Linh của Chúa ở cùng chúng ta, và sự vui mừng lớn sẽ ban cho chúng ta trong ngày Đấng Christ trở lại.
"Đó đủ chứng cớ về sự đoán xét công bình của Đức Chúa Trời, Ngài muốn khiến anh em nên xứng đáng cho nước Ngài, và vì nước đó mà anh em chịu khổ." (2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:5)
"12 Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. 13 Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót. 14 Ví bằng anh em vì cớ danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì anh em có phước; vì sự vinh hiển và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đậu trên anh em." (1 Phi-e-rơ 4:12-14)
"Vậy những kẻ chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy cứ làm lành mà phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín." (1 Phi-e-rơ 4:19)
"Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ." (2 Ti-mô-thê 3:12)
 
VII. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta không bị lạc đạo nhưng lấy lòng yêu thương rao giảng lẽ thật
Đây là một điều vô cùng quan trọng đối với con dân của Chúa. Đức Thánh Linh đã khẳng định Satan có thể mạo làm thiên sứ sáng láng và Ngài cũng báo trước trong những ngày sau rốt sẽ có sự bội đạo. Đức Chúa Jesus đã cảnh giác chúng ta hãy coi chừng Christ giả, tiên tri giả…, [9] vì vậy, sự lầm lạc dẫn đến sự bội đạo là điều ắt sẽ xảy ra; nhưng ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta không bị mắc mưu của ma quỹ, không bị lạc đạo, mà là đứng vững trong ơn Chúa để rao giảng lẽ thật của Ngài trong tình yêu thương.
"14 Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc, 15 nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ." (Ê-phê-sô 4:14, 15)
 
Kết luận
Chúng ta hãy cùng nhau suy gẫm về bảy thánh ý của Chúa đã trình bày trên đây. Xin Chúa cho chúng ta nhận biết mình đang ở đâu trong sự làm theo ý Chúa. Chúng ta đã được Đức Chúa Trời cứu rỗi nhưng chúng ta phải có lòng ăn năn tội và tiếp nhận ơn cứu rỗi của Ngài thì chúng ta mới có sự cứu rỗi. Có sự cứu rỗi rồi, chúng ta phải tiếp tục vâng phục Chúa, làm theo thánh ý của Ngài thì chúng ta mới được tiếp tục ở trong sự cứu rỗi của Ngài; đó là ý nghĩa của câu: "Đức tin phải thể hiện qua việc làm". Bởi vì: Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu;Nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. (Ma-thi-ơ 7:21)
"Vậy chớ nên như kẻ dại dột, nhưng phải hiểu rõ ý muốn của Chúa là thế nào." (Ê-phê-sô 5:17)
"Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào."
(Rô-ma 12:2)
"Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời." (1 Giăng 2:17)
 

14/01/2007

Chú thích:
[1] Rô-ma 1:18-32; 3:23; Giê-rê-mi 17:9.
[2] Rô-ma 6:23; Hê-bơ-rơ 9:27.
[3] 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9; Khải Huyền 20:11-15; 21:8.
[4] Ê-phê-sô 1:14, 18; Cô-lô-se 1:12; 3:24; Hê-bơ-rơ 1:14; 9:15; 1 Phi-e-rơ 1:4; Khải Huyền 21:7; Rô-ma 8:17; Tít 3:7; Gia-cơ 2:5; Giăng 17:22; 2 Phi-e-rơ 1:4; Khải Huyền 3:12; Giăng 3:16; 1 Phi-e-rơ 1:3, 4.
[5] Khải Huyền 1:6; Hê-bơ-rơ 10:10, 14, 29; 13:12; Ma-thi-ơ 5:48; Giăng 17:17.
[6] Thi Thiên 51:10; Rô-ma 12:2; Hê-bơ-rơ 9:14; 10:22; 1 Phi-e-rơ 3:4.
[7] Ma-thi-ơ 10:29; Lu-ca 12:6.
[8] 1 Cô-rinh-tô 1:32; Hê-bơ-rơ 12:5-11; Khải Huyền 3:19.
[9] 2 Cô-rinh-tô 11:14, 15; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3; 2 Ti-mô-thê 3:1-13; Ma-thi-ơ 24:24, 25.

Share This:

Khát vọng đầu năm

2,237 views
I. Nguyên cớ của khát vọng
Chữ "mơ ước" và "thèm khát" trong câu "Đức Chúa Trời ôi! linh hồn tôi mơ ước Chúa,
Như con nai cái thèm khát khe nước.
" trong nguyên tác của Thánh Kinh đều là cùng một chữ, và có nghĩa là "kêu van, mong đợi".
Khát vọng trong tiếng Hán Việt có nghĩa là thèm muốn và mong ngóng. Người ta có thể thèm muốn nhưng không mong ngóng. Một người có thể thèm ăn cơm vì đã chán ăn hambergers; sự thèm ăn cơm đó phát xuất từ sở thích, có thì tốt, không có cũng không sao. Nhưng đối với một người tù bị bỏ đói trong trại cải tạo thì sự thèm ăn của anh ta là một khát vọng; khi thèm ăn vì bị bỏ đói thì bất kỳ thức ăn nào cũng trở thành tuyệt vời và cần thiết. Nhu cầu phát sinh ra khát vọng.
Trước hết, Đức Chúa Trời là nhu cầu của chúng ta. Chúng ta không chỉ ưa thích, yêu mến Chúa mà chúng ta còn cần có Chúa. Chúa đối với chúng ta quan trọng và cần thiết như dòng nước mát trong khe đối với một con nai cái đang thiếu nước. Hình ảnh con nai cái được dùng ở đây có một ý nghĩa hết sức linh động. Khi nai cái có mang, thường vào mùa khô, nước trở nên khan hiếm mà cơ thể của nó thì cần rất nhiều nước trong khi đang mang thai. Bình thường nai cái không cần phải ở quanh quẫn ở những nơi có nước, nhưng khi có mang, nai cái chọn ở gần bên cạnh chỗ khe nước trong lành, tươi mát để lúc nào cũng được xoa dịu cơn khát.
Tác giả Thi Thiên 42 tự ví sự thèm khát Chúa của mình như sự thèm khát khe nước của một con nai cái vì ông muốn nói lên rằng, Chúa là sự sống của ông, ông thèm khát Chúa, nguồn của sự sống, và ông muốn được ở gần bên Chúa, vì ông không thể thiếu Chúa.
Về mặt cuộc sống vật chất, chúng ta có thể có nhiều khát vọng khác nhau về vật chất trong cuộc đời này. Nhưng về mặt cuộc sống tâm linh, chúng ta chỉ có một khát vọng duy nhất mà thôi, đó là khát vọng về Đức Chúa Trời, vì Chúa là tất cả của chúng ta! Trong Chúa chúng ta có mọi sự!
"Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?" (Rô-ma 8:32)
 
II. Đối tượng của khát vọng
Đối tượng của sự thèm khát, mong ngóng được nêu rõ là Đức Chúa Trời nhưng không phải là một Đức Chúa Trời nào đó của bao nhiêu tôn giáo, tín ngưỡng trong thế gian này, mà là "Đức Chúa Trời Hằng Sống". Đức Chúa Trời Hằng Sống là Đức Jehovah, Đấng Tự Có và Còn Đến Mãi Mãi, Đấng Đời Đời, Đấng Cội Nguồn Của Muôn Vật, là Đấng mà "ở trong Ngài chúng ta được sống, động, và có" (Công Vụ 17:26), là Đấng mà tác giả Hê-bơ-rơ đã tuyên xưng:
"Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại." (Hê-bơ-rơ 4:13).
Đối tượng của khát vọng không phải là những phước hạnh Chúa ban cho chúng ta mà là chính bản thể của Chúa, là sự thánh khiết, sự công chính, và sự yêu thương của Ngài. Chúng ta thèm khát sự thánh khiết đẹp đẽ của Chúa, chúng ta thèm khát sự công chính uy nghi của Chúa, và chúng ta thèm khát sự yêu thương ngập tràn nhân từ và thương xót của Chúa. Chính vì sự thèm khát Đức Chúa Trời của chúng ta mà Ngài ban cho chúng ta chính mình Ngài qua "lời hứa rất quý lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bổn tánh Đức Chúa Trời." (2 Phi-e-rơ 1:4).
Vì đối tượng của khát vọng là Đức Chúa Trời nên khi tìm đến Ngài chúng ta không thể "đi tay không ra mắt Ngài", [1]. Chúng ta phải ra mắt Chúa với lễ vật. Những lễ vật đẹp lòng Đức Chúa Trời và phải có khi chúng ta ra mắt Chúa đó là: "lòng đau thương thống hối" về tội lỗi của chúng ta, sự vâng lời của chúng ta, và sự nhân từ thương xót của chúng ta đối với những người lân cận.
"Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu." (Thi Thiên 51:17)
"Đức Giê-hô-va há đẹp lòng của lễ thiêu và của lễ thù ân bằng sự vâng theo lời phán của Ngài ư? Vả, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ; sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực." (1 Sa-mu-ên 15:22)
"Hãy đi, và học cho biết câu nầy nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ. Vì ta đến đây không phải để kêu kẻ công bình, song kêu kẻ có tội." (Ma-thi-ơ 9:13)
 
III. Chiều sâu của khát vọng
Tín đồ của các tôn giáo trong thế gian không thể nào có khát vọng về các thần tượng mà họ đang thờ lạy. Họ không có một sự tương giao nào với những thần tượng hư không vì chúng nó không có thật. Những sự thờ phượng, kêu xin của họ trước các thần tượng hư không ấy chỉ để bày tỏ những thèm khát về nhu cầu của thể xác và cuộc sống vật chất mà thôi.
Trong tâm thần của một ngưòi không có Chúa, họ chẳng nhận biết được Đức Chúa Trời, vì tâm thần họ đang chết. Khi kinh nghiệm được sự cứu rỗi của Chúa, tâm thần được Chúa tái sinh, thì một ngưòi mới có thể nhận biết Chúa và khao khát Chúa.
Khát vọng về Đức Chúa Trời, vì thế, chỉ thuộc về con dân của Chúa. Khát vọng về Đức Chúa Trời, vì thế, không phải là một khát vọng phát xuất từ nhu cầu của thân thể hay sự sống vật chất, mà là một nỗi khát vọng phát xuất từ nhu cầu sâu kín trong linh hồn của một người. Khát vọng về Đức Chúa Trời, vì thế, hoàn toàn là một khát vọng thuộc linh.
Khát vọng thuộc linh sẽ được thoả mãn một cách thuộc linh. Chính Đấng Christ đã hứa:
"Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy." (Giăng 7:37, 38)
 
Kết luận
Chúng ta hãy cùng nhau bắt đầu một năm mới với khát vọng về Đức Chúa Trời. Hãy làm mới lại tình yêu thuở ban đầu chúng ta đã dành cho Chúa. Hãy dọn lòng thật sạch để nhận đầy sức sống mới dư dật từ nơi Chúa. Hãy dành thêm thời gian trong ngày để tương giao với Chúa. Hãy tìm Chúa, yêu Chúa, và nhớ Chúa trong mọi nơi, mọi lúc! Hãy chuẩn bị mọi lễ vật đẹp lòng Chúa! Hãy nôn nao, và khắc khoải thưa với Chúa rằng: Lạy Chúa! cho đến chừng nào con mới được ra mắt Chúa?
Ngài là Đấng hay thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài! (Hê-bơ-rơ 11:6).
Huỳnh Christian Timothy
07/01/2007
Chú thích:
[1] Xuất-ê-díp-tô Ký 23:15; 34:20; Phục Truyền 16:16.

Share This:

A. W. Tozer: Cần Thiết Và Nguy Hiểm Của Tổ Chức

2,374 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Về cơ bản mà nói, tổ chức là sự sắp đặt nhiều phần của một tổng thể vào trong một mối quan hệ với nhau để có thể đạt được mục đích tối hậu. Điều này có thể đạt được, bởi sự nhất trí hay sự cưỡng bách, tùy thuộc vào các hoàn cảnh. Một mức độ tổ chức nào đó là cần thiết ở khắp nơi xuyên suốt cõi vũ trụ được tạo dựng và trong mọi xã hội loài người. Không có nó sẽ không có khoa học, không có chính phủ, không có các đơn vị gia đình, không có nghệ thuật, âm nhạc, văn chương, cũng như không có bất kỳ hoạt động sáng tạo nào.

Cuộc sống đòi hỏi sự tổ chức. Không có điều gì giống như sự sống ngoại trừ những môi trường mà trong đó có thể hiện ra được chính mình. Nó không thể tồn tại như là một chi thể độc lập khỏi một thân thể có tổ chức. Sự sống chỉ được tìm thấy nơi nào có thân thể, trong một hình hài nào đó mà nó có thể trú ngụ. Và nơi nào có thân thể và các hình thể, nơi đó có sự tổ chức. Chẳng hạn như một con người là tổng thể các bộ phận được tổ chức và liên kết lại, và qua những bộ phận này, huyền nhiệm của sự sống hội đủ điều kiện để hiện hữu. Khi các bộ phận, vì bất cứ lý do gì đó, trở nên hỗn độn, không còn tổ chức nữa, sự sống lìa khỏi và con người sẽ chết đi.

Xã hội đòi hỏi sự tổ chức. Nếu con người phải sống với nhau trên thế giới này, thì họ phải được tổ chức trong một hình thức nào đó. Điều này đã được ghi nhận qua mọi thời đại cũng như mọi nơi chốn và được nhận thấy trên mọi cấp bậc của xã hội loài người từ những bộ lạc sống trong rừng rậm cho đến những thể chết trên toàn cầu. Một cách lý tưởng mà nói, mục đích của chính phủ là để đạt được trật tự với sự ràng buộc tối thiểu trong khi đảm bảo sự tự do tối đa cho từng cá nhân.

Việc có một số giới hạn sự tự do của cá nhân là tốt và cần thiết đã được thừa nhận bởi tất cả những con người thông minh; việc có quá nhiều hạn chế là xấu cũng được mọi người thừa nhận. Sự bất đồng nổi lên khi chúng ta cố gắng định nghĩa những từ ngữ tương đối như “một số”, “quá nhiều”, hay “quá ít”. Thế thì quá nhiều là nhiều bao nhiêu? Và một số là ít bao nhiêu? Nếu điều này có thể giải quyết được, hòa bình sẽ bất ngờ viếng thăm quốc hội và nghị viện, đảng Dân chủ và những người tự do sẽ nằm xuống với đảng Cộng hòa và những người bảo thủ, rồi một đứa bé cũng có thể lãnh đạo toàn quốc.

Sự khác biệt giữa tình trạng nô lệ và sự tự do chỉ có một chút xíu mà thôi. Ngay cả những nước chuyên chế còn có một chút tự do, và các công dân của những nước tự do phải cam chịu một số hạn chế nào đó. Chính sự cân nhắc giữa hai điều này quyết định một nước nào đó là nô lệ hay tự do. Không một công dân sáng suốt nào tin rằng mình tuyệt đối tự do. Người đó biết rằng sự tự do của mình phải bị cắt giảm như thế nào đó vì lợi ích của tất cả mọi người. Điều tốt nhất có thể hy vọng được là sự giới hạn đó sẽ được giữ ở mức tối thiểu. Sự giới hạn tối thiểu này loài người gọi là “Tự Do”, và thật quý giá làm sao khi con người sẵn sàng mạo hiểm sự sống mình vì nó. Thế giới phương Tây đã có hai cuộc chiến lớn trong vòng 25 năm để gìn giữ cán cân của sự tự do và thoát khỏi những ràng buộc mà chủ nghĩa đế quốc xã và chủ nghĩa quân phiệt toan áp đặt lên nó.

Có Chúa làm trung tâm và hướng về Hội Thánh trong tư tưởng của mình, tôi đã và đang trải qua nhiều năm lo lắng vì khuynh hướng tổ chức cộng đồng Cơ Đốc cách thái quá, và vì lý do này tôi đã khiến nó quay sang chống lại tôi. Người ta cho rằng tôi không tin nơi sự tổ chức. Sự thật hoàn toàn khác.

Người nào muốn chống lại mọi sự tổ chức trong Hội Thánh thì cần phải là người ngu dốt về những thực tế của sự sống. Nghệ thuật là cái đẹp được tổ chức; Âm nhạc là âm thanh được tổ chức; Triết học là tư tưởng có tổ chức; Khoa học là tri thức được tổ chức; Chính phủ cũng chỉ là một xã hội được tổ chức. Và Hội Thánh thật của Đấng Christ là gì nếu không phải là một huyền nhiệm được tổ chức?

Trái tim đang đập của Hội Thánh là sự sống – trong một câu nói của Henry Scougal, “Sự sống của Đức Chúa Trời trong linh hồn của con người.” Sự sống này, cùng với sự hiện diện thật của Đấng Christ trong Hội Thánh, cấu thành Hội Thánh như một điều rất thiêng liêng, một huyền nhiệm, một phép lạ. Nhưng nếu không có thực thể, hình hài và trật tự, sự sống thiêng liêng này sẽ không có nơi trú ngụ, và nó không có cách gì để thể hiện chính mình cho cộng đồng.

Vì lý do đó, Thánh Kinh Tân Ước nói nhiều đến sự tổ chức. Các thư tín có tính chất mục vụ của Phao-lô và những lá thư ông viết cho tín hữu Cô-rinh-tô cho thấy vị sứ đồ vĩ đại là một nhà tổ chức. Ông nhắc nhở Tít rằng ông đã để Tít ở Cơ-rết để thiết lập trật tự cho mọi việc đang xáo trộn và sắp xếp các trưởng lão trong mỗi thành phố. Điều này rõ ràng chỉ có nghĩa là Tít đã được vị sứ đồ của chúng ta ủy nhiệm để sắp đặt trật tự trên những nhóm tín hữu khác nhau sống trên đảo, và chỉ có thể qua tổ chức mới có được trật tự.

Cơ Đốc nhân có khuynh hướng đi lang thang theo một số hướng vì họ không hiểu mục đích của sự tổ chức hay những mối nguy hiểm theo sau nó nếu như nó tuột khỏi tầm tay. Một số không có sự tổ chức gì cả, và tất nhiên, hậu quả là sự lẫn độn và vô trật tự; những điều này hoàn toàn không thể giúp loài người đem vinh hiển đến cho Chúa. Những người khác thì thay thế sự tổ chức cho sự sống, và trong khi cái tên còn sống thì họ đã chết rồi. Còn những người khác trở nên say sưa với các luật lệ và quy tắc đến độ họ tăng chúng lên mà không có một lý do nào cả, rồi chẳng bao lâu sau tính tự phát sẽ bùng lên trong Hội Thánh, và sự sống bị tống khứ ra khỏi đó.

Chính sai lầm này là điều mà tôi lo lắng nhất. Nhiều nhóm Hội Thánh đã tàn lụi do sự tổ chức nhiều quá mức, cũng như những hội khác do sự tổ chức quá ít ỏi. Những nhà lãnh đạo Hội Thánh thông minh sẽ phòng ngừa cả hai thái cực đó. Một người có thể chết do hậu quả của việc áp huyết quá thấp, cũng như khi áp huyết quá cao. Vấn đề quan trọng trong tổ chức Hội Thánh là khám phá được sự quân bình của Thánh Kinh giữa hai thái cực đó (quá chú trọng tổ chức và vô tổ chức) và tránh xa chúng. Thật là đau lòng khi thấy một nhóm Cơ Đốc nhân phước hạnh, hình thành rất giản dị và được cột chặt bởi dây đai của tình yêu thiên thượng, từ từ mất dần đặc tính giản dị của họ, bắt đầu cố gắng bình thường hóa từng sự thúc đẩy ngọt ngào của Thánh Linh và chết dần từ bên trong. Nhưng đó lại là cái hướng mà hầu như tất cả các hệ phái Cơ Đốc đã đi trong suốt lịch sử, và bất chấp những lời cảnh tỉnh bởi Đức Thánh Linh cũng như lẽ thật Kinh Thánh, đây vẫn là cái hướng mà hầu hết các nhóm Hội Thánh ngày nay đang đi.

Theo thông thường thì khi Hội thánh gặp phải mối nguy hiểm nào đó đang xảy ra trong tình trạng tổ chức bị xáo trộn và muốn kềm chế nó thì điều đầu tiên là làm ngược lại sự tổ chức hiện đang có, và chạy ùa vào sự phức tạp để thay đổi giống như bầy vịt chạy ào xuống ao. Điều nầy xuất phát từ một ước muốn, tự nhiên nhưng xác thịt, của một nhóm thiểu số những người được ơn. Họ mong muốn đưa số đông còn lại của những người ít được ơn hơn trong Hội Thánh vào một chỗ, để rồi đẩy những người thiếu ơn nầy đến nơi nào đó để những người này sẽ không chặn đứng đường tiến của những khát vọng cao xa mà họ có.

Một nguyên nhân khác cho sự tổ chức thái quá và nặng nề của chúng ta là sự sợ hãi. Các Hội Thánh và các cộng đồng được những người biệt riêng ra để thiết lập với lòng can đảm, đức tin và một trí tưởng tượng được thánh hóa có vẻ đã không thể tự phát triển với cùng một mức độ thuộc linh trước đó chỉ một hay hai thế hệ. Những tổ phụ thuộc linh đã không thể sản sinh trong hậu duệ mình lòng can đảm và đức tin ngang bằng với của họ. Những tổ phụ đó có Đức Chúa Trời và có rất ít những điều khác, nhưng hậu duệ của họ đã đánh mất khải tượng mình và đang tìm kiếm những phương pháp cũng như những cơ cấu tổ chức vì quyền lực mà lòng họ bảo rằng họ đang thiếu. Rồi thì những quy luật và quyền ưu tiên đông cứng lại thành một cái vỏ bọc, nơi mà họ có thể trốn chạy khỏi vấn đề. Lúc nào việc rúc đầu chạy trốn cũng dễ hơn và an toàn hơn việc đứng ra tranh đấu trên chiến trường.

Trong toàn bộ đời sống sa ngã của chúng ta có một hấp lực mạnh mẽ hướng về sự phức tạp và đẩy xa những điều giản dị, thực tế. Dường như có một điều gì đó thật đáng buồn và không thể chối cãi được đang ở đằng sau sự ham muốn bệnh hoạn của chúng ta hướng về sự tự sát thuộc linh. Chỉ bởi cái nhìn tiên tri sáng suốt, sự thức canh và cầu nguyện cùng với công việc chăm chỉ mới có thể giúp chúng ta đảo ngược xu hướng đó và khôi phục lại vinh quang đã mất. Trong một nghĩa trang cổ gần Plymouth Rock, nơi những tín đồ Thánh Giáo Anh yên nghỉ, có một hòn đá được khắc mấy chữ trang trọng như sau (tôi nhớ sao thì ghi lại vậy): “Những gì cha ông chúng ta đã trả giá rất đắt để giữ gìn, thì chúng ta không được nông nổi vứt bỏ đi.” Vào giai đoạn cuối thế kỷ này, những người Tin Lành chúng ta cần phải thông minh mà áp dụng những lời này cho tình trạng tôn giáo của mình. Chúng ta vẫn là những người theo đạo Tin Lành. Chúng ta phải chống lại sự lìa bỏ tự do tôn giáo của chúng ta. Sự tự do giản dị của Cơ Đốc giáo đầu tiên là điều chúng ta đã đánh mất. Từng cái một, chúng ta đang bỏ rơi những quyền đã được chính Chúa mua bởi huyết của giao ước đời đời cho chúng ta, đó là quyền được sống thật, quyền được vâng theo Thánh Linh, quyền được suy nghĩ những tư tưởng riêng tư của chúng ta, quyền được làm những gì chúng ta muốn với cuộc đời mình, quyền quyết định dưới ý muốn của Đức Chúa Trời việc chúng ta sẽ phải làm gì với tiền của mình. 

Và xin nhớ rằng, những mối hiểm họa trong hiện tại của chúng ta không đến từ bên ngoài, bèn là từ bên trong chúng ta.

 

Share This:

Tính sổ cuộc đời

2,183 views
Những sự dại dột lớn nhất của loài người
Trong tất cả những sự dại dột của loài người, nói chung, sự không nhận biết Đức Chúa Trời là sự dại dột lớn nhất – Thánh Kinh khẳng định: "Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: không có Đức Chúa Trời!" – sự dại dột lớn thứ nhì của loài người là không biết chuẩn bị cho ngày chết. Chuẩn bị cho ngày chết không có nghĩa là bỏ tiền ra mua bảo hiểm nhân thọ để thân nhân còn lại có phương tiện xoay sở một khi mình ra đi, hay mua trước một phần đất trong nghĩa trang và để dành ra một số tiền đủ chi phí cho việc an táng. Chuẩn bị cho ngày chết là chuẩn bị cho một cuộc chuyển tiếp từ nơi ở tạm trăm năm của đời này vào trong nơi ở vĩnh viễn của đời sau.
Sự thực hữu đời đời của loài người
Nhiều triết lý và ngay cả tôn giáo cho rằng con người khởi đầu khi được sinh ra và chấm dứt sau khi chết. Theo những triết lý đó, trong khoảng thời gian của một đời người trên thế gian, con người sống theo bản năng như loài thú. Người chẳng qua là một loài thú cao cấp, khôn ngoan hơn, biết sống có tổ chức và hợp quần hơn các loài thú khác.
Tuy nhiên, thực tế chứng minh loài người khác hẳn loài thú. Loài người không chỉ đơn thuần khôn ngoan hơn loài thú mà loài người biết tư tưởng, biết đạo đức, biết hy sinh cho phúc lợi của người khác, biết có Đức Chúa Trời, biết thờ phượng, và có ý thức về sự đời đời. Từ ý thức về sự đời đời dẫn đến khái niệm về một Đức Chúa Trời đời đời, nghĩa là có một thực thể cao siêu tuyệt đối, toàn năng, toàn trí, toàn tại, toàn hữu (một mình trên hết mọi sự, không có điều gì không thể làm, không có điều gì không biết, không có nơi nào không hiện diện, không có bắt đầu và không có chấm dứt).
Thánh Kinh cho biết Đức Chúa Trời đặt để sự đời đời vào trong lòng người cho nên người mới có khái niệm về sự đời đời để có thể nhận thức được Đấng Đời Đời, là Đức Chúa Trời, và công việc của Ngài:
Ngài đã tạo dựng muôn vật tốt lành trong thì của chúng. Ngài cũng khiến cho sự đời đời ở nơi lòng họ, nếu không có sự ấy thì người không thể tìm thấy công việc Đức Chúa Trời làm từ ban đầu, thậm chí cho đến cuối cùng.
(Truyền Đạo 3:11 – Tác giả dịch sát nghĩa)
He has made everything beautiful in its time. Also, He has set eternity in their heart, without which man cannot find out the work that God makes from the beginning even to the end.
(Ecclesiastes 3:11 – Literal Translation of the Holy Bible)
Cũng qua Thánh Kinh, chúng ta biết loài người được Đức Chúa Trời sáng tạo và loài người sẽ còn lại cho đến đời đời. Khoa học chứng minh vật chất không suy tàn, không biến mất mà chỉ biến dạng theo những định luật lý hóa. Loài người có phần xác thịt thuộc về vật chất và phần tâm linh (tâm thần và linh hồn). Dầu khi qua đời thân xác vật chất của loài người có bị tan rã, phân hóa nhưng những yếu tố vật chất cấu tạo nên một người vẫn còn đó, và một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ gọi tất cả mọi người sống lại trong một thân xác mới. Phần tâm thần của loài người là cái nhau nối kết loài người với Đức Chúa Trời, qua đó, loài người nhận biết Chúa, nghe được tiếng Chúa, ghi khắc hình ảnh của Chúa – nghĩa là ghi khắc sự yêu thương, thánh khiết, công chính của Ngài trong lương tâm – và thờ phượng Chúa. Phần linh hồn là bản thể cốt lõi của loài người, là cái tôi, với các chức năng suy luận, cảm xúc, và ý chí. Linh hồn của loài người quyết định ở trong Chúa, nối kết với Chúa, vâng phục Chúa hoặc sống độc lập, tách rời Chúa, đi theo ý riêng. Thánh Kinh gọi quyết định tách rời Chúa, đi theo ý riêng, không vâng phục Chúa là tội lỗi và tuyên phán: "Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết!" (Ê-xê-chi-ên 18:4).
Ý nghĩa của sự chết trong Thánh Kinh
Đối với các triết lý vô thần thì chết là hết! Nhưng Thánh Kinh định nghĩa sự chết rất rõ ràng như sau: Chết có nghĩa là bị cắt đứt với cội nguồn của sự sống là Đức Chúa Trời. Thánh Kinh cho biết có hai sự chết gọi là sự chết thứ nhất và sự chết thứ hai. Sự chết thứ nhất xảy ra khi loài người phạm tội. Hình thức của sự chết thứ nhất là tâm thần bị cắt đứt mối tương giao với Đức Chúa Trời, không còn nhìn biết và thờ phượng Ngài; linh hồn mất đi khả năng yêu thương, công chính, và thánh khiết, khiến loài người tranh chấp và hận thù lẫn nhau; thân xác bị bệnh tật, già yếu, giết chóc mà không còn khả năng kết nối với linh hồn nữa. Trong khi tiến trình của sự chết thứ nhất xảy ra, Đức Chúa Trời ban cho loài người cơ hội được sống lại và sống đời đời trong hạnh phúc nếu loài người chịu tiếp nhận ơn cứu rỗi của Ngài. Thánh Kinh chép:
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài; hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.
(Giăng 3:16)
Tuy nhiên, thế gian luôn luôn có bốn loại người. Loại thứ nhất sẽ không bao giờ tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời vì thần của đời này là ma quỷ đã làm mù lòng họ, khiến họ không còn nhận biết sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nữa. Đạo của Chúa giảng ra cho họ chẳng khác nào những hạt giống vãi ra, rớt trên lối đi chai cứng, chim trời lập tức bay đến cướp đi. Loại thứ nhì có sự hiểu biết, vui mừng nhận lấy đạo của Chúa nhưng không thể chịu đựng nổi sự cực khổ, bị bắt bớ trong nếp sống đạo nên từ bỏ sự cứu rỗi. Đạo của Chúa giảng ra cho họ chẳng khác nào hạt giống vãi ra, rớt trên chỗ đất có nhiều đá sỏi hơn là đất thịt; tuy hạt giống nẩy mầm, lớn lên nhưng không chịu nổi sức nóng của ánh nắng rất cần thiết cho nó. Loại thứ ba tin nhận và sống đạo một thời gian lâu dài nhưng cuối cùng sự lo lắng về đời này hoặc sự ham mê vật chất khiến cho họ bỏ đạo. Những người thuộc loại này ví như chỗ đất thịt mầu mỡ, vừa tiếp nhận hạt giống đạo nhưng cũng vừa tiếp nhận hạt giống đời, ví như là hạt giống của bụi gai. Hạt giống đời và hạt giống đạo cùng lớn lên nhưng theo thời gian, cây đời sẽ ép chết cây đạo. Loại thứ tư có tấm lòng mềm mại tiếp nhận đạo Chúa như đất đã thuần và mầu mỡ. Hạt giống đạo gieo vào lòng họ mạnh mẽ lớn lên theo thời gian và kết quả.
Những người tiếp nhận đạo đứng vững trong đạo Chúa, phần lớn cũng sẽ phải trải qua sự chết thứ nhất như những người không tiếp nhận đạo Chúa hoặc những người tiếp nhận mà không đứng vững trong đạo Chúa. Tuy nhiên, họ không bị đi vào sự chết thứ hai, bởi vì Đức Chúa Trời đã ban cho họ sự sống lại và sự sống đời đời.
Sự chết thứ hai xảy ra sau khi Đức Chúa Trời kết thúc thế gian tội lỗi này và gọi tất cả những người chết mà không ở trong sự cứu rỗi của Ngài sống lại để ra trước tòa phán xét. Thánh Kinh chép:
11 Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa.
12 Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.
13 Biển đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm.
14 Đoạn, Sự Chết và Am phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.
15 Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.
(Khải Huyền 20:11-15).
Hình thức của sự chết thứ hai là tâm thần vĩnh viễn bị cắt đứt sự tương giao vói Đức Chúa Trời, không bao giờ còn cơ hội được cứu rỗi nữa; linh hồn và thể xác đã sống lại sẽ bị ném vào hồ lửa trong địa ngục cho đến đời đời. Thánh Kinh mô tả sự chết thứ hai như sau:
Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài.
(2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).
Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.
(Khải Huyền 21:8).
Kết toán cuối năm và tính sổ cuộc đời
Thông thường, cuối năm người ta lo kết toán sổ sách chi thu tài chánh. Nhờ kết toán sổ sách mà người ta biết được sự lời lỗ trong một năm đã qua và định ra kế hoạch cho những năm sắp đến. Ngay cả những người không có cơ sở thương mại, chỉ đi làm thuê cho công xưỡng cũng kết toán sổ sách dưới một hình thức nào đó. Có thể là xem lại tiền bạc để dành trong nhà băng đã được bao nhiêu, xét lại xem có những chi tiêu nào cần phải cắt giãm… Cũng có ngưòi làm kết toán về những sự vui chơi trong đời này của họ. Họ xem xét, đúc kết sự vui chơi trong suốt năm qua để lên kế hoặch vui chơi cho thời gian sắp tới sao cho có hiệu quả hơn, vui thú hơn. Có người làm kết toán về phương diện tình cảm… Tuy nhiên, rất ít người làm kết toán về cuộc đời của mình trên phương diện thời gian.
Chúng ta có thể làm kết toán cuối năm để lên kế hoạch kiếm thêm tiền, tăng thêm sự vui chơi, hoặc thay đổi tình cảm nhưng chúng ta không bao giờ kiếm thêm được thời gian. Không ai trong chúng ta biết chắc được là mình sẽ còn sống thêm được bao lâu. Kinh nghiệm cho chúng ta biết chúng ta có thể qua đời bất cứ lúc nào, trong bất cứ lứa tuổi nào. Không ai có thể bảo đảm rằng mình có cơ hội cho hơi thở kế tiếp. Điều chắc chắn nhất là chúng ta sẽ chết và có thể chết bất kỳ lúc nào. Thánh Kinh chép:
Theo như đã định cho loài người phải chết một lần rồi chịu phán xét.
(Hê-bơ-rơ 9:27).
Nan đề của chúng ta là khi qua đời chúng ta sẽ trả lời như thế nào về tất cả tội lỗi mà chúng ta đã gây ra trong cuộc đời này trước mặt Đức Chúa Trời? Quý vị đã bao giờ tính sổ cuộc đời của mình chưa? Bao nhiêu sự gian tham, dối trá, hận thù, độc ác, bất công… chúng ta đã gây ra trong cuộc đời của mình. Số nợ này chúng ta sẽ trả như thế nào trong ngày chung cuộc của đời mình? Chắc chắn không một ai có thể trả hết những món nợ đạo đức dù vô tình hay cố ý đã gây ra trong cuộc đời của mình.
Tội lỗi và hình phạt
Thánh Kinh cho biết hành động loài người tự tách rời ra khỏi Đức Chúa Trời, sống theo ý riêng, vi phạm luật đạo đức của Đức Chúa Trời là tội lỗi. Thuộc tính của Đức Chúa Trời là yêu thương, công chính, và thánh khiết. Thuộc tính của Chúa cũng chính là sự vinh hiển của Ngài. Tội lỗi là tình trạng thiếu hụt sự vinh hiển của Chúa; vì thế, Thánh Kinh tuyên bố:
Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
(Rô-ma 3:23)
Thánh Kinh cũng cho biết kết quả của tội lỗi là sự chết:
Tiền công của tội lỗi là sự chết.
(Rô-ma 6:23a).
Sự chết ở đây là sự chết thứ nhất và sự chết thứ hai như đã đề cập phía trên. Trừ hai người đã được Chúa mang đi trong thời Cựu Ước là Hê-nóc và Ê-li cùng một số ít người tin nhận và đứng vững trong đạo Chúa đang sống trong thân xác này vào ngày Chúa trở lại thì được Ngài biến hóa thân thể đang sống của họ thành một thân thể mới trong chớp mắt rồi Ngài cất họ lên không trung để hội hiệp với Ngài cho đến đời đời, còn thì cả nhân loại sẽ phải trải qua sự chết thứ nhất.
Sự cứu rỗi và sự sống đời đời
Những người tin nhận đạo của Chúa là những người bằng lòng tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài, được hưởng ơn khoan hồng của Ngài, được tha tội, được làm cho sạch tội, được trở lại làm con của Đức Chúa Trời và được sống đời đời trong tình yêu của Ngài. Những người đó, dẫu có qua đời trưóc ngày Chúa trở lại thì trong ngày Chúa trở lại, Ngài sẽ khiến cho họ được sống lại trong một thân thẻ mới và cất họ lên không trung ở với Ngài cho đến mãi mãi. Thánh Kinh chép:
13 Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy.
14 Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus cùng đến với Ngài.
15 Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi.
16 Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết.
17 Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.
18 Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau.

(1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:13-15).
Sự cứu rỗi chỉ có thể đến từ Đức Chúa Trời, vì chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể ban lại cho chúng ta tình yêu, sự công chính, và sự thánh khiết của Ngài. Ngài ban lại cho chúng ta bằng cách thi hành những điều đó.
Vì thánh khiết, nên Đức Chúa Trời không thể chấp nhận tội lỗi. Ngài phải lên án tội lỗi và cắt đứt mối tương giao giữa Ngài với tội nhân.
Vì công chính, nên Đức Chúa Trời phải trừng phạt tội nhân. Tội nhân phải chịu hư mất đời đời trong hỏa ngục.
Vì yêu thương, nên Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài là Đức Chúa Jesus nhập thế làm người để gánh hết sự trừng phạt cho toàn thể nhân loại; cứu rỗi nhân loại ra khỏi sự hư mất đời đời.
Vì thế, hễ ai tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua cái chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá thì họ được Đức Chúa Trời tha tội, làm cho sạch tội, và ban cho quyền phép trở nên con cái của Ngài, được sống lại, được sống đời đời và cùng Đức Chúa Jesus Chrsit thừa hưởng cơ nghiệp của Ngài.
Quyết định thuộc về mỗi người
Trong ngày cuối cùng của năm 2006 này, quý vị đã làm kết toán cho linh hồn của mình hay chưa? Nếu vài giây phút nữa đây quý vị qua khỏi cuộc đời này, linh hồn của quý vị sẽ về đâu? Linh hồn quý vị sẽ đi vào trong âm phủ, đau khổ chờ ngày sống lại ra trưóc tòa phán xét của Đức Chúa Tròi để nhận lấy án phạt là sự chết thứ hai trong hồ lửa đời đời; hay linh hồn quý vị sẽ vào trong thiên đàng ở với Chúa và chờ ngày Chúa phục sinh thân thể của quý vị vào trong sự sống đời đời, hạnh phúc trong tình yêu của Ngài? Sự kiện quý vị đang ngồi trong nhà thờ, đã tuyên xưng đức tin của mình vào sự cứu rỗi của Đức Chúa trời không phải là chứng cớ vững chắc. Chứng cớ vững chắc là sự đổi mới của Chúa trong đời sống của quý vị từ tâm thần đến linh hồn, và thể xác. Thánh Kinh chép:
Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ thì nấy là người được dựng nên mới. Những sự cũ đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới.
(2 Cô-rinh-tô 5:17).
Thánh Kinh gọi đó là sự tái sinh. Tái sinh là được sinh lại từ trong sự chết thứ nhất bởi sự ăn năn tội, tiếp nhận sự cứu rỗi của Chúa và bởi quyền năng Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Sự cứu rỗi được ban cho bởi Đức Chúa Trời nhưng quyết định tiếp nhận thuộc về mỗi một người. Thánh Kinh chép:
12 Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài,
13 là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy.

(Giăng 1:12-13).
Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó.
(Giăng 3:36).
Quý vị có thể tuyên xưng mình là tín đồ nhưng quý vị thật đã được đổi mới chưa? Quý vị thật đã được tái sinh chưa? Hay vẫn còn chết trong lầm lỡ và tội ác của chính mình?
Đếm những ngày vàng trên đất
Những ngày vàng trên đất đối với những người không ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là những ngày héo úa, vàng võ của tật bệnh, của khổ đau, và sợ hãi. Nhưng đối với những người đã ở trong sự cứu rỗi của Chúa thì mỗi một ngày trong đời là một cơ hội quý như vàng để học biết càng hơn về Chúa, để được phục vụ Chúa và người khác qua những việc lành Chúa đã sắm sẵn cho. Những việc lành đó được làm bởi năng lực của Chúa và theo thánh ý của Ngài cho nên đẹp lòng Chúa, và thành quả của chúng còn lại cho đến đời đời. Mỗi một ngày trên đất của những người đã ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là một ngày vàng để gây dựng sự nghiệp đời đời trên thiên đàng. Đức Chúa Jesus phán trong phần kết thúc của Thánh Kinh:
Này, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.
(Khải Huyền 22:12).
Quý vị còn được bao nhiêu ngày nữa để làm việc cho Chúa trên trần gian này? Không ai có thể trả lời được cho câu hỏi ấy, cho nên, biết đếm những ngày trong đời mình nghĩa là biết tận dụng mỗi ngày trong đời sống mình cho sự vinh hiển của Chúa như đó là ngày cuối cùng của mình trong thân xác này.
Lạy Chúa xin hãy đến, và dạy cho chúng con biết đếm các ngày của chúng con!
31/12/2006

Share This:

Khải Huyền 3:15: Lời cảnh cáo nghiêm trọng

2,680 views

Hội Thánh Lao-đi-xê

Hội Thánh Lao-đi-xê có thể do nhà truyền giáo Ê-pháp-ra thành lập trong thời gian ông hầu việc Chúa tại Hội Thánh Cô-lô-se. Cô-lô-se cách Lao-đi-xê khoảng 8 dậm (17 km) về phía Đông. Ban đầu, Hội Thánh Lao-đi-xê nhóm họp trong nhà của một tín đồ tên là Nim-pha, và vị giám mục đầu tiên tên là A-chíp (Cô-lô-se 4:15, 17).

Trong bảy Hội Thánh Đức Chúa Jesus truyền cho Sứ Đồ Giăng viết thư, Hội Thánh Lao-đi-xê là Hội Thánh giàu có nhất nhưng không có một điểm nào đáng khen đối với Chúa. Trái lại, Chúa đã dùng những lời quở trách rất nặng đối với Hội Thánh Lao-đi-xê. Lời nhận xét chung của Chúa đối với Hội Thánh Lao-đi-xê là:

Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. (3:15)

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Con Người Thuộc Linh

2,542 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Khái niệm về tính thuộc linh không giống nhau trong vòng những hệ phái Cơ Ðốc khác nhau. Trong một số hệ phái, nếu một người có giọng thanh tiếng tốt, thường hay nói về tôn giáo được cho là người rất thuộc linh; những người khác chấp nhận tính hoa mỹ ồn ào là dấu hiệu của tính thuộc linh, và trong một số Hội Thánh Việt Nam thì người cầu nguyện đầu tiên, lâu nhất, lớn nhất nhận được danh tiếng và được coi là người có bản tính thuộc linh cao nhất trong Hội Thánh. Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Vài Ý Tưởng Về Sách và Việc Đọc Sách

2,558 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Một vấn đề lớn ở nhiều nơi trên thế giới ngày nay là học biết cách đọc, và ở nhiều nơi khác là tìm kiếm một cái gì đó để đọc sau khi đã học rồi. Trong thế giới phương Tây, chúng ta có đầy dẫy những ấn phẩm, vì thế vấn đề ở đây trở thành một lựa chọn. Chúng ta phải quyết định không đọc cái gì.

Gần một thế kỷ trước, Emerson đã chỉ ra rằng nếu một người có thể bắt đầu đọc ngay từ khi vừa mới chào đời và tiếp tục đọc không ngừng nghỉ trong vòng 70 năm, thì đến cuối thời điểm đó anh ta chỉ đọc được một số sách đủ lấp đầy một góc nhỏ xíu trong Thư Viện Anh Quốc. Cuộc sống quá ngắn ngủi và sách vở có sẵn cho chúng ta thì quá nhiều, đến độ không một người nào có thể đọc được nhiều hơn 1% những quyển sách đã được xuất bản.

Cũng chẳng cần phải nói đến việc hầu hết trong chúng ta không có đủ sự lựa chọn cho việc đọc. Tôi thường tự hỏi có bao nhiêu yard vuông những tờ báo đã lướt qua trước mắt một con người văn minh bình thường trong thời gian một năm. Chắc chắn nó phải lên đến vài mẫu Anh; và tôi lo ngại rằng những độc giả bình thường của chúng ta không nhận thấy một vụ mùa rất lớn trên diện tích báo anh ta đọc. Một lời khuyên tốt nhất mà tôi đã được nghe về đề tài này, do một mục sư hệ phái Giám Lý phát biểu, là: “Hãy luôn luôn đọc tờ báo của bạn khi đang đứng.” Henry David Thoreau cũng có một đánh giá thấp về nhật báo. Ngay trước khi rời khỏi thành phố để đến nơi tạm trú bên bờ của dòng sông Walden Pond, một người bạn hỏi ông rằng liệu ông có muốn tờ nhật báo được giao đến tận mái nhà tranh của ông hay không. “Không,” Thoreau đáp, “tôi đã xem báo rồi.”

Trong vấn đề đọc nghiêm túc của chúng ta, chúng ta có khuynh hướng bị ảnh hưởng rất lớn bởi quan điểm cho rằng giá trị chính của một cuốn sách là để thông tin; và nếu chúng ta đang nói về sách giáo khoa, điều này dĩ nhiên là đúng, nhưng khi nói hay viết về các cuốn sách, chúng ta không ám chỉ đến sách giáo khoa.

Cuốn sách tốt nhất không chỉ cung cấp thông tin, nhưng là cuốn sách khuấy động độc giả đến chỗ nhìn biết chính mình. Tác giả tài nhất là người đã đi với chúng ta qua thế giới của tư tưởng giống như một hướng dẫn viên thân thiện luôn đi bên cạnh chúng ta băng qua khu rừng rậm, chỉ cho chúng ta hàng trăm kỳ quan thiên nhiên mà trước đó chúng ta chưa hề chú ý đến. Vì thế chúng ta học từ ông ấy để nhìn thấy chính mình và chẳng bao lâu sau chúng ta không cần người hướng dẫn của mình nữa. Nếu ông ta làm tốt công việc của mình, chúng ta có thể bước đi một mình và chỉ để lỡ mất một chút nào đó trên đường mà thôi.

Tác giả làm nhiều nhất cho chúng ta là tác giả mang đến cho chúng ta những tư tưởng nằm sát cạnh tâm trí mình và chờ đợi để được nhìn biết như là của chính chúng ta. Một người như vậy hành động giống như một bà mụ giúp đỡ khi sinh nở những tư tưởng đã đang thai nghén trong linh hồn chúng ta từ lâu, mà nếu không có sự giúp đỡ này thì có thể sẽ chẳng bao giờ ra đời cả.

Ít có tình cảm nào lại thỏa lòng như là niềm vui phát xuất từ việc nhận biết và xác định được những tư tưởng của riêng mình. Tất cả chúng ta đều có những giáo sư, những người tìm kiếm để dạy dỗ chúng ta bằng cách đưa những ý tưởng xa lạ vào trong tâm trí của chúng ta, những tư tưởng mà chúng ta không hề cảm thấy có chút thân thuộc nào cả về mặt thuộc linh lẫn lý trí. Chúng ta nghiêm túc thử những điều này để tích hợp vào toàn bộ triết lý thuộc linh của chúng ta, nhưng luôn luôn không thành công.

Trong một ý nghĩa rất thực tế thì không ai có thể dạy một người nào; anh ta chỉ có thể giúp mình để dạy chính mình mà thôi. Các sự kiện có thể được chuyển đổi từ tâm trí này sang một tâm trí khác giống như các bản sao được thực hiện từ một băng gốc trên một cái máy thu băng. Lịch sử, khoa học, ngay cả thần học có thể được dạy theo cách này, nhưng nó hình thành một loại học thức nhân tạo khá cao và hiếm khi có ảnh hưởng tốt lên đời sống bên trong của học viên. Việc người học đóng góp điều gì trong suốt quá trình học tập cũng hoàn toàn quan trọng như bất cứ gì người thầy cống hiến. Nếu người học không hợp tác gì hết, thì kết quả cũng chỉ là vô dụng mà thôi; ở mức tốt nhất thì nó cũng sẽ có nhưng là sự sáng tạo nhân tạo của một giáo viên khác, người có thể lập lại một công việc tồi tàn lên người khác, không hơn không kém.

Sự nhận biết những tư tưởng hơn là cất giữ chúng phải là mục đích của giáo dục. Tâm trí phải là một con mắt để thấy hơn là một thùng rác để đựng sự kiện bên trong. Một người đã từng được dạy về Thánh Linh sẽ là một nhà tiên kiến hơn là một học giả. Sự khác biệt là ở chỗ học giả thì thấy, còn nhà tiên kiến thì thấy xuyên qua; và đó thực sự là một khác biệt đầy quyền năng.

Trí năng của con người, ngay cả khi đang ở trong tình trạng sa ngã của nó, là một công việc đáng sợ và lạ lùng của Ðức Chúa Trời, nhưng nó vẫn nằm trong bóng tối cho đến khi nó được Thánh Linh khai sáng. Chúa chúng ta không nói điều gì tốt về một tâm trí chưa được khai sáng, nhưng Ngài thích thú tâm trí đã được làm mới lại và soi sáng bởi ân điển. Ngài luôn tạo lập một chỗ cho bàn chân vinh hiển của Ngài; hầu như không có gì trên trần gian này đẹp hơn một tâm trí được đầy dẫy Thánh Linh, chắc chắn không có gì tuyệt vời hơn một tâm trí tỉnh táo và sốt sắng được làm cho trở nên sáng chói bởi sự hiện diện của Ðấng Christ ngự trị bên trong.

Vì những gì chúng ta đọc trong ý nghĩa thực tế sẽ đi vào linh hồn, nên việc chúng ta đọc những điều tốt nhất, và không đọc bất cứ điều gì khác hơn những điều tốt nhất, là điều quan trọng mang tính chất sống còn. Tôi không cảm thấy các Cơ Ðốc nhân trước đây tốt hơn vì họ không có nhiều tư liệu đọc để mà lựa chọn. Ngày nay chúng ta phải luyện tập một tính kỷ luật sắc bén trong thói quen đọc sách của mình. Mỗi Cơ Ðốc nhân phải am tường Kinh Thánh, hay ít nhất là phải dành hàng giờ, hàng ngày, và hàng năm cố gắng. Và phải luôn luôn đọc Kinh Thánh của mình, như George Muller nói, “với sự suy gẫm.”

Sau Kinh Thánh, cuốn sách có giá trị đứng hàng thứ nhì cho Cơ Ðốc nhân là một quyển thánh ca tốt. Hãy để một Cơ Ðốc nhân trẻ dành một năm suy gẫm trong sự cầu nguyện những bài thánh ca của Watts và Wesley thôi, anh ta sẽ trở thành một nhà thần học giỏi. Rồi để anh ta đọc ở mức độ cân bằng các tác phẩm của những người Thanh giáo và những nhà thần bí Cơ Ðốc. Những kết quả sẽ còn tuyệt vời hơn là điều anh ta có thể mơ tưởng đến.

 

Share This:

Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài

3,076 views

I. Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài

Vì “mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” cho nên tất cả những cánh cửa mà chúng ta, là những người yêu mến Chúa, bước vào trong cuộc đời của mình, đều là những cửa phước hạnh. Vì thế, chúng ta bước vào với lòng cảm tạ. Thánh Kinh nói đến ít nhất là tám cửa phước hạnh mà chúng ta thường gặp trên bước đường theo Chúa.

1. Cửa khó nghèo

Phước cho những ai nghèo trong tâm thần, vì Vương Quốc Trời là của những người ấy!” (Ma-thi-ơ 5:3).

Trong nguyên tác của Thánh Kinh “nghèo trong tâm thần” là:

a) Không nương cậy nơi của cải, vật chất của thế gian. Nhìn biết nhu cầu thuộc linh của chính mình không thể được giải quyết bằng của cải đời này. Sự khao khát trong tâm linh của chúng ta phải hướng về thiên đàng, không hướng về thế gian.

b) Khiêm nhường, hạ mình, nhận biết sự trần truồng thiếu thốn của mình trước mặt Đức Chúa Trời. Có những người khó nghèo về vật chất nhưng lại rất kiêu ngạo trong tâm linh.

2. Cửa than khóc

“Phước cho những ai than khóc, vì sẽ được yên ủi!” (Ma-thi-ơ 5:4).

Khi chúng ta biết ăn năn than khóc về tội lỗi của mình, chúng ta sẽ nhận được ơn tha thứ của Đức Chúa Trời và Thần An Ủi sẽ ngự vào tâm linh của chúng ta. Khi chúng ta biết than khóc về tội lỗi của người thân, của dân tộc, chúng ta sẽ được an ủi khi họ được cứu. Trong cuộc sống hiện tại, nhiều khi chúng ta phải than khóc vì những bất công và đau khổ… nhưng Thần An Ủi sẽ đến vỗ về, an ủi chúng ta, và một ngày kia, chính Đức Chúa Trời sẽ lao ráo mọi nước mắt của chúng ta. (Khải Huyền 21:4).

3. Cửa nhu mì

Phước cho những ai nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!” (Ma-thi-ơ 5:5).

Nhu mì không phải là hèn nhát hay đầu hàng trước bạo lực. Nhu mì là nhẫn nhịn, chịu đựng mọi bất công để đưa dắt tội nhân đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Nhu mì là thuộc tính của Đấng Christ (Ma-thi-ơ 11:29). Người nhu mì sẽ hưởng phần trong cơ nghiệp của Đức Chúa Trời.

4. Cửa đói khát sự công bình

“Phước cho những ai đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!” (Ma-thi-ơ 5:6).

Đói khát nói đến nhu cầu thiết thực và quan trọng nhất trong cuộc sống. Trong thuộc linh, đói khát sự công bình là khao khát cho tội lỗi của mình được giải quyết. Chỉ khi tội lỗi được giải quyết, mặc cảm tội lỗi tiêu tan, chúng ta mới có được sự bình an trong tâm linh. Trên một phương diện khác, đứng trước những bất công xảy ra mỗi ngày trong xã hội, chúng ta khao khát sự công bình. Một ngày kia, chúng ta sẽ thấy sự công bình được thi hành trọn vẹn khi Đức Chúa Trời “báo trả mỗi người tùy theo công việc họ làm”. (Rô-ma 2:5,6).

5. Cửa hay thương xót

“Phước cho những ai hay thương xót, vì sẽ được thương xót!” (Ma-thi-ơ 5:7).

Lòng thương xót thật sự là chúng ta đồng cảm sự đau khổ của người khác như chính chúng ta đang ở trong sự đau khổ đó. Lòng thương xót khiến chúng ta dâng hiến tiền bạc, công sức để xoa dịu những sự đau đớn của người khác như Đức Chúa Jesus đã mô tả trong Ma-thi-ơ 25:34-40. Lòng thương xót còn là thương xót cho những linh hồn chưa biết Chúa đang chết mất trong tội lỗi mà nổ lực rao giảng Tin Lành cho họ. Đặc biệt là đối với dân tộc của chúng ta. Phao-lô đã bày tỏ lòng thương xót của ông đối với dân tộc Israel của ông như sau:

“Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Chúa Trời: tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn. Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác tức dân Y-sơ-a-ên, là dân được những sự làm con nuôi, sự vinh hiển, lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng và lời hứa.” (Rô-ma 9:1-4).

6. Cửa trong sạch

“Phước cho những ai có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!” (Ma-thi-ơ 5:8).

Kẻ có lòng trong sạch là kẻ không để cho những sự ô uế của tội lỗi vương vấn trong lòng mình. Ai còn giữ những sự sau đây thì chưa có lòng trong sạch và sẽ không được thấy Đức Chúa Trời:

“Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời.” (Ga-la-ti 5:19-21).

“Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời.” (Hê-bơ-rơ 12:14).

7. Cửa hòa thuận

“Phước cho những ai làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!” (Ma-thi-ơ 5:9).

Trước khi làm cho người khác hòa thuận thì chính chúng ta phải hòa thuận với Đức Chúa Trời và sống hòa thuận với mọi người.

“Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người.” (Rô-ma 12:8).

“Vậy chúng ta hãy tìm cách làm nên hòa thuận và làm gương sáng cho nhau.” (Rô-ma 14:19).

Làm cho người hòa thuận không chỉ là giúp cho mọi người hòa thuận với nhau mà còn là giúp cho mọi người hòa thuận với Đức Chúa Trời, nghĩa là giúp họ nghe, hiểu và tin nhận Tin Lành của Đức Chúa Trời.

Làm cho người hòa thuận, đặc biệt là hòa thuận với chúng ta, còn có nghĩa là chúng ta phải gánh chịu những hy sinh cần thiết, như Đức Chúa Jesus đã hy sinh để chúng ta có thể hòa thuận lại với Đức Chúa Trời.

“Và bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Ngài.” (Cô-lô-se 1:20).

“Thật vậy, anh em có sự kiện cáo nhau, là phải tội rồi. Sao chẳng chịu sự trái lẽ là hơn? Sao chẳng đành sự gian lận là hơn!” (1 Cô-rinh-tô 6:7).

8. Cửa bắt bớ

“Phước cho những ai chịu bắt bớ vì sự công bình, vì Vương Quốc Trời là của những người ấy! Khi nào vì cớ Ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy.” (Ma-thi-ơ 5:10-12).

Chịu khổ vì danh Chúa là một vinh dự và ơn phước rất lớn trong đời sống của ngưòi đi theo Chúa. Người đi theo Chúa chắc chắn sẽ bị thế gian bắt bớ, và Chúa đã phán trước như vậy:

“Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và Ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi. Hãy nhớ lời Ta đã nói cùng các ngươi: Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ Ta, ắt cũng bắt bớ các ngươi; bằng họ đã giữ lời Ta, ắt cũng giữ lời các ngươi.” (Giăng 15:19-20).

“Nhưng anh chị em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, để cho đến ngày vinh quang của Ngài hiện ra, thì các anh chị em cũng được vui mừng lớn. Nếu như các anh chị em vì danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì các anh chị em có phước; vì Đấng Thần Linh của Đức Chúa Trời và của sự vinh quang đậu trên các anh chị em [Ê-sai 11:2]. Đối với họ, Ngài bị gièm chê. Đối với các anh chị em, Ngài được tôn vinh.” (I Phi-e-rơ 4:13,14).

II. Hãy tôn vinh mà vào hành lang Ngài

Cửa dẫn vào hành lang. Chúng ta cảm tạ Chúa vì Ngài mở cửa cho chúng ta cho nên chúng ta mới có cơ hội để vào trong hành lang của nhà Ngài. Tại trong hành lang của nhà Ngài là những phước hạnh mà Ngài đã sắm sẵn cho chúng ta. Chúng ta tôn vinh Chúa vì những điều mà chúng ta nhận được trong hành lang của Ngài.

Vì một ngày trong hành lang Chúa đáng hơn một ngàn ngày khác. Thà tôi làm kẻ giữ cửa trong nhà Đức Chúa Trời tôi, hơn là ở trong trại kẻ dữ. (Thi Thiên 84:10).

1. Được no nê vật tốt lành của nhà Chúa (mọi dâng hiến của chúng ta được Chúa ban lại cho chúng ta)

Phước thay cho người mà Chúa đã chọn và khiến đến gần, đặng ở nơi hành lang Chúa: Chúng tôi sẽ được no nê vật tốt lành của nhà Chúa, là đền thánh của Ngài. (Thi Thiên 65:4)

Các thầy tế lễ của Đức Chúa Trời ăn thức ăn thánh trong hành lang của đền tạm (Lê-vi Ký 6:16,26).

2. Được trổ bông (đời sống có kết quả, vinh hiển trong Chúa)

Những kẻ được trồng trong nhà Đấng Tự Hữu Hằng Hữu sẽ trổ bông trong hành lang của Đức Chúa Trời chúng ta. (Thi Thiên 92:13).

3. Được uống rượu (vui mừng, thỏa lòng về kết quả đời sống theo Chúa)

Song những kẻ có gặt sẽ ăn hoa lợi mình, và tôn vinh Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; những kẻ có hái nho sẽ uống rượu mình trong hành lang của nơi thánh ta. (Ê-sai 62:9).

4. Được chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Chúa Trời

Sự vinh hiển của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu bèn dấy lên từ chê-ru-bin, đứng nơi ngạch cửa nhà; nhà đầy mây, và hành lang đầy sự chói sáng của vinh quang Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. (Ê-xê-chi-ên 10:4).

Thần cất ta lên và đem ta vào nơi hành lang trong; và, nầy, vinh quang của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đầy nhà. (Ê-xê-chi-ên 43:5).

Kết luận

Trong mùa lễ Cảm Tạ năm nay, chúng ta hãy cùng nhau học thuộc lòng Thi Thiên 100 và biến mỗi ngày trong đời sống mình là những cơ hội để cảm tạ Chúa. Bất kỳ một cánh cửa nào Chúa cho phép mở ra trong cuộc đời của chúng ta, kể cả những khi tai ương hoạn nạn, kể cả những khi vì danh Chúa mà bị bách hại, sĩ nhục, thậm chí mất mạng… cũng đều dẫn chúng ta vào trong hành lang phước hạnh đời đời của Đức Chúa Trời.

Vì Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là thiện; sự từ ái Ngài hằng có mãi mãi,
Và sự thành tín Ngài còn đến đời đời.

26/11/2006

 

Share This:

Địa ngục và hồ lửa

4,206 views

I. Định nghĩa từ ngữ

Thánh Kinh dùng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi nơi chốn mà loài người sẽ đi đến sau khi chết. Trong Cựu Ước, Thánh Kinh dùng danh từ "âm phủ". Trong Tân Ước, Thánh Kinh dùng danh từ "âm phủ", "địa ngục", "vực sâu", và "hồ lửa".

1. Danh từ "âm phủ" trong Cựu ước và Tân Ước đều chỉ về lòng đất, nơi an táng xác chết, và nơi linh hồn của người chết tạm trú.

2. Danh từ "địa ngục" trong Tân Ước chỉ về nơi cả thân thể và linh hồn của những người không thuộc về Đấng Christ bị trừng phạt vì những việc làm tội lỗi của họ. Trong địa ngục có khóc lóc, có nghiến răng và có lửa không hề tắt.

3. Danh từ "vực sâu" nói đến một vực sâu không đáy, nơi đó Chúa đang giam cầm các thiên sứ phạm tội.

4. Danh từ "hồ lửa" nói đến nơi hình phạt chung cuộc dành cho cả thiên sứ và loài người phạm tội. Nơi đó, mỗi người sẽ bị muối bằng lửa (phép báp-tem bằng lửa cho kẻ chẳng tin). Âm phủ, sự chết, Satan, Antichrist, Tiên tri giả, những người không ăn năn tội, không tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ sẽ bị giam giữ để chịu khổ trong hồ lửa cho đến đời đời.

 

II. Sự khác biệt giữa âm phủ, địa ngục, vực sâu, và hồ lửa

Dựa vào những mô tả của Thánh Kinh, chúng ta biết có những sự khác biệt giữa âm phủ, địa ngục, vực sâu, và hồ lửa.

1. Âm phủ:

Từ khi A-bên cho đến khi Đấng Christ chịu chết, linh hồn của tất cả những người qua đời đều được đưa vào âm phủ. Chúng ta biết điều này qua câu chuyện "Người giàu xấu nết và La-xa-rơ" do Đức Chúa Jesus kể, được ghi lại trong Lu-ca 16:19-31. Đây không phải là một ngụ ngôn mà là một câu chuyện có thật, vì Chúa nói rõ tên của người ăn mày được phước. Trong tất cả các ngụ ngôn Đức Chúa Jesus dùng để minh họa cho các bài giảng của Ngài, các nhân vật không hề có tên.

Thời Cựu Ước vì huyết của Đấng Christ chưa đổ ra trên thập tự giá cho nên những người tin Chúa, sau khi qua đời chưa vào thiên đàng mà phải tạm trú trong âm phủ. Âm phủ chia ra thành hai khu vực khác nhau, một khu vực yên nghĩ trong bình an và phước hạnh dành cho những người tin Chúa, một khu vực đau khổ trong hối tiếc dành cho những ngưòi không tin Chúa. Chính giữa hai khu vực này là một vực sâu ngăn cách.

Sau khi Đấng Christ đổ huyết trên thập tự giá thì những linh hồn tin Chúa tạm trú trong âm phủ được Chúa đem về thiên đàng. Chúng ta biết được điều này qua sự bày tỏ của Thánh Kinh. Đức Chúa Jesus phán với người ăn trộm bị đóng đinh bên phải Ngài rằng:

"Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi." (Lu-ca 23:43).

Ê-phê-sô 4:8-9 chép:

"Vậy nên có chép rằng: Ngài đã lên nơi cao, dẫn muôn vàn kẻ phu tù, Và ban các ơn cho loài người. Và, những chữ "Ngài đã lên" có nghĩa gì, há chẳng phải là Ngài cũng đã xuống trong các miền thấp ờ dưới đất sao?".

Khải Huyền 6:9 cho thấy linh hồn của những người tử đạo ở dưới bàn thờ, trong thiên đàng:

"Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có những linh hồn của kẻ đã chịu giết vì đạo Đức Chúa Trời và vì lời chứng họ đã làm."

Như vậy, sau khi Đấng Christ đem linh hồn các thánh đồ ra khỏi âm phủ, đưa họ vào thiên đàng, thì âm phủ chỉ còn linh hồn của những người không tin Chúa. Âm phủ sẽ tồn tại cho đến khi họ ứng hầu trước tòa phán xét của Ngài. Sau khi kết thúc sự phán xét thì âm phủ, sự chết, và những người không tên trong sách sự sống bị ném vào hồ lửa.

 

2. Địa ngục:

Theo sự bày tỏ của Thánh Kinh, địa ngục là nơi hiện nay Chúa giam cầm các thiên sứ phạm tội và nơi trong tương lai cả linh hồn lẫn thể xác của người không tin Chúa chịu hình phạt chung với Satan và quỷ sứ của nó.

Như vậy, trong địa ngục có vực sâu không đáy và hồ lửa.

"Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục." (Ma-thi-ơ 10:28).

"Nếu tay hay là chơn ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, hãy chặt và ném nó cho xa ngươi đi; vì thà ngươi què chơn hay là cụt tay mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ cả hai tay hay là hai chơn mà bị quăng vào lửa đời đời.

Nếu con mắt ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, thì hãy móc mà ném cho xa ngươi đi; vì thà ngươi một mắt mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ hai mắt mà bị quăng vào lửa địa ngục." (Ma-thi-ơ 18:8-9).

"Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi." (Ma-thi-ơ 23:15).

 

3. Vực sâu:

Là nơi giam cầm các thiên sứ phạm tội. Trong thời kỳ bảy năm đại nạn, một số tà linh sẽ được thả ra từ vực sâu này để làm khổ muôn dân trên đất.

"Đức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Mầy tên gì? Người thưa rằng: Quân đội; vì nhiều quỉ đã ám vào người. Chúng nó bèn cầu xin Đức Chúa Jêsus đừng khiến mình xuống vực sâu." (Lu-ca 8:30-31)

"Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét." (2 Phi-e-rơ 2:4).

"1 Vị thiên sứ thứ năm thổi loa, thì tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và được ban cho chìa khóa của vực sâu không đáy.

2 Ngôi sao ấy mở vực sâu không đáy ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn; mt trời và không khí đều bị tối tăm bởi luồng khói của vực.

3 Từ luồng khói ấy, có những châu chấu bay ra rải trên mặt đất; và có kẻ ban cho chúng nó quyền giống như bọ cạp ở đất vậy.

4 Có lời truyền cho chúng nó chớ làm hại loài cỏ ở đất, thứ xanh và cây cối nào, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn Đức Chúa Trời ở trên trán.

5 Lại cho chúng nó phép, không phải là giết, nhưng là làm khổ những người đó trong năm tháng, và sự làm khổ ấy giống như sự làm khổ khi bọ cạp cắn người ta.

6 Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm sự chết, mà không tìm được; họ sẽ ước ao chết đi mà sự chết tránh xa."

(Khải Huyền 9:1-6).

 

4. Hồ lửa:

Là nơi chung cuộc của sự ác và hậu quả của sự ác là sự chết. Âm phủ, sự chết, linh hồn, thể xác của những người không tin Chúa, cùng với Satan và các thiên sứ phạm tội, Antichrist, Tiên tri giả của Antichrist sẽ chịu khổ đời đời nơi đây. Thánh Kinh gọi đó là sự chết thứ hai.

"Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời." (Khải Huyền 20:10).

"Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai." (Khải Huyền 20:14).

"Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa." (Khải Huyền 20:15).

Tình trạng của sự chết thứ hai được Thánh Kinh diễn tả ngắn gọn, như sau:

"Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài." (2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

 

Kết luận

Thánh Kinh chép: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời." (Giăng 3:16).

Có thể đây là lần thứ 1000 quý vị nghe lại câu Thánh Kinh này, có thể quý vị tưởng rằng mình đã thoát khỏi sự hư mất mà vào sự sống đời đời. Nhưng tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời để khuyên quý vị hãy thức tỉnh và thành thật với chính mình.

Ngày hôm nay, nếu quý vị qua đời, quý vị sẽ về đâu? Quý vị đang tưởng là mình sẽ về thiên đàng hay chính Đức Thánh Linh ấn chứng trong lòng quý vị rằng quý vị đã có sự sống đờ đời? Đức Thánh Linh không thể nào ở trong lòng của quý vị khi quý vị chưa được tái sinh. Quý vị chưa được tái sinh vì quý vị chưa thật lòng ăn năn, dứt khoát từ bỏ tội lỗi. Nếu quý vị còn cất giữ tội lỗi trong lòng mình là quý vị chưa ăn năn, chưa thật lòng tin nhận Chúa. Quý vị chưa ăn năn, chưa thật lòng tin nhận Chúa thì nơi chốn đời đời của quý vị thuộc về hồ lửa trong địa ngục.

Tôi tha thiết kêu gọi quý vị hãy ăn năn và hoàn toàn đầu phục Chúa ngay giờ phút này. Vì Đức Chúa Trời yêu thương quý vị, "Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật." (1 Ti-mô-thê 2:4). Cho nên Đức Chúa Trời đang nhịn nhục chờ đợi quý vị. Có thể đây là cơ hội ăn năn cuối cùng Đức Chúa Trời dành cho quý vị. Xin quý vị hãy phục hòa với Đức Chúa Trời trước khi bước ra khỏi phòng nhóm này.

Hãy đến gần ngôi ơn phước. Hãy xé lòng, hãy ăn năn!

"Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ có tội, hãy lau tay mình, có ai hai lòng, hãy làm sạch lòng đi. Hãy cảm biết sự khốn nạn mình, hãy đau thương khóc lóc; hãy đổi cười ra khóc, đổi vui ra buồn. Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên. " (Gia-c ơ 4:8-10).

19/11/2006

Share This:

Trong nơi bí mật của lòng

2,236 views

I. Bản chất tự nhiên của lòng ngưòi

Thánh Kinh nói rất rõ về bản chất tự nhiên của lòng người.

"Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm." (Giê-rê-mi 17:9,10).

"Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng, những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối, và lộng ngôn." (Ma-thi-ơ 15:19).

 

II. Người không thể tự mình thay đổi

Thánh Kinh cũng khẳng định loài người không thể nào tự mình thay đổi bản chất:

"Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng? Nếu được thì các ngươi là kẻ đã làm dữ quen rồi, sẽ làm lành được." (Giê-rê-mi 13:23).

 

III. Phương cách duy nhất để nhận được sông nước hằng sống

Phương cách duy nhất để nhận được sông nước hằng sống là TIN Đức Chúa Jesus Christ.

Tin Đức Chúa Jesus Christ là tin vào lời phán của Ngài, là tin rằng "chúng ta cần phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần" (Ma-thi-ơ 4:17). Khi tin rằng chúng ta cần phải ăn năn là tin rằng chúng ta có tội và đức tin đó phải dẫn đến quyết định ăn năn tội. Ăn năn có nghĩa là quay lại, là thực lòng muốn từ bỏ tội. Ngày hôm nay, quý vị có đang nghe lời phán này của Đức Chúa Jesus Christ vang vọng trong lòng mình hay không? Ngày hôm nay có tội lỗi nào đang còn được chất chứa tận trong nơi sâu thẳm của lòng quý vị, mà quý vị chưa ăn năn, chưa từ bỏ, chưa quay lại?

 

III. Thần tượng trên ngôi lòng

Hình thức tin kính, sùng đạo, sốt sắng thi hành các nghi thức tôn giáo bên ngoài của một người có thể lừa gạt được loài người nhưng không thể lừa gạt được Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng tuyên bố:

"Dân này lấy môi miếng thờ kính Ta, nhưng lòng chúng nó xa Ta lắm." (Ma-thi-ơ 15:8).

Ngày hôm nay, xin quý vị hãy tra xét tận nơi sâu kín của lòng mình. Trong những nơi bí mật của lòng quý vị, Đức Chúa Trời thánh khiết, yêu thương, và công chính đang ngự trị hay là các thần tượng của đời này?

Ngày hôm nay, quý vị đang ngồi trong nơi gọi là nhà thờ phượng Đức Chúa Trời nhưng thần tượng nào đang thật sự ngự trên ngôi lòng của quý vị?

1. Thần tài: Phải chăng sự ham mê tiền bạc, vật chất của đời này đang ngự trị trong lòng của quý vị?

2. Thần tình: Phải chăng sự đam mê tình dục bất chính đang điều khiển linh hồn của quý vị?
3. Thần tôi: Phải chăng sự kiêu ngạo, lòng tự ái, lòng ham chuộng danh tiếng, địa vị đang đặt chính "cái tôi" của quý vị lên ngôi lòng của mình, khiến cho quý vị đang thờ lạy chính bản ngã của mình?

 

Kết luận

Ngày hôm nay, chính trong giờ phút này đây, Đức Thánh Linh đang cáo trách từng tội lỗi của quý vị, Đức Chúa Jesus đang tha thiết kêu gọi quý vị "hãy ăn năn", Đức Chúa Cha đang chờ đợi quý vị xưng nhận tội lỗi của mình để Ngài tha thứ hoàn toàn và tái sinh quý vị vào trong nước trời.

Hãy đến gần ngôi ơn phước. Hãy xé lòng, hãy ăn năn!

"Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ có tội, hãy lau tay mình, có ai hai lòng, hãy làm sạch lòng đi. Hãy cảm biết sự khốn nạn mình, hãy đau thương khóc lóc; hãy đổi cười ra khóc, đổi vui ra buồn. Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên. " (Gia-c ơ 4:8-10).


12/11/2006

Share This: