Đức Tin trong Đạo Chúa

2,428 views

Nhấp vào nút play ► để nghe

Đức tin vào sự thực hữu của Đức Chúa Trời

 

Đức tin trong Đạo Chúa bắt đầu bằng đức tin vào sự thực hữu của Đức Chúa Trời, nghĩa là tin rằng có một Đức Chúa Trời. Có một số người không tin rằng có Đức Chúa Trời mà chúng ta gọi là những người vô thần. Những người này không thể giải thích được sự thực hữu của chính họ và vũ trụ mà họ đang sống trong đó, nhưng lại không tin có một Đức Chúa Trời sáng tạo ra muôn loài vạn vật. Thánh Kinh cho biết sự thực hữu của Đức Chúa Trời đã được chính Ngài bày tỏ cho nhân loại từ buổi sáng thế:

Đọc Tiếp →

Share This:

Lòng tin và đức tin

3,293 views

Nhấp vào nút play ► để nghe

 

Lòng tin

 

Mặc dù lòng tin được thiết lập sau khi kiểm chứng nhưng không phải lúc nào lòng tin cũng đem đến cho chúng ta kết quả chắc chắn. Đã từng có trường hợp ngân hàng bị phá sản và tiền gửi vào ngân hàng bị mất, đã từng có trường hợp máy bay bị rớt và mọi người trên máy bay đều tử nạn, đã từng có trường hợp chiếc ghế ngồi bị gảy, đổ khiến cho người ngồi bị té nặng… Trong thực tế, nhiều khi lòng tin của chúng ta bị phản bội bởi vì ngay từ ban đầu đối tượng mà chúng ta tin tưởng đã không đáng tin, đã cố tình đánh lừa chúng ta, hoặc có những điều vượt quá sự kiểm soát của chúng ta.

Đọc Tiếp →

Share This:

Chúa có biết bạn chăng?

2,171 views

 

I. Chúa "biết" những người yêu Chúa

 

Thánh Kinh chép Đức Chúa Trời biết những người yêu Chúa:

"Nhưng nếu có một người yêu mến Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời biết người đó." (I Cô-rinh-tô 8:3)

Mà, người yêu Chúa là người vâng giữ các điều răn của Chúa:

"Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta; người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết ta." (Giăng 14:21)

Như vậy, nếu chúng ta vâng giữ các điều răn của Chúa là chúng ta yêu Chúa, là chúng ta biết Chúa và Ngài biết chúng ta. Điều này không có nghĩa là chúng ta cậy vào việc giữ các điều răn của Chúa để được cứu rỗi mà là sau khi được cứu bởi đức tin, chúng ta vâng giữ điều răn của Chúa vì chúng ta yêu Ngài và yêu các điều răn của Ngài.

Một người ghiền thuốc phiện rất sợ nước, cả năm không hề tắm một lần, nhưng sau khi được chữa lành, người ấy ưa thích tắm rửa sạch sẽ mỗi ngày. Như vậy, sự tắm rửa sạch sẽ không phải là điều kiện để được cai thuốc phiện mà là dấu hiệu người ấy đã được chữa lành sự ghiền thuốc phiện. Một người yêu Chúa, vâng giữ các điều răn của Chúa không phải để được cứu rỗi nhưng sự vâng giữ điều răn của Chúa là dấu hiệu chứng tỏ người ấy đã thật lòng ăn năn tội và đã được cứu khỏi quyền lực của tội lỗi.

 

II. Chúa "biết" những kẻ thuộc về Ngài

 

Thánh Kinh chép:

"Chúa biết những kẻ thuộc về Ngài." (II Ti-mô-thê 2:19)

Mà, những người thuộc về Chúa là:

" Vả, những kẻ thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tự giá rồi." (Ga-la-ti 5:24)

Như vậy, người thuộc về Chúa là người không còn sống trong tội lỗi nữa, nghĩa là không nuôi dưỡng những ý nghĩ tội lỗi, không suy tính những phương cách phạm tội, không tìm kiếm cơ hội phạm tội. Không còn sống trong tội chẳng có nghĩa là không còn phạm tội. Sự phạm tội của một người đã thuộc về Chúa là sự phạm tội trong vô ý, phạm tội mà không biết mình phạm tội (Thi Thiên 19:12), hoặc vì yếu đuối không thắng được sự cám dỗ (Ma-thi-ơ 26:41). Tuy nhiên, ngay sau khi phạm tội, người đã thuộc về Chúa lập tức ăn năn, thống hối, xưng tội, và được Chúa tha tội (I Giăng 1:9).

Một người được Đức Chúa Trời biết còn có nghĩa là một người có sự kết hợp thuộc linh với Đấng Christ. Sự kết hợp thuộc linh đó là sự trở nên một với Chúa và được Thánh Kinh mô tả như sau:

"Hội thánh là thân thể của Đấng Christ, tức là sự đầy đủ của Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài." (Ê-phê-sô 1:8)

"vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội thánh, Hội thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Cứu Chúa của Hội thánh." (Ê-phê-sô 5:23)

Những người thuộc về Chúa được gọi là Hội Thánh vì đã được Chúa dùng chính huyết của Ngài rửa sạch tội lỗi của họ, khiến họ nên một dân thánh thuộc về Đức Chúa Trời:

"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men." (Khải Huyền 1:6)

"Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài." (I Phi-e-rơ 2:9)

 

III. Chúa gọi những người Ngài "không biết" là kẻ làm ác

 

Dĩ nhiên Đức Chúa Trời biết tất cả mọi sự, biết từng chi tiết trong đời sống của mỗi người, và biết động cơ mỗi việc làm của họ. Cho nên, khi Chúa nói không biết một số người đã từng nhân danh Chúa để nói tiên tri, trừ quỷ, và làm nhiều phép lạ, rằng: Ngài chẳng hề biết họ bao giờ – là Chúa có ý nói dù cho họ nhân danh Chúa để làm những sự đó nhưng thật ra họ không hề yêu Chúa, không hề vâng giữ các điều răn của Chúa, nên không thuộc về Ngài. Họ là những người có sự hiểu biết về Chúa nhưng cố tình sống trong tội lỗi và dùng danh Chúa, dùng các hình thức tôn giáo để che đậy tội lỗi của mình.

Trong nguyên tác của Thánh Kinh, chữ "kẻ làm gian ác" (anomia) có nghĩa là kẻ làm trái luật pháp để thỏa mãn bản tính độc ác của mình. Thánh Kinh gọi sự "trái luật pháp" tức là tội lỗi:

"Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp." (I Giăng 3:4)

Những người đang sống trong tội, cho dù có giữ bất kỳ chức vụ nào trong Hội Thánh, cho dù có nhân danh Chúa trừ quỷ và làm phép lạ, vẫn là những kẻ làm gian ác mà Chúa không hề biết họ. Vì Chúa không hề biết họ cho nên các quyền lực trừ quỷ, làm phép lạ đương nhiên không đến từ Chúa, cho dù họ nhân danh Chúa. Những sự trừ quỷ, chữa bệnh của họ chẳng qua là thuật dối trá đến từ Satan, các nạn nhân của họ không bao giờ thực sự được trừ quỷ, hoặc được lành bệnh.

 

IV. Những kẻ làm ác ngày nay trong Hội Thánh

 

Đức Chúa Jesus đã phán trước về sự những kẻ làm ác, tức những kẻ trái luật pháp của Đức Chúa Trời sẽ xuất hiện rất nhiều trong những ngày sau rốt:

"Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ. Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần." (Ma-thi-ơ 24:11, 12)

Đức Chúa Jesus đã phán cách tỏ tường: Một người nhân danh Chúa để nói tiên tri, trừ quỷ, và làm nhiều phép lạ, chưa hẳn là một người thuộc về Chúa. Một tiên tri thật, một ngưòi chăn thật đến từ Đức Chúa Trời phải là một người rao giảng lời Chúa, khiến cho dân sự của Chúa ăn năn, từ bỏ tội lỗi, quay lại với luật pháp của Chúa:

"Ta chẳng sai những tiên tri nầy, mà chúng nó đã chạy; ta chẳng phán với, mà đã nói tiên tri. Nếu chúng nó có đứng trong sự bàn luận ta, thì đã khiến dân ta nghe lời ta, và đã làm cho dân từ đường dữ việc xấu mà trở lại rồi." (Giê-rê-mi 23:21, 22)

Tiên tri giả mà Chúa nói đến ở đây, không phải là những người không biết Chúa, mà là những người biết Chúa nhưng hành động theo ý riêng và rao giảng chính lời của họ chứ không phải lời của Chúa. Đau buồn thay, trong những ngày sau rốt, nhiều người không còn chịu nghe những lời "dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình" đến từ Thánh Kinh bởi các tôi tớ thật của Chúa, mà lại chạy theo những lời êm tai của các tiên tri giả:

"Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; nhưng vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình, bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn." (II Ti-mô-thê 4:3, 4)

Hàng năm, khắp nơi trên thế giới, có biết bao nhiêu cái gọi là "truyền giảng," "đại hội," "trại bồi linh" nhóm họp các giáo sư giả, các tiên tri giả dùng những lời êm tai để ru ngủ con dân Chúa! Trách nhiệm không chỉ về phần các giáo sư giả, tiên tri giả, mà trách nhiệm còn là của chính các con dân Chúa, vì họ đã "bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn." Hành động bịt tai không nghe lẽ thật cũng chính là hành động "làm ác" và số phận của những người nghe cũng như của những người giảng, đều giống nhau: "cả hai sẽ cùng té xuống hố!" (Ma-thi-ơ 15:14; Lu-ca 6:39).

 

Kết luận

 

Sự cứu rỗi là sự ban cho của Đức Chúa Trời, nhờ ân điển, bởi đức tin mà chúng ta nhận được. Chắc chắn không một việc làm nào của chúng ta có thể đem lại sự cứu rỗi cho chúng ta. Nhưng chúng ta được cứu rỗi để trở nên trọn vẹn như Cha chúng ta trên trời là trọn vẹn chứ không phải để tiếp tục sống trong tội lỗi. Chúng ta không thể nào vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời để được cứu nhưng chúng ta được cứu để vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời. Vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời là dấu hiệu của một người đã được cứu rỗi, đã được tái sinh, và yêu Chúa.

Những người có nếp sống không vâng giữ luật pháp của Chúa là những người chưa được tái sinh. những người chưa được tái sinh là những người chưa thật lòng ăn năn tội. Những người chưa thật lòng ăn năn tội là những người chưa có sự cứu rỗi. Những người chưa có sự cứu rỗi là những người chưa thuộc về Chúa mà Chúa sẽ phán với họ trong ngày phán xét:

" Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!"

 

 

Huỳnh Christian Timothy
05/08/2007
tim@tinlanhvietnam.net
http://tinlanhvietnam.net  

Share This:

Bạn thật yêu Chúa chăng?

2,720 views

 

I. Yêu Chúa hơn tất cả mọi sự

 

Một người thật lòng yêu Chúa, trước hết, phải yêu Chúa hơn tất cả mọi sự. Chữ mọi sự được dùng ở đây bao gồm các phương diện liên quan đến: tình cảm, tiện nghi của đời sống, và chính mạng sống của người đi theo Chúa. Chúng ta dễ dàng nói với Chúa rằng: "Lạy Chúa, con yêu Chúa hơn tất cả mọi sự," nhưng trong thực tế của đời sống, chúng ta lại đặt tình cảm, tiện nghi của đời sống, hay sinh mạng của mình lên trên tình yêu chúng ta dành cho Chúa.

Có khi nào trong cuộc đời chúng ta, chúng ta yêu cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cháu, bà con, bạn bè, người yêu, thậm chí các minh tinh ca nhạc, thể thao, màn ảnh… hơn là yêu Chúa? Hoặc là chúng ta yêu quê hương, đất nước, yêu một chủ nghĩa, yêu một công việc, hay yêu một thú vui tội lỗi hơn là yêu Chúa? Có khi nào trong cuộc đời chúng ta, chúng ta yêu tiền bạc, những tiện nghi vật chất, tài sản, danh vọng, địa vị, học thức, bằng cấp của đời này hơn là yêu Chúa?

Nếu chúng ta xem tình cảm, tiện nghi của đời sống hơn Chúa thì chắc chắc không thể nào chúng ta có thể hy sinh mạng sống của mình cho Chúa. Tiêu chuẩn thứ nhất để xác định chúng ta có thật lòng yêu Chúa hay không được Chúa phán dạy như sau:

"Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta. Ai yêu con trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta. Ai không vác thập tự mình mà theo ta, thì cũng chẳng đáng cho ta. Ai gìn giữ sự sống mình, thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta mất sự sống mình, thì sẽ tìm lại được." (Ma-thi-ơ 10:37-39)

Sau khi phục sinh, Đức Chúa Jesus đã dùng chính tiêu chuẩn này để đo lường tình yêu của Sứ Đồ Phi-e-rơ dành cho Ngài:

"Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta hơn những sự nầy chăng?" (Giăng 21:15)

Trong nguyên tác của Thánh Kinh, Chúa dùng chữ "touton" có nghĩa là "những sự này," bao gồm người và vật. Chúng ta có thể hiểu rằng, Chúa muốn hỏi Phi-e-rơ có yêu Chúa hơn các sứ đồ là những bạn thân của ông, con thuyền đánh cá là tài sản của ông, nghề đánh cá là phương tiện mưu sinh của ông… Ngày hôm nay, khi chúng ta đối diện với tất cả mọi sự trong thế gian, mong rằng, chúng ta có thể nói một cách chân thành: "Lạy Chúa, con yêu Chúa hơn tất cả mọi sự này."

 

II. Yêu Chúa bằng cả con người của mình

 

Tiêu chuẩn thứ hai trong sự yêu Chúa là: "hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa."

"Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi." (Mác 12:30)

1. Hết lòng: Chữ lòng, theo nghĩa đen là trái tim, theo nghĩa bóng là "con người bên trong," là tâm thần của một người. Lòng (tâm thần) chúng ta nhận biết Chúa qua trực giác, ghi nhận thánh ý của Chúa vào lương tâm, và thờ phượng chỉ một mình Chúa theo lẽ thật mà Chúa đã bày tỏ cho chúng ta. Yêu Chúa hết lòng là trong lòng chúng ta chỉ có Chúa, không có một thần tượng nào khác, không tiếp nhận những "điều sâu hiễm của Satan" (Khài Huyền 2:24) tức là những văn hóa, tri thức của các tà linh, tà giáo, ngoại đạo; cũng không dung túng hoặc thoả hiệp với chúng:

"Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy." (Giăng 4:24)

"Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta.  Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi:Ta sẽ làm Chúa các ngươi, các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn Năng phán như vậy." (II Cô-rinh-tô 6:16-18)

2. Hết linh hồn: Chữ linh hồn có hai nghĩa: (1) sự sống mà chúng ta kinh nghiệm trong thế giới vật chất hiện tại, (2) là bản ngã, là con người đích thật của chúng ta. Bản ngã, hay con người đích thật của chúng ta, tức là linh hồn, có phần tâm thần để tương giao với thế giới thuộc linh và có phần thể xác để tương giao với thế giới thuộc thể. Ta tức là linh hồn. Ta tâm thần để tương giao với thế giới thần linh. Ta thể xác để tương giao với thế giới vật chất. Thánh Kinh không bao giờ nói Ta có linh hồn ví Ta chính là linh hồn. Thánh Kinh cũng không bao giờ nói Ta là tâm thần, hoặc Ta là thể xác.

Bản ngã hay linh hồn của chúng ta có lý trí, có tình cảm, và có ý chí. Linh hồn thu thập các thông tin về thế giới vật chất qua năm giác quan của thể xác, thu thập các thông tin về thế giới thuộc linh qua trực giác (còn được gọi là giác quan thứ sáu) rồi dựa vào đó để lý luận. Linh hồn dựa vào kết quả lý luận để phát sinh ra những tình cảm. Linh hồn dựa vào lý trí và tình cảm để đi đến quyết định, tức là ý chí. Khi ý chí đã phát sinh thì được thể hiện thành lời nói và hành động qua thể xác, được thể hiện thành sự thờ phượng trong tâm thần.

Hết linh hồn yêu Chúa là yêu Chúa bằng tất cả sức sống của chúng ta, là trọn vẹn đầu phục Chúa, dâng lên Chúa tất cả lý trí, tình cảm, và ý chí của chúng ta để Chúa ngự trong chúng ta và Chúa sống trong chúng ta:

"Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi." (Ga-la-ti 2:20)

3. Hết trí khôn: Kết quả của sự lý luận trong linh hồn sinh ra trí khôn. Trí khôn là sự hiểu biết đúng về bản chất của một sự việc. Một người hết trí khôn yêu Chúa là một người hầu việc Chúa và thờ phượng Chúa với tất cả tri thức của mình về Chúa, tức thờ phượng Chúa bằng lẽ thật. Nhiều khi chúng ta hiểu biết thánh ý của Chúa nhưng chúng ta không hầu việc và thờ phượng Chúa theo thánh ý của Ngài, và như vậy, chúng ta không yêu Chúa bằng hết cả trí khôn.

"Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri thức…" (Châm Ngôn 1:7)

"Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy." (Giăng 4:24)

4. Hết sức: Chữ sức ở đây chỉ về năng lực, nghĩa là khả năng và sức mạnh để hành động. Có năng lực thuộc thể và năng lực thuộc linh. Năng lực thuộc thể là sức mạnh và khả năng của bắp thịt, năng lực thuộc linh là sức mạnh và khả năng của linh hồn, tức là ý chí. Sức mạnh của linh hồn điều khiển sức mạnh của bắp thịt. Hết sức yêu Chúa là dốc trọn khả năng và sức mạnh để hầu việc và thờ phượng Chúa, là làm việc gì cũng hết lòng mà làm trong danh Chúa, và vì sự vinh hiển của Ngài:

"Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta." (Cô-lô-se 3:23)

"Mặc dầu anh em nói hay làm, cũng phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha." (Cô-lô-se 3:17)

"Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm." (I Cô-rinh-tô 10:31)

 

III. Tiếp nhận và vâng giữ các điều răn của Chúa

Làm sao để chứng minh được một người hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức yêu Chúa? Chính Đức Chúa Jesus đưa ra tiêu chuẩn để chứng minh. Ngài phán:

"Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta. Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta. Người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết ta." (Giăng 14:15, 21)

Đó cũng chính là tiêu chuẩn "nhìn trái biết cây." Một người thật lòng yêu Chúa là một người tiếp nhận và vâng giữ các mạng lệnh của Chúa, thể hiện qua nếp sống đạo mỗi ngày.

Tiếp nhận lời Chúa là không lý luận phản bác lời Chúa dạy nhưng xem đó là mệnh lệnh phải thi hành bằng bất kỳ giá nào. Nếu Chúa phán: "Hãy trở nên trọn vẹn như Cha các ngươi trên trời là trọn vẹn" (Ma-thi-ơ 5:48) thì chúng ta liền thưa: "Lạy Chúa, xin thêm sức cho con và khiến con nên trọn vẹn theo thánh ý của Chúa." Thánh Kinh xác định chính Đức Chúa Trời thành tín sẽ khiến cho tâm thần, linh hồn, và thể xác chúng ta được trọn vẹn không chỗ trách được cho đến kỳ Đấng Christ đến (II Tê-sa-lô-ni-ca 5:23). Có người lý luận rằng "nhân vô thập toàn" cho nên loài người không thể nào trở nên trọn vẹn như Đức Chúa Trời. Những người lý luận như thế là những người phản bác lời Chúa, cho rằng Đức Chúa Trời nói dối, cho rằng Đức Chúa Trời không toàn năng, cho rằng lời nói của loài người là chân lý còn lời nói của Chúa là vô lý. Những người như vậy đã phạm thượng với Đức Chúa Trời. Nếu Chúa phán: "Chớ bỏ qua sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy" (Hê-bơ-rơ 10:25) thì chúng ta tìm đủ mọi cách vượt mọi khó khăn để có thể nhóm lại đồng thời khích lệ, giúp đỡ cho anh chị em khác cũng trung tín trong sự nhóm lại, thay vì tìm đủ mọi lý do để bỏ nhóm và rủ rê người khác bỏ nhóm.

Vâng giữ lời Chúa là "suy gẫm ngày đêm và cẩn thận làm theo" lời dạy của Chúa (Giô-suê 1:8). Nếu chúng ta không suy gẫm ngày đêm thì chúng ta sẽ không thông biết lời Chúa để có thể làm theo. Thánh Kinh dạy rằng, những con dân Chúa thiếu sự thông biết sẽ bị diệt (Ô-sê 4:6).

Sứ Đồ Giăng định nghĩa sự yêu Chúa như sau:

"Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề." (I Giăng 5:3)

Như vậy, khi chúng ta nói chúng ta không thể làm điều này, điều kia theo lời dạy của Chúa là chúng ta đã cho rằng mạng lệnh của Chúa là nặng nề, không thể thi hành, là chúng ta cho rằng Đức Thánh Linh nói dối, vì Đức Thánh Linh đã qua ngòi viết của Sứ Đồ Giăng phán rằng: "điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề."

 

Kết luận

 

Yêu Chúa hơn tất cả mọi sự là chúng ta chọn Chúa. Yêu Chúa bằng cả tấm lòng, cả linh hồn, cả trí khôn, cả năng lực là chúng ta thờ phượng Chúa. Tiếp nhận và vâng giữ các điều răn của Chúa là chúng ta sống trong Chúa. Tất cả những điều đó chỉ có thể xảy ra khi chúng ta thật lòng yêu Chúa.

Đời sống vâng giữ lời Chúa là bằng chứng về lòng yêu Chúa của chúng ta, mà lời Chúa thì chẳng phải là nặng nề, chẳng phải là khó khăn để mà vâng theo. Vì vậy, câu hỏi dành cho chúng ta không phải là chúng ta có thể vâng giữ lời Chúa hay không, mà là: Chúng ta có thật lòng yêu Chúa hay không.

 

Huỳnh Christian Timothy
29/07/2007
tim@tinlanhvietnam.net

Share This:

Của Lễ Sống

2,399 views

 I. Sự thương xót của Đức Chúa Trời

Trước hết, Phao-lô nhân danh sự thương xót của Đức Chúa Trời để khuyên các tín hữu dâng thân thể của họ lên Chúa. Chữ “dâng” mà Phao-lô dùng ở đây, trong nguyên tác là “hy sinh,” là bỏ đi mạng sống. Những độc giả đầu tiên của thư Rô-ma hiểu rất rõ ý nghĩa của từ ngữ “hy sinh” này. Trong bối cảnh văn hóa thời bấy giờ, người Do-thái lẫn người ngoại, ít nhiều gì cũng từng chứng kiến cảnh tượng những con thú bị hy sinh trên bàn thờ. Trong một ý nghĩa nhất định, khi đã hy sinh trên bàn thờ thì sinh vật được dùng làm của lễ phải bị giết, và sau đó thân xác bị thiêu đốt trong lửa.

Một người khi tình nguyện biến mình thành sinh tế để dâng lên Đức Chúa Trời thì người đó hiểu rằng mình tình nguyện hy sinh, tình nguyện chết. Nhưng khi một người đã chết trong Chúa thì sẽ được Ngài làm cho sống lại vì Chúa là Đức Chúa Trời “nhân từ, thương xót” (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6), “muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật” (I Ti-mô-thê 2:4).

Câu chuyện Áp-ra-ham dâng Y-sác là hình bóng về một người được dâng lên cho Đức Chúa Trời như một của lễ sống và thánh (Sáng Thế Ký 22). Đối với Áp-ra-ham, từ khi ông quyết tâm vâng theo mệnh lệnh của Chúa thì Y-sác đã chết. Tuy nhiên, ông dâng Y-sác với đức tin tuyệt đối nơi Đức Chúa Trời, rằng: “Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến kẻ chết sống lại” và Thánh Kinh ghi rõ: “cũng giống như từ trong kẻ chết mà người lại được con mình” (Hê-bơ-rơ 11:19).

Ngày hôm nay, bởi sự nhân từ, thương xót rất lớn của Đức Chúa Trời và bởi quyền năng siêu việt của Ngài, mà những ai dâng chính thân thể mình lên Chúa, đều được Ngài biến người ấy thành một của lễ sống và thánh, đẹp lòng Ngài.

II. Của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời

Khi Đức Chúa Trời xưng ngài là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, thì Ngài muốn chứng tỏ cho chúng ta biết:

– Ngài là Đức Chúa Trời của những ai tuyệt đối tin cậy Ngài như Áp-ra-ham.

– Ngài là Đức Chúa Trời của những ai dâng chính mình lên Ngài như Y-sác.

– Ngài là Đức Chúa Trời của những ai dù xấu xa, gian trá nhưng biết ăn năn và tìm cầu Chúa như Gia-cốp.

Ngày xưa, Y-sác đã bị trói lại, đặt lên bàn thờ như một sinh tế, nhưng Đức Chúa Trời đã khiến cho Y-sác được sống và biến thành của lễ sống đầu tiên trong lịch sử của loài người, làm hình bóng cho sự tình nguyện dâng thân thể mình làm của lễ chuộc tội cho nhân loại của Đấng Christ. Ngày nay, ai tình nguyện dâng chính thân thể mình lên cho Đức Chúa Trời sẽ được Ngài biến người ấy thành của lễ sống và thánh, đẹp lòng Ngài. Sự dâng hiến thân thể mình lên cho Đức Chúa Trời nói lên: lòng ăn năn thống hối chân thành, quyết tâm từ bỏ tội của chúng ta cùng với đức tin tuyệt đối vào trong sự nhân từ, thương xót, và quyền phép của Đức Chúa Trời; rằng, Ngài sẽ khiến cho chúng ta được sống lại một con người mới với nếp sống thánh khiết, thuộc riêng về Ngài để làm những việc lành mà Ngài đã sắm sẵn cho chúng ta (I Phi-e-rơ 1:3; Ê-phê-sô 2:10).

Của lễ sống là của lễ sinh sôi, nảy nở, kết quả cho Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 13:23). Của lễ thánh, là của lễ dành riêng cho Đức Chúa Trời, thuộc về Ngài (I Phi-e-rơ 2:9). Một của lễ sống và thánh đương nhiên là một của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, một của lễ được Ngài ưa thích. Đức Chúa Trời ưa thích chúng ta dùng thân thể mình để làm sáng danh Ngài (Giăng 15:8; I Cô-rinh-tô 6:20), để đem tình yêu và Tin Lành cứu rỗi của Ngài đến cho muôn dân (Ma-thi-ơ 28:19).

III. Sự thờ phượng phải lẽ

Chúng ta thường nghĩ rằng: đi nhà thờ, hát thánh ca, đọc Thánh Kinh, cầu nguyện, nghe giảng… là thờ phượng Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, tất cả những điều đó chỉ là những hành động bên ngoài của thể xác, biểu hiệu cho sự thờ phượng thật trong tâm thần của chúng ta, hoặc là những hành động giả hình nếu trong lòng chúng ta không thật sự thờ phượng Chúa. Một người rất có thể có đời sống vô cùng “ngoan đạo” nhưng trong lòng không hề có sự tôn kính, thờ phượng Đức Chúa Trời. Đức Chúa Jesus phán:

“Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy. Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.” (Giăng 4:23, 24)

Một người thật sự tôn kính, thờ phượng Chúa là một người được Đức Chúa Trời ưa thích. Thờ phượng Chúa bằng tâm thần nghĩa là trong chúng ta tuyệt đối không còn một thần tượng nào, kể cả thần tượng hóa chính mình, không còn ham mến thế gian cùng những gì thuộc về thế gian, mà chỉ có duy nhất sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Một người thật sự tôn kính Chúa là một người tình nguyện dùng chính thân thể mình làm của lễ dâng lên Đức Chúa Trời. Người đó tha thiết sống cho Chúa, khao khát sớm được vào trong cõi đời đời với Chúa, đến nổi thế gian và những gì thuộc về thế gian không còn vướng bận trong tâm trí của người nữa. Thờ phượng Chúa bằng lẽ thật là thờ phượng Chúa theo như sự chỉ dạy của Ngài trong Thánh Kinh và bằng tấm lòng chân thật.

Chữ “thờ phượng phải lẽ” trong nguyên tác có nghĩa là sự thờ phượng được chấp nhận. Hành động dâng thân thể mình làm của lễ sống cho Đức Chúa Trời là hành động thờ phượng Đức Chúa Trời mong đợi nơi con dân Ngài và là hành động thờ phượng Đức Chúa Trời cao cả nhất mà một người có thể thực hiện.

IV. Đừng làm theo đời này, nhưng hãy biến hóa…

Bí quyết và cũng là điều kiện duy nhất để một người có thể dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh cho Đức Chúa Trời là “đừng làm theo đời này, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm trí mình.

Sự đổi mới của tâm trí chúng ta là do Đức Chúa Trời chủ động. Ngài làm công việc tái sinh chúng ta và nhờ sự tái sinh đó mà tâm thần (spirit) của chúng ta được tương giao với Chúa khiến cho tâm trí (mind) của chúng ta hiểu biết thánh ý của Chúa trên đời sống của chúng ta. Khi đã có sự hiểu biết về Chúa qua tâm trí đã được Chúa đổi mới của chúng ta, chúng ta cần đi đến quyết định (will). Hoặc là chúng ta quyết định cứ làm theo đời này như bao nhiêu người không biết Chúa, hoặc là chúng ta quyết định thay đổi nếp sống theo sự hiểu biết của tâm trí mình. Sự thay đổi nếp sống theo tiêu chuẩn thánh khiết của Chúa chính là sự biến hóa mà Thánh Kinh đề cập trong Rô-ma 12:2.

Một người đã quyết định không còn làm theo đời này nhưng thay đổi nếp sống theo sự hiểu biết về Chúa trong tâm trí mình có thể chọn lựa tự mình cố gắng sống theo tiêu chuẩn của Chúa hoặc chọn lựa dâng hiến thân thể mình lên Chúa để Ngài toàn quyền sử dụng.

Khi chúng ta thật lòng ăn năn tội, thật lòng tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ thì chúng ta được Chúa tha tội, được Chúa tái sinh; nhưng chỉ khi chúng ta dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Đức Chúa Trời thì chúng ta mới được đầy dẫy Thánh Linh. Chúng ta được tái sinh, được vào nước trời vì tin nhận Chúa nhưng chúng ta chỉ được đầy dẫy Thánh Linh và được sống sung mãn khi chúng ta hoàn toàn dân hiến thân thể mình lên Chúa.

 Kết luận

Chúng ta sẽ không bao giờ có thể thờ phượng Chúa, sống cho Chúa, và hầu việc Chúa một cách phải lẽ, đẹp lòng Chúa cho đến khi chúng ta dâng thân thể của chúng ta làm của lễ sống và thánh lên Chúa. Đức Chúa Trời cũng không chấp nhận một của lễ nào khác của chúng ta cho đến khi chúng ta dâng chính thân thể mình làm của lễ đẹp lòng Ngài. Dâng thân thể của mình cho Chúa là không để cho thân thể của mình làm bất cứ một điều gì không đẹp ý Chúa, và luôn luôn hết sức làm những gì đẹp lòng Chúa, theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Thân thể chúng ta dâng lên Chúa được Chúa biến thành đền thờ, Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trong thân thể chúng ta (Giăng 14:23; I Cô-rinh-tô 6:19), và đó là sự thờ phượng phải lẽ Đức Chúa Trời mong đợi nơi chúng ta.

Đức Chúa Trời đã tái sinh chúng ta, trao cho chúng ta năng lực và thẩm quyền để bắt phục thân thể mình, vậy nên, chúng ta hãy biến hóa thân thể mình thành đồ dùng của sự công bình. Khi chúng ta hoàn toàn đầu phục Chúa từ tâm thần, linh hồn, cho đến thể xác, chúng ta sẽ kinh nghiệm được thánh ý tốt lành, trọn vẹn, và thỏa lòng của Đức Chúa Trời đối với chúng ta.

Huỳnh Christian Timothy
22/07/2007




 

 

Share This:

Quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời

8,798 views

 

1. Quyền tự do chọn lựa: Đức Chúa Trời không bao giờ bắt ép một người nào làm con của Ngài và Ngài cũng không bao giờ ngăn cản một người nào muốn trở nên con cái của Ngài. Trong thực tế, Ngài cất đi hết tất cả những trở ngại để một người có thể tự do chọn lựa được trở nên con cái của Ngài, và Ngài kiên nhẫn chờ đợi trước cửa lòng của mỗi người. Con cái của Đức Chúa Trời là những người hoàn toàn tự do chọn lựa đến với Chúa, tự do chọn lựa kính yêu, thờ phượng Chúa, tự do chọn lựa sống nếp sống thánh khiết đẹp lòng Chúa.

"Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hãy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa." (Ga-la-ti 5:1)

"Trong Ngài chúng ta nhờ đức tin đến Ngài mà được tự do đến gần Đức Chúa Trời cách dạn dĩ." (Ê-phê-sô 3:12)

 

2. Quyền tự do hành động: Con cái của Đức Chúa Trời chẳng những được tự do trong sự chọn lựa mà còn được tự do hành động. Nếu chỉ có tự do chọn lựa mà không được tự do hành động thì sự tự do chọn lựa sẽ trở thành vô ích. Một người được tự do chọn lựa đi theo Chúa cũng sẽ được ban cho quyền tự do làm bất cứ điều gì cần thiết phải làm để có thể đi theo Chúa. Tuy nhiên, con cái của Đức Chúa Trời phải cẩn thận hành sử quyền tự do Chúa ban để không lạm dụng mà trở thành phạm tội với Chúa.

"Mọi sự tôi có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự tôi có phép làm, nhưng chẳng để sự gì bắt phục được tôi." (I Cô-rinh-tô 6:12)

"Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều làm gương tốt." (I Cô-rinh-tô 10:23)

"Hỡi anh em, anh em đã được gọi đến sự tự do, song chớ lấy sự tự do đó làm dịp cho anh em ăn ở theo tánh xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau." (Ga-la-ti 5:13)

 

3. Sức chịu đựng về thể chất: Con cái của Đức Chúa Trời đang sống trong thân thể vật chất cho nên còn được Ngài ban cho sức chịu đựng về thể chất khi trải qua nghịch cảnh, cám dỗ, và thử thách để dự phần trong sự thương khó của Đấng Christ, dự phần trong sự tôn vinh Ngài. Phao-lô ba lần cầu xin Chúa cất đi sự yếu đuối trong thể xác của ông nhưng Chúa không cất sự yếu đuối đi mà chỉ ban thêm ân điển để ông chịu đựng.

"Đã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi. Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nha, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ." (I Cô-rinh-tô 12:8-10)

"Vậy, vì Đấng Christ đã chịu khổ trong xác thịt, thì anh em cũng phải lấy sự đó làm giáp trụ, vì người nào đã chịu khổ trong xác thịt, thì đã dứt khỏi tội lỗi." (I Phi-e-rơ 4:1)

"Vậy những kẻ chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy cứ làm lành mà phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín." (I Phi-e-rơ 4:19)

"Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài." (Rô-ma 8:17)

"Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi." (Phi-líp 4:13)

Chúng ta hãy xem qua những gương chịu khổ về thể chất được ghi lại trong Thánh Kinh:

"Có kẻ khác chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích, lao tù nữa. Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi, thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi trong hang, trong những hầm dưới đất." (Hê-bơ-rơ 11:36-38)

"Họ là kẻ hầu việc của Đấng Christ phải chăng? Ừ, tôi nói như kẻ dại dột, tôi lại là kẻ hầu việc nhiều hơn! Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đòi phen tôi gần phải bị chết; năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. Lại nhiều lần tôi đi đường nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối; chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ." (II Cô-rinh-tô 11:23-27)

 

4. Sức chịu đựng về thuộc linh: Chẳng những Đức Chúa Trời ban cho con cái của Ngài có sức chịu đựng các đau khổ về thể chất mà Ngài còn ban cho họ sức chịu đựng các đau khổ và thử thách về mặt thuộc linh. Chính Đức Chúa Jesus đang khi ở trong xác thịt của loài người cũng từng trải những sự đau đớn về thuộc linh:

"Đoạn, Ngài bèn đem Phi-e-rơ và hai người con của Xê-bê-đê đi với mình, tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm. Ngài bèn phán: Linh hồn ta buồn bực cho đến chết; các ngươi hãy ở đây và tỉnh thức với ta." (Ma-thi-ơ 26:37, 38)

và có một thiên sứ đã từ trên trời hiện đến để thêm sức cho Ngài (Lu-ca 22:43). Sứ đồ Phao-lô cũng vì công việc Chúa mà trải qua những sự đau đớn về thuộc linh:

"Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Chúa Trời: tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn." (Rô-ma 9:1, 2)

"Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sanh nở, cho đến chừng nào Đấng Christ thành hình trong các con." (Ga-la-ti 4:19)

Những đau đớn về thuộc linh thường khi khó chịu đựng hơn những đau đớn về thể chất, nhưng Đức Chúa Trời luôn mở đường cho con cái của Ngài ra khỏi, Chúa không bao giờ để cho cám dỗ, thử thách vượt quá sức chịu đựng mà Ngài đã ban cho chúng ta:

"Những sự cám dỗ đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu; nhưng trong sự cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được." (I Cô-rinh-tô 10:13)

5. Sức ảnh hưởng: Suốt gần hai ngàn năm qua, Tin Lành của Đức Chúa Trời đã ảnh hưởng đến mọi nền văn hóa của loài người. Văn hóa là lối suy nghĩ, là quan niệm, và là nếp sống của một tập thể. Bên cạnh những ảnh hưởng tốt cũng có nhiều ảnh hưởng xấu mạo nhận danh Chúa, điển hình là các phong tục về lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh. Sức ảnh hưởng chân thật của đạo Chúa không phải là những nghi thức, tục lệ do loài người đặt ra, mà là những gì phát xuất từ những việc lành đúng theo lời dạy của Chúa trong Thánh Kinh.

"Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời." (Ma-thi-ơ 5:16)

"Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo." (Ê-phê-sô 2:10)

"Lời nầy là chắc chắn, ta muốn con nói quyết sự đó, hầu cho những kẻ đã tin Đức Chúa Trời lo chăm chỉ làm việc lành: đó là điều tốt lành và có ích cho mọi người." (Tít 3:8)

"Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất. Vì ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta; ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta; ta đau, các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi viếng ta. Lúc ấy, người công bình sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; hoặc khát, mà cho uống? Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho? Hay là khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà đi thăm viếng Chúa? Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy." (Ma-thi-ơ 25:34-40)

"Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian." (Gia-cơ 1:27)

"Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta." (Giăng 13:35)

 

6. Quyền lợi đặc biệt: Mặc dù Đức Chúa Trời làm ơn cho người công bình lẫn người gian ác (Ma-thi-ơ 5:45) nhưng con cái của Đức Chúa Trời có những đặc quyền mà thế gian không thể có được:

a) Nhận được sự bình an của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ: "Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi." (Giăng 14:27)

"Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ." (Phi-líp 4:7)

b) Nhận được sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời từ Đấng Christ: "Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài, mà Ngài đã rải ra đầy dẫy trên chúng ta cùng với mọi thứ khôn ngoan thông sáng." (Ê-phê-sô 1:7, 8)

"Cho nên, chúng tôi cũng vậy, từ ngày nhận được tin đó, cứ cầu nguyện cho anh em không thôi, và xin Đức Chúa Trời ban cho anh em được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài, với mọi thứ khôn ngoan và hiểu biết thiêng liêng nữa." (Cô-lô-se 1:9)

c) Nhận được đầy đủ mọi sự cần dùng: "Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jêsus Christ." (Phi-líp 4:19)

d) Được tha tội và làm cho sạch tội: "Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác." (I Giăng 1:9)

e) Vượt khỏi sự chết mà vào sự sống đời đời: "Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống." (Giăng 5:24)

f) Nhận được Đức Thánh Linh và được Thánh Linh dẫn dắt: "Còn Chúng ta đây là kẻ làm chứng mọi việc đó, cũng như Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho kẻ vâng lời Ngài vậy." (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:32)

"Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời." (Rô-ma 8:14)

g) Nhận được các ân tứ của Đức Thánh Linh: "Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh… Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung." (I Cô-rinh-tô 12:4, 7)

 

7. Quyền cai trị: Mỗi con cái của Đức Chúa Trời đều có năng lực để cai trị xác thịt của mình, bắt nó phải vâng phục nếp sống thánh khiết đẹp lòng Chúa, cai trị nhà riêng của mình theo sự dạy dỗ của lời Chúa, cai trị Hội Thánh khi được kêu gọi vào các chức vụ trong Hội Thánh. Một ngày kia, con cái của Đức Chúa Trời sẽ đồng trị với Đấng Christ.

"Song tôi đãi thân thể mình cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng." (I Cô-rinh-tô 9:27)

"Phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời?" (I Ti-mô-thê 3:4, 5)

"Vậy ta muốn những gái góa còn trẻ nên lấy chồng, sanh con cái, cai trị nhà mình, khỏi làm cớ cho kẻ thù nghịch nói xấu." I Ti-mô-thê 5:14)

"Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta." (II Ti-mô-thê 2:12)

 

Để có thể trở nên con cái của Đức Chúa Trời chúng ta cần phải nhận lãnh quyền phép từ nơi Đấng Christ. Quyền phép đó chỉ được ban cho những ai tin vào danh Chúa và tiếp nhận Ngài. Chúng ta có thể đã tin vào danh Chúa, đã nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình, đã được ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời nhưng chúng ta sẽ không bao giờ trở nên con cái của Đức Chúa Trời cho đến khi chúng ta hành sử quyền phép đã ban cho chúng ta.

 

Huỳnh Christian Timothy
08/07/2007
tim@tinlanhvietnam.net
http://tinlanhvietnam.net  



Share This:

Điều kiện để được trở nên con cái của Đức Chúa Trời

2,277 views

 

Được trở nên con cái của Đức Chúa Trời là một đặc ân do chính Đức Chúa Trời ban cho loài người. Đặc ân này kèm theo một điều kiện: nhận Đấng Christ bởi tin danh Ngài:

"Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời,
là ban cho những kẻ tin danh Ngài."
(Giăng 1:12)

 

Những người nhận Chúa là những người đã tin danh Chúa. Tin danh Chúa tức là tin vào Ngài, là tin vào bản thể, thuộc tính, và quyền năng của Ngài đã được thể hiện qua danh của Ngài.

1. Tin rằng: Ngài là Đấng Christ (tiên tri – thầy tế lễ – vua), Con của Đức Chúa Trời Hằng Sống:

"Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống." (Ma-thi-ơ 16:16)

2. Tin rằng: Sự cứu rỗi chỉ có trong danh của Chúa và chúng ta kêu cầu danh Chúa để được cứu:

"Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu." (Công Vụ 3:12)

"Và lại ai cầu khẩn danh Chúa thì sẽ được cứu." (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:21; Rô-ma 10:13)

3. Tin rằng: Chúng ta được tha thứ tội nhờ danh của Chúa:

"Hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài." (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:43)

"Hỡi các con cái bé mọn ta, ta viết cho các con, vì tội lỗi các con đã nhờ danh Chúa được tha cho." (I Giăng 2:12)

4. Tin rằng: Chúng ta được sạch tội, được thánh hóa, được xưng nghĩa trong danh của Chúa:

"Trước kia anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế; nhưng nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ, và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời chúng ta, thì anh em được rửa sạch, được nên thánh, được xưng công bình rồi." (I Cô-rinh-tô 6:11)

5. Tin rằng: Chúng ta được báp-tem (nhúng chìm) vào trong danh của Chúa, nghĩa là được đồng chết, đồng sống lại với Chúa:

"Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ." (Ma-thi-ơ 28:19)

"Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh." (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38)

6. Tin rằng: Chúng ta nhờ danh Chúa mà được sự sống, nghĩa là sự sống đích thực phản chiếu tình yêu, sự thánh khiết, và sự công chính của Đức Chúa Trời:

"Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống." (Giăng 20:31)

7. Tin rằng: Sự sống đời đời được ban cho những ai tin danh Chúa:

"Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời." (I Giăng 5:13)

Chữ nhận trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là nắm lấy và giữ lại. Tin vào Chúa qua danh của Ngài là sự nhận thức của chúng ta về Chúa. Sự nhận thức đó cần phải thể hiện qua hành động. Hành động đó là nhận Chúa, là nắm chặt lấy Chúa và giữ Chúa lại trong đời sống của chúng ta. Tin Chúa và nhận Chúa là:

1. Vì danh Chúa mà đặt mọi quan hệ tình cảm và mọi giá trị của tài sản dưới Chúa – là yêu Chúa trên hết mọi sự:

"Hễ ai vì danh ta mà bỏ anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, nhà cửa, thì người ấy sẽ lãnh bội phần hơn, và được hưởng sự sống đời đời." (Ma-thi-ơ 19:29)

2. Sống nếp sống danh Chúa chiếu sáng trong chúng ta, và chúng ta luôn ở trong Chúa – là nếp sống thực hành lời Chúa:

"Cho nên, chúng tôi vì anh em cầu nguyện không thôi, hầu cho Đức Chúa Trời chúng ta khiến anh em xứng đáng với sự gọi của Ngài, và cho Ngài lấy quyền phép làm trọn trong anh em mọi ý định thương xót của lòng nhơn Ngài và công việc của đức tin; đến nỗi làm sáng danh Đức Chúa Jêsus chúng ta trong anh em, và anh em trong Ngài, tùy theo ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta và của Đức Chúa Jêsus Christ." (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:11, 12)

3. Sống nếp sống cảm tạ Chúa trong mọi sự và làm mọi sự trong danh của Chúa – là nếp sống tin cậy và tôn vinh Chúa:

"Hãy thường thường nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta." (Ê-phê-sô 5:20)

"Mặc dầu anh em nói hãy làm, cũng phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha." (Cô-lô-se 3:17)

 

Tin Chúa là đức tin, nhận Chúa là việc làm thể hiện đức tin. Một người tin Chúa mà đức tin đó không thể hiện qua việc làm: yêu Chúa hơn mọi sự, vâng phục Chúa trong mọi sự, tin cậy và tôn vinh Chúa trong mọi sự, thì người đó chưa nhận Chúa, chưa được Chúa ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời. Người đó chỉ mới là tín đồ nhưng chưa phải là thánh đồ. Ma quỷ cũng tin Chúa và run sợ lắm (Gia-cơ 2:19) nhưng ma quỷ vẫn phải đi vào hỏa ngục đời đời. Chúng ta hãy tin nhận Chúa! Tin Chúa và nhận Chúa là điều kiện để được Chúa ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời.

 

Huỳnh Christian Timothy
01/07/2007
tim@tinlanhvietnam.net
http://tinlanhvietnam.net  



Share This:

Mục đích của cuộc sống

2,357 views

 

Trong tất cả muôn loài vạn vật được Đức Chúa Trời dựng nên trên trái đất, thì loài người là sinh vật duy nhất biết chọn lựa mục đích cho cuộc sống, biết thiết lập các mục tiêu làm các bậc thang để đạt tới mục đích, biết tìm kiếm, sáng tạo, và sử dụng mọi phương tiện để đạt đến các mục tiêu.

Với ý nghĩa tuyệt đối, mục đích là điểm đến cuối cùng của cuộc sống, các mục tiêu đánh dấu những chặng đường trong cuộc sống dẫn đến mục đích, và các phương tiện có thể bao gồm: thời gian, tri thức, năng lực, của cải, địa vị xã hội, tín ngưỡng tôn giáo…

Có thể nói, trong nhân loại chia ra làm hai loại người: loại người chọn sai mục đích, và loại người chọn đúng mục đích. Nói như thế, thì dựa vào đâu để xác định thế nào là sai mục đích và thế nào là đúng mục đích? Trong đức tin của người tín đồ Đấng Christ, tiêu chuẩn duy nhất để phân biệt đúng sai, thiện ác, là lời Chúa, là Thánh Kinh. Vì thế, để có thể chọn đúng mục đích cho cuộc sống, một người phải hoàn toàn dựa vào các lẽ thật của Thánh Kinh và dựa vào sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh (Giăng 16:13). Đức Thánh Linh là Đấng duy nhất giải bày lẽ thật trong Thánh Kinh cho nhân loại vì Ngài là Thần Lẽ Thật và là tác giả của Thánh Kinh.

Hơn mười năm qua, có một tác phẩm ảnh hưởng rộng khắp và mạnh mẽ trên toàn thế giới, đó là tác phẩm "Sống theo đúng mục đích" của Rick Warren. Hàng trăm ngàn mục sư Tin Lành và hàng triệu tín đồ thuộc các giáo phái Tin Lành đã tiếp nhận tác phẩm này như là một phương tiện phục hưng, là kim chỉ nam để giúp cho mọi người "sống theo đúng mục đích". Tuy nhiên, tác phẩm của Rick Warren không thể giúp cho người đọc "sống theo đúng mục đích" vì quan điểm được trình bày trong tác phẩm đó đã phạm vào một sai lầm cơ bản rất là nghiêm trọng là đi ngược lại lời Chúa. Thánh Kinh dạy: loài người được hoài thai và sinh ra trong gian ác, trong tội lỗi (Thi Thiên 51:5); lòng người là xấu xa và dối trá hơn muôn vật (Giê-rê-mi 17:9); và người có thể được sinh ra bởi tình dục, bởi ý người, chứ không phải bởi ý Chúa (Giăng 1:13). Rick Waren dạy: "Từ rất lâu trước khi bạn hoài thai trong bụng mẹ mình, thì bạn đã được hoài thai trong tâm trí của Đức Chúa Trời rồi… Đức Chúa Trời đã vẽ nên từng chi tiết nhỏ trên thân thể của bạn. Ngài cũng đã rất thận trọng khi lựa chọn chủng tộc, màu da, màu tóc và mọi đặc tính khác của bạn. Ngài đã tạo dựng thân thể bạn cách thật đặc biệt theo điều Ngài muốn…" [1]

 

Theo Thánh Kinh, chúng ta được sinh ra trong tội lỗi và chết mất trong tội lỗi, Đức Chúa Trời đã đến để cứu chuộc chúng ta ra khỏi tội lỗi và sự chết. Giữa sự toàn năng của Đức Chúa Trời và ý chí tự do Ngài ban cho loài người, Ngài đã cho phép loài người được sinh ra bởi tình dục, bởi ý người, kể cả được hoài thai và sinh ra trong gian ác, trong tội lỗi… nhưng Ngài đã đến và cứu nhân loại ra khỏi tội lỗi, khỏi sự chết. Đức Chúa Trời cho phép tội lỗi và điều ác xảy ra không có nghĩa là Ngài dự phần trong tội lỗi và điều ác. Ngài cho phép điều ác và tội lỗi xảy ra để thiên sứ và loài người hoàn toàn tự do trong sự chọn lựa và Ngài toàn năng để sửa chữa hậu quả của những chọn lựa sai lầm. Đức Chúa Trời không hề "vẽ nên từng chi tiết nhỏ trên thân thể" của những người sứt môi, mù mắt, dị dạng… bẫm sinh mà đó là những hậu quả đau thương của điều ác và tội lỗi. Đức Chúa Trời không hề "thận trọng lựa chọn chủng tộc, màu da, màu tóc" cho những đứa con là kết quả của sự hãm hiếp bởi những đoàn quân xâm lược, của những tên cướp biển, hay kết quả tội lỗi của những người loạn luân, những người mua hương, bán phấn… mà Ngài khóc khi những tội ác đó xảy ra (Giê-rê-mi 14:15).

Toàn bộ tác phẩm "Sống theo đúng mục đích" đã đi ngược lại Thánh Kinh, đã diễn dịch sai lạc lời Chúa, thêm vào và bớt đi lời Chúa cho nên không phải là phương tiện để giúp cho một người chọn đúng mục đích trong cuộc sống.

Người không tin nhận Chúa là đã chọn sai mục đích, và kết quả cuối cùng của họ là đời đời hư mất trong hỏa ngục (Giăng 3:36; II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9; Khải Huyền 20:21). Người đã tin nhận Chúa vẫn có thể chọn sai mục đích vì thiếu sự thông biết (Ô-sê 4:6). Người thiếu sự thông biết là người không hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính yêu Chúa (Lu-ca 10:27), là những người không yêu Chúa hơn tất cả mọi sự (Giăng 21:15), là những người yêu thế gian và những sự thuộc về thế gian (I Giăng 2:15, 16), là những người muốn nên giàu có, tham tiền bạc (I Ti-mô-thê 6:9, 10)… và vì thế mà không có lòng khao khát lời Chúa, là lời của sự sống đời đời (Giăng 6:68), là nguồn sống của nhân loại (Ma-thi-ơ 4:4). Trong câu chuyện ngụ ngôn về người gieo giống do Đức Chúa Jesus kể, có hai loại người đã tin Chúa nhưng chọn sai mục đích. Loại thứ nhất chọn cuộc sống an nhàn làm mục đích cho nên khi bị thử thách, bách hại thì không giữ được đức tin. Loại thứ hai chọn tiện nghi, giàu có vật chất làm mục đích cho nên khi không đạt được tiện nghi, giàu có thì mất đức tin, nhưng ngay cả khi đạt được tiện nghi, giàu có cũng đánh mất đức tin vì bị cuốn hút vào những thú vui tội lỗi của cuộc đời do sự tiện nghi, giàu có mang đến (Châm Ngôn 30:8, 9).

Muốn chọn đúng mục đích trong cuộc sống, trước hết cần phải nhận rõ vị trí hiện tại của mình rồi thiết lập các mục tiêu hướng đến mục đích. Nhờ Thánh Kinh mà chúng ta  nhìn thấy địa vị tội lỗi, bị hư mất của chính mình (Rô-ma 3:23). Nhờ Thánh Kinh mà chúng ta biết mục đích của loài người là được quyền làm con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12), được trở nên trọn vẹn như Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 5:48), và được đồng trị với Đấng Christ (II Ti-mô-thê 2:12). Nhờ Thánh Kinh mà chúng ta biết được các mục tiêu cần thiết để giúp chúng ta đạt đến mục đích. Chúng ta phải đạt đến từng mục tiêu, mà mục tiêu đầu tiên là hết lòng ăn năn tội, tiếp nhận sự tha thứ của Đức Chúa Trời qua sự hy sinh của Đấng Christ. Mục tiêu kế tiếp là hoàn toàn đầu phục Chúa và tiếp nhận sự thánh hóa của Ngài. Mục tiêu thứ ba là học biết về Chúa và nói cho người khác biết về Chúa. Khi đã có mục đích và các mục tiêu, việc còn lại là chúng ta tận dụng mọi phương tiện Chúa ban để vượt qua từng mục tiêu mà đi đến mục đích.

Nguyện Cha từ ái ban cho chúng ta sự khôn ngoan thông sáng để vừa muốn, vừa làm theo ý tốt lành của Ngài (Phi-líp 2:13). A-men!

 

Huỳnh Christian Timothy
24/06/2007
tim@tinlanhvietnam.net
http://www.tinlanhvietnam.net



Tham Khảo

[1] Rick Warren, Sống theo đúng mục đích, Bản dịch Việt Ngữ không đề tên người dịch, không đề tên nhà phát hành, không đề năm phát hành, trang 20

 

Share This:

Người chăn và bầy chiên

3,390 views

I. Người chăn

Điều kiện để trở thành một người chăn bầy của Chúa không phải chỉ cần đi vào trường thần học bốn năm, đủ điểm tốt nghiệp, được giáo hội "phong chức". Nếu như thế thì các sứ đồ của Chúa, trong đó có những người đánh cá, thất học như Phi-e-rơ và Giăng (Công Vụ Các Sứ Đồ 4:13) sẽ không bao giờ được trở thành những người chăn bầy. Cách đây không lâu, có một người xin ghi danh theo học các trường Thần Học Việt Nam tại Mỹ đã bị các trường này từ chối vì chỉ mới tốt nghiệp lớp chín, chưa tốt nghiệp lớp 12. Với tiêu chuẩn đó, e rằng hầu hết các sứ đồ của Đức Chúa Jesus không thể ghi tên nhập học các trường thần học này.

Điều kiện duy nhất để được Chúa giao cho chức vụ chăn bầy là: Yêu Chúa hơn tất cả mọi sự! Sách Giăng 21:15-17 ghi lại câu chuyện Đức Chúa Jesus sau khi sống lại đã hiện ra bên bờ biển Ti-bê-ri-át và ba lần hỏi ông Phi-e-rơ rằng: Ngươi yêu ta chăng? Mỗi một lần, Phi-e-rơ đều trả lời rằng: Lạy Chúa! Chúa biết rằng con yêu Chúa! Và mỗi một lần Chúa đều giao trách nhiệm chăn bầy cho Phi-e-rơ.

Cá nhân tôi không phủ nhận lợi ích của các trường thần học, nhưng cá nhân tôi cũng được chứng kiến nhiều về những tai hại mà các trường thần học mang lại cho Hội Thánh ngày nay. Khi các trường thần học cũng như các tổ chức khác của Hội Thánh chạy theo tri thức, sự khôn ngoan, mánh khoé tâm lý của thế tục thay vì hoàn toàn đặt mình dưới sự dẫn dắt và vận hành của Đức Thánh Linh thì lập tức trở thành công cụ của Satan để đánh phá Hội Thánh ngay từ bên trong. Xưa nay, tà thuyết đi vào Hội Thánh qua các trường thần học.

Dựa vào lời Chúa, chúng ta biết chắc: lòng yêu Chúa hơn tất cả mọi sự là điều kiện duy nhất để trở thành người chăn bầy của Chúa. Sự khôn ngoan và năng lực để chăn bầy đến bởi Đức Thánh Linh. Một người yêu Chúa hơn tất cả mọi sự thì sẽ say mê lời Chúa. Một người say mê lời Chúa thì sẽ nhận được những sự lạ lùng trong lời Chúa để chăm sóc bầy chiên của Ngài. Không một trường thần học nào có thể thay thế được trường thần học của Đức Thánh Linh, do chính Ngài phán dạy:

"13 Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. 14 Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi. 15 Mọi sự Cha có, điều là của ta; nên ta nói rằng Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi vậy."  (Giăng 16:13-15).

Phẩm chất của người chăn bầy được chính Đức Chúa Jesus tuyên phán: "Người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình" (Giăng 10:11). Người Việt Nam chúng ta không lạ gì hình ảnh mục đồng và những bầy gia súc. Đó là một hình ảnh nên thơ, đã được phổ vào thơ, vào nhạc, vào hội họa. .. nhưng ở vùng Trung Đông, cho đến thời đại hôm nay, đời sống của những người chăn chiên rất là gian khổ và hiểm nguy. Phần lớn địa thế của Trung Đông là những vùng hoang mạc, núi non chớn chở, đầy dẫy thú dữ đói mồi như sư tử, gấu, chó sói… Ngày thì nắng gắt, nóng bức, đêm thì giá lạnh. Những người chăn chiên vừa phải tìm các cánh đồng cỏ xanh tốt gần nơi có nước cho bầy chiên, vừa phải chống chọi với khí hậu khắc nghiệt, vừa phải chiến đấu với thú dữ và cả quân trộm cướp lúc nào cũng tìm cách cướp phá và hủy diệt bầy chiên. Người chăn liều sự sống của mình để bảo vệ bầy chiên khỏi sự hiểm nguy của thiên nhiên, khỏi sự bách hại của dã thú và quân trộm cướp đã đành, nhưng đôi khi người chăn hiền lành còn phải liều sự sống vì muốn cứu những con chiên khờ dại  ham vui, bỏ bầy sa vào hang hố…

Dầu vậy, tất cả những hiểm nguy gian khổ mà người chăn chiên vùng Trung Đông đối diện cũng chỉ mới minh họa được phần nào những hiểm nguy và gian khổ mà người chăn bầy của Chúa phải đối diện mỗi ngày trong cuộc sống.

Đối với những bầy chiên của Chúa:

(1) Ma quỷ như sư tử rống đi rình mò chung quanh, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được (I Phi-e-rơ 5:8). Đây là những trường hợp cám dỗ, thử thách đến trong đời sống của tín đồ. Người chăn phải siêng suốt cầu thay cho đức tin và sự an toàn của bầy chiên.

(2) Kẻ trộm tìm cách dẫn dụ và bắt chiên về để giết và hủy diệt (Giăng 10:10). Đây là trường hợp tà thuyết, tà giáo, giáo sư giả, tiên tri giả dùng lời êm tai để dẫn dụ chiên. Người chăn phải cậy Đức Thánh Linh để rao giảng, trình bày lẽ thật của lời Chúa và dùng lời Chúa để chỉ ra những tà giáo, tà thuyết.

(3) Quân cướp thì tấn công thẳng vào người chăn và cướp hết hoặc làm tan lạc cả bầy chiên (Mác 14:27; Lu-ca 10:30). Sự tấn công của quân cướp thuộc linh là sự tấn công trực tiếp của Satan vào trong người chăn. Sự tấn công đó xuất hiện dưới nhiều hình thức: qua sự cám dỗ về tiền bạc, tiện nghi đời sống, danh tiếng, địa vị, chức vụ, bằng cấp, tình cảm và sắc đẹp… qua sự thử thách như thiếu thốn vật chất, yếu đuối về sức khoẻ, bách hại về tự do, và cả sự vô ơn, ngổ nghịch của bầy chiên…

Trong mọi sự đó, một người chăn hiền lành sẽ chịu đựng và hy sinh cho sự sống còn của bầy chiên, cho dù có phải mất đi những tiện nghi trong đời sống hay ngay cả chính mạng sống của mình. Đó là phẩm chất cao quý của một người chăn chân chính, có Đấng Christ làm đầu và có thể nói với bầy chiên như Phao-lô mà không thẹn với lòng: "Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy!" (I Cô-rinh-tô 11:1)

Người chăn không phải chỉ làm tròn bổn phận được Đức Chúa Trời giao phó mà còn làm gương tốt cho cả bầy chiên. Người chăn bước vào chức vụ vì yêu Chúa, yêu chiên, vui lòng phục vụ, hy sinh chứ không phải bước vào chức vụ vì bị ép tình hay vì lợi nhơ bẩn:

"2 hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em; làm việc đó chẳng phải bởi ép tình, bèn là bởi vui lòng, chẳng phải vì lợi dơ bẩn, bèn là hết lòng mà làm, 3 chẳng phải quản trị phần trách nhậm chia cho anh em, song để làm gương tốt cho cả bầy. 4 Khi Đấng làm đầu các kẻ chăn chiên hiện ra, anh em sẽ được mão triều thiên vinh hiển, chẳng hề tàn héo." (I Phi-e-rơ 5:2-4)

 II. Bầy chiên

Đức Chúa Jesus phán: "Chiên ta nghe tiếng ta! Ta quen nó và nó và nó theo ta!" (Giăng 10:27), đó chính là tiêu chuẩn để nhận biết chiên thật của Chúa. Không phải hễ bất kỳ ai nói rằng: Lạy Chúa! Lạy Chúa! thì là chiên của Ngài, mà chỉ những ai nghe tiếng Chúa và làm theo lời Chúa mới thật sự là chiên của Chúa (Ma-thi-ơ 7:21). Chiên thật của Chúa luôn vâng phục người chăn, kính trọng người chăn, và chia sẻ nhu cầu vật chất với người chăn:

"Hãy vâng lời kẻ dắt dẫn anh em và chịu phục các người ấy, bởi các người ấy tỉnh thức về linh hồn anh em, dường như phải khai trình, hầu cho các người ấy lấy lòng vui mừng mà làm xong chức vụ mình, không phàn nàn chi, vì ấy chẳng ích lợi gì cho anh em. (Hê-bơ-rơ 13:17)

"Hỡi anh em, xin anh em kính trọng kẻ có công khó trong vòng anh em, là kẻ tuân theo Chúa mà chỉ dẫn và dạy bảo anh em." (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:12)

"Các trưởng lão khéo cai trị Hội thánh thì mình phải kính trọng bội phần, nhứt là những người chịu chức rao giảng và dạy dỗ. Vì Kinh Thánh rằng: Ngươi chớ khớp miệng con bò đương đạp lúa; và người làm công thì đáng được tiền công mình." (I Ti-mô-thê 5:17, 18)

"Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy đó." (Ga-la-ti 6:6)

Sự vâng phục người chăn là sự vâng phục trong lẽ thật của lời Chúa. Nguyên tắc "thà vâng lời Đức Chúa Trời hơn vâng lời người ta" (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29) luôn được áp dụng trong sự vâng phục các thẩm quyền Chúa đặt để trên chúng ta. Có những trường hợp người chăn và bầy chiên không đồng ý với nhau về một vấn đề nào đó, mà ý kiến của người chăn không ngược lại sự dạy dỗ của Thánh Kinh, thì bầy chiên có bổn phận phải phục tùng người chăn.

Thánh Kinh dạy con dân Chúa phải vâng phục thẩm quyền Chúa đặt để trên mình: công dân vâng phục quan quyền, vợ vâng phục chồng, con cái vâng phục cha mẹ, tôi tớ vâng phục chủ, tín đồ của Chúa kính sợ Chúa mà vâng phục lẫn nhau (Rô-ma 13:1; Ê-phê-sô 5:21 – 6:6; Cô-lô-se 3:18-22; Tít 2:9; 3:1) và sự vâng phục đó được thể hiện "như là vâng phục Đấng Christ" (Ê-phê-sô 6:5). Sự vâng phục của bầy chiên đối với người chăn, vì vậy là yếu tố đầu tiên trong mối quan hệ giữa bầy chiên với người chăn. Không có sự vâng phục của bầy chiên, người chăn không thể chu toàn nhiệm vụ.

Sự kính trọng người chăn phải đi đôi với sự vâng phục người chăn. Thật ra, mệnh lệnh của Chúa dành cho Hội Thánh là: "Hãy kính mọi người" (I Phi-e-rơ 2:17); "Hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình." (Phi-líp 2:3) chứ không riêng gì đối với người chăn. Tuy nhiên, sự kính trọng người chăn còn được Chúa đặt trong thẩm quyền của người chăn; nghĩa là tôi tớ Chúa có quyền bắt người khác phải tôn trọng mình: "Dẫu rằng chúng tôi có thể bắt anh em tôn trọng chúng tôi, vì là sứ đồ của Đấng Christ, song cũng chẳng cầu vinh hiển đến từ loài người, hoặc từ nơi anh em, hoặc từ nơi kẻ khác" (I Tê-sa-lô-ni-ca 2:6). Lời Chúa nhấn mạnh, sự kính trọng ngưòi chăn xứng đáng của Chúa phải được nhân lên "bội phần" (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:17).

Trong thực tế, nhiều bầy chiên, nhiều con chiên không có sự kính trọng người chăn như lời dạy của Chúa. Thời gian không cho phép tôi liệt kê hết những sự đau lòng như vậy ra đây nên tôi chỉ nêu lên hai trường hợp điển hình: Có những Hội Thánh trể nãi trong việc cung lương cho người chăn. Có những tín đồ xem nhà của người chăn là kho phế thải; họ đem cho người chăn những thức ăn dư thừa, những vật dụng đã hư hõng, xuống cấp. Tôi muốn nói, những thứ mà có ai đem cho họ thì họ sẽ nổi giận!

Sự chia sẻ nhu cầu vật chất cho người chăn là mệnh lệnh Chúa ban truyền cho Hội Thánh và mệnh lệnh đó là "phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia" cho người dạy đạo mình (I Ti-mô-thê 5:17). Người không làm tròn mệnh lệnh này là những người ăn trộm của Đức Chúa Trời (Ma-la-chi 3:8) và lường công của tôi tớ Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 5:18).

Người Do-thái lưu lạc khắp nơi trên thế giới trong hơn hai ngàn năm trăm năm nhưng hễ nơi nào có 10 tráng đinh (tuổi từ 21 đến 60) có công ăn việc làm thì họ dâng 1/10 thu nhập của mình để nuôi một người giảng đạo. Nhiều Hội Thánh ở Nam Hàn khởi đầu với mười tín đồ có công ăn việc làm. Họ dâng 1/10 để cung lương cho người chăn và dâng trội hơn 1/10 để chi phí các nhu cầu khác trong Hội Thánh.

Vì Hội Thánh của Đức Chúa Trời ăn cắp công quỹ và lường công người chăn cho nên bị mất phước và nếu không ăn năn thì sẽ bị đoán phạt.

Kết luận

Mối quan hệ giữa người chăn và bầy chiên phản chiếu mối quan hệ giữa Đấng Christ và Hội Thánh. Đấng Christ chăm sóc Hội Thánh qua các người chăn chân thật. Hội Thánh vâng phục và tôn trọng Đấng Christ qua những người chăn Chúa đặt để trong Hội Thánh. Câu "ban cho có phước hơn nhận lãnh" (Công Vụ Các Sứ Đồ 20:35) cần được áp dụng triệt để vào trong mối quan hệ thiêng liêng giữa người chăn và bầy chiên.

Khi người chăn hết lòng yêu mến Chúa, sẵn sàng hy sinh ngay cả phương tiện sống và mạng sống cho bầy chiên, rao giảng trung thực lời Chúa, làm gương tốt cho cả bầy; khi bầy chiên vâng phục, kính trọng người chăn và biết "lấy trong hết thảy của cải mình" mà chia sẻ với người chăn thì Hội Thánh sẽ được ơn, tăng trưởng mạnh mẽ trong ân điển và phước hạnh của Đức Chúa Trời. 

 

Huỳnh Christian Timothy
10/06/2007

 

Share This:

Địa vị và nhiệm vụ thầy tế lễ của chúng ta

2,286 views

 

I. Địa vị thầy tế lễ

Qua lời Chúa, chúng ta biết rằng mỗi một con dân Chúa là một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, do chính Đấng Christ kêu gọi, lựa chọn, và phong chức. Ngày xưa, A-rôn nhận địa vị thầy tế lễ sau khi được tắm rửa bằng nước trong, được rưới huyết của sinh tế chuộc tội lên trên mình, và được xức dầu chảy tràn từ trên đầu (Lê-vi Ký 8). Ngày nay chúng ta nhận địa vị thầy tế lễ sau khi chịu lễ báp-tem. Trong lễ báp tem có hình ảnh tắm rửa thân thể bằng nước trong, nói lên lòng ăn năn tội của chúng ta; có hình ảnh được nhúng chìm vào trong sự chết của Đấng Christ, nghĩa là được tưới bằng huyết thánh của Ngài, nói lên sự tha tội và làm cho sạch tội chúng ta có được trong Đấng Christ; có hình ảnh được nhúng chìm vào trong đời sống mới đầy dẫy Thánh Linh, nói lên sự chúng ta được ban cho thẩm quyền và năng lực của Đức Thánh Linh để làm trọn nhiệm vụ được giao phó. Có thể nói, sau khi thật lòng chịu lễ báp-tem thì một người chính thức bước vào địa vị thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. 

II. Nhiệm vụ thầy tế lễ

Ba nhiệm vụ chính của thầy tế lễ là: (1) dâng của lễ đời đời lên Đức Chúa Trời mỗi ngày, (2) chúc phước cho dân sự, và (3) cầu thay cho dân sự.

1. Dâng của lễ đời đời: Ngày xưa, mỗi ngày hai bận thầy tế lễ dâng chiên con trong đền thánh, và đó là của lễ đời đời (Xuất Ê-díp-tô Ký 29:38-42). Ngày nay, chúng ta trong địa vị thầy tế lễ của Đức Chúa Trời cũng cần phải ngày hai bận dâng chính thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên cho Đức Chúa Trời. Đó là sự thờ phượng phải lẽ, đẹp lòng Đức Chúa Trời (Rô-ma 12:1):

"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em."

2. Chúc phước cho dân sự:  Dân Số Ký 6:22-27 ghi lại mệnh lệnh của Đức Chúa Trời về việc các thầy tế lễ phải chúc phước cho dân sự như sau:

"22 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 23 Hãy nói cùng A-rôn và các con trai người mà rằng: Các ngươi phải chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: 24 Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! 25 Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! 26 Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi! 27 Họ phải đặt danh ta trên dân Y-sơ-ra-ên như vầy, thì ta đây sẽ ban phước cho dân đó."

Đó là mệnh lệnh rõ ràng của Đức Chúa Trời về việc chúc phước cho con dân Chúa. Nếu ngày nay, mỗi chúng ta, trong địa vị thầy tế lễ của Đức Chúa Trời siêng năng chúc phước cho Hội Thánh, cho dân tộc thì chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho Hội Thánh và dân tộc Việt Nam. Xin hỏi, có bao nhiêu người trong chúng ta đây đã từng chúc phước cho Hội Thánh và dân tộc Việt Nam theo như mệnh lệnh của Chúa?

Ngày nay, theo sự dạy dỗ và truyền thống của giáo hội, những người chăn bầy thường mượn ý II Cô-rinh-tô 13:13 để chúc phước cho Hội Thánh, đại khái như sau:

"Nguyền xin sự yêu thương của Đức Chúa Cha, ân điển của Đức Chúa Con, và sự thông công của Đức Thánh Linh ở cùng hết thảy ông bà anh chị em cho đến ngày Đấng Christ tái lâm!"

Lời chúc phước như vậy có điều gì đó không ổn. Tôi nói lên điều này không phải để lên án hay phê bình ai. Cá nhân tôi cũng từng chúc phước như vậy; nhưng nhiều lần trong khi chúc phước như vậy, tôi vẫn tự hỏi trong lòng: Tại sao không là "cho đến đời đời" mà chỉ là "cho đến ngày Đấng Christ tái lâm?" Không lẽ sau khi Đấng Christ tái lâm thì Hội Thánh không cần nhận lãnh tình yêu, ân điển, và sự thông công của Ba Ngôi Đức Chúa Trời hay sao? Theo thiển ý, lời chúc phước của Phao-lô được dùng trong thư tín thì chúng ta hãy bắt chước Phao-lô mà chúc như vậy khi viết thư cho nhau; còn lời chúc phước Đức Chúa Trời truyền cho các thầy tế lễ chúc phước cho con dân của Ngài thì chúng ta hãy vâng theo trong khi làm nhiệm vụ thầy tế lễ.

Chúng ta có thể dùng tất cả những câu chúc phước trong Thánh Kinh để chúc phước cho Hội Thánh, chúc phước lẫn nhau nhưng chúng ta cần phải trung thực với lời Chúa. Lời của Chúa đã "được vững lập đời đời trên trời" (Thi Thiên 119:89) cho nên chúng ta hãy cùng nhau bắt chước Môi-se, một người khiêm nhu hơn tất cả mọi người trong thế gian (Dân Số Ký 12:3) mà vâng phục lời Chúa, "cẩn thận làm theo mọi điều" (Giô-suê 1:8), và  làm theo "y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn" (Xuất Ê-díp-tô Ký 7:6).

Trong địa vị thầy tế lễ, chúng ta hãy cùng nhau chúc phước cho con dân Chúa y theo lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn:

Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho Hội Thánh và phù hộ Hội Thánh! Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên Hội Thánh, và làm ơn cho Hội Thánh! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem Hội Thánh và ban bình an cho Hội Thánh!

Khi Đức Giê-hô-va ban phước cho Hội Thánh thì Hội Thánh được giàu có thuộc thể lẫn thuộc linh. Khi Đức Giê-hô-va phù hộ Hội Thánh thì Hội Thánh thành đạt trong mọi công việc. Khi Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên Hội Thánh thì Hội Thánh rực rỡ sự vinh hiển của Ngài. Khi Đức Giê-hô-va làm ơn cho Hội Thánh thì không một lầm lỗi nào của Hội Thánh không được tha thứ, không một yếu kém nào của Hội Thánh không được nâng đỡ, không một nhu cầu nào của Hội Thánh không được chu cấp. Khi Đức Giê-hô-va đoái xem Hội Thánh thì sự tương giao giữa Ngài và Hội Thánh không bị gián đoạn. Khi Đức Giê-hô-va ban bình an cho Hội Thánh thì kẻ thù không thể thắng được Hội Thánh, và Hội Thánh vui hưởng ân điển của Ngài.

3. Cầu thay cho dân sự: Nhiệm vụ cầu thay của chúng ta được ghi chép trong Thánh Kinh như sau:

"Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người." (I Ti-mô-thê 2:1)

"Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ." (Ê-phê-sô 6:18)

Đấng Christ là thầy tế lễ cả vẫn hằng cầu thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 7:25), lẽ nào chúng ta là những thầy tế lễ của Đức Chúa Trời lại không làm công tác cầu thay cho dân sự của Ngài?

Trong Thánh Kinh, Ê-sai 59:15, 16 có ghi lại một sự kiện rất là độc đáo:

"Đức Giê-hô-va thấy không có sự công bình thì chẳng đẹp lòng, thấy không có người, chẳng ai cầu thay, thì lấy làm lạ lùng."

Bối cảnh lịch sử của dân Israel lúc bấy giờ là dân Israel hoàn toàn băng hoại vì tội lỗi. Từ hàng ngũ lãnh đạo phạm tội và tắc trách bị Chúa mắng là: "đui mù, không biết chi hết, thảy đều là chó câm, chẳng biết sủa, chiêm bao, nằm sóng sượt, và ham ngủ, lại là chó mê ăn, không biết no, là những kẻ chăn chiên chẳng khôn sáng, theo đường riêng mình, tìm tư lợi mình, người nào cũng vậy…" (Ê-sai 56:9-11) cho đến dân sự: "trở lòng chẳng theo Đức Chúa Trời mình, nói sự bạo ngược và phản loạn, cưu mang những lời giả dối trong lòng và nói ra!  Cho nên sự công bình trở lui lại, sự nhơn nghĩa đứng xa; vì lẽ thật vấp ngã giữa đường phố, và sự ngay thẳng chẳng được vào" (Ê-sai 59:13, 14).

Trong sự hỗn loạn và băng hoại tột cùng nhất của lịch sử Israel đó, Đức Chúa Trời vẫn mong đợi có người cầu thay cho dân Israel; nhưng Đức Chúa Trời đã lấy làm lạ lùng vì không có ai cầu thay. Dân Sô-đôm và Gô-mô-rơ vốn không có giao ước với Chúa, tội ác lên đến trời còn có Áp-ra-ham cầu thay nhưng dân sự Chúa phạm tội lại không có người cầu thay! Tình cảnh đó, phải chăng ngày nay cũng đang xảy ra cho Hội Thánh của Chúa, đặc biệt là Hội Thánh Việt Nam? Những thầy tế lễ Việt Nam đang ở đâu?

Kết luận

Ngày nay, trong thời đại ân điển, mỗi con dân Chúa là một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. Mỗi con dân Chúa có nhiệm vụ dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Đức Chúa Trời; chúc phước cho Hội Thánh của Chúa, cho dân tộc của mình; và cầu thay cho Hội Thánh, cho dân tộc của mình.

Địa vị thầy tế lễ của Đức Chúa Trời chúng ta đã đón nhận nhưng chúng ta đã thi hành nhiệm vụ thánh mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ hay chưa?

 

Huỳnh Christian Timothy
08/06/2007

 

Share This:

Điều Răn: Định Nghĩa “Giết Người”

2,089 views

 

I. Ý nghĩa pháp lý của chữ “giết người”

Chữ “giết người” trong nguyên tác tiếng Hebrew phát xuất từ động từ gốc râtsach có nghĩa là: “đập tan nát một vật gì đó ra thành những mãnh vụn”; và trong pháp lý có nghĩa là: “vì lòng hung bạo hay vì lòng giận ghét mà lấy đi mạng sống của một người”. Danh từ pháp lý trong tiếng Anh gọi là “murder” và trong tiếng Hán Việt gọi là “tội sát nhân”. Như vậy, điều răn thứ sáu nghiêm cấm việc giết người vì lòng hung bạo hoặc giết người vì lòng giận ghét.

Điều răn thứ sáu không nghiêm cấm việc giết chết kẻ thù trong chiến tranh, nếu đó là cuộc chiến tranh Chúa cho phép. Trong Cựu Ước ghi lại nhiều lần Chúa ra lệnh cho dân Israel tiêu diệt kẻ thù trong chiến tranh (Phục Truyền Luật Lệ Ký 7). Đó là những trận chiến tiêu diệt dân Ca-na-an thờ thần tượng mà Chúa đã cho họ cơ hội để ăn năn trong ít nhất là 430 năm. Cũng có lần Chúa không cho phép dân Israel chiến tranh chống lại kẻ xâm lược (Giê-rê-mi 27). Đó là lần Chúa dùng Vua Nê-bu-cát-nết-xa của đế quốc Ba-by-lôn để trừng phạt dân Israel vì tội bắt chước dân Ca-na-an thờ lạy thần tượng.

Điều răn thứ sáu cũng không nghiêm cấm việc xử tử hình những kẻ phạm tội sát nhân, những kẻ bất kính với cha mẹ hoặc không nghe lời dạy của cha mẹ, những kẻ phạm luật Sa-bát, những kẻ phạm tội bói khoa, đồng bóng, chiêm tinh, thờ lạy thần tượng, hoặc xúi giục người khác phạm điều răn của Chúa, những kẻ phạm các luật đạo đức khác do Đức Chúa Trời phán truyền. (Xem phần phụ lục ở cuối bài).

Thánh Kinh ghi rõ án tử hình đến từ Đức Chúa Trời cho nên tất cả những án tử hình dựa trên nguyên tắc xử phạt của Thánh Kinh là công chính và cần thiết để trị an xã hội. Tín đồ của Chúa không nên phản đối án tử hình nếu án đó không vi phạm nguyên tắc của Thánh Kinh. Thánh Kinh cũng có nói đến trường hợp Đức Chúa Trời phó mạng sống của một người vào tay người khác thì người khác đó không bị phạm tội sát nhân. Đó là lý do Chúa khiến cho dân Israel lập các thành ẩn náo cho những kẻ ngộ sát trốn vào đó, chờ đợi hội chúng xét xử trước khi bị người thân của nạn nhân giết đi để báo thù (Dân Số Ký 35). Ngộ sát có nghĩa là vô ý làm chết người. Những người phạm ngộ sát thì không bị xử phạt nhưng nếu là hành vi cố sát, nghĩa là giết người vì lòng hung dữ, độc ác hoặc vì lòng giận ghét, thì cho dù có ẩn trốn nơi bàn thờ của Đức Chúa Trời cũng sẽ bị hội chúng bắt mà giết đi (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:14).

 

II. Ý nghĩa đích thật của chữ “giết người”

Giết người là một hành động vô cùng nghiêm trọng. Không phải là một sự tình cờ khi nghĩa đen của động từ giết người trong tiếng Hebrew có nghĩa là: đập tan nát thành những mãnh vụn. Một vật đã bị đập tan nát thành những mãnh vụn là một vật đã hoàn toàn bị hủy diệt, không thể phục hồi. Giết người không chỉ đơn giản là hủy diệt sự sống của một người mà còn là hủy diệt hình ảnh của Đức Chúa Trời trong người đó (Sáng Thế Ký 1:27; 9:6).

Có hình thức giết người mà tín đồ của Chúa thường vi phạm nhất, đó là lòng ghét người khác. Thánh Kinh ghi rất rõ:

“Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người. Anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình.” (I Giăng 3:15)

Vì bất kỳ lý do gì mà chúng ta ghét một người, là chúng ta đã phạm tội giết người. Đó là lời khẳng định của Đức Chúa Trời cho nên chúng ta không thể lý luận để bào chữa hoặc tìm cách chứng minh ngược lại. Khi Đức Chúa Jesus còn ở trong thân xác của loài người, Ngài đã chịu sự đối xử bất công và độc ác nhất nhưng Ngài vẫn cầu thay cho kẻ thù: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Lu-ca 23:34). Dĩ nhiên, những người mà Đức Chúa Jesus cầu thay cho đó biết rất rõ là họ đang lăng nhục Chúa, đang làm khổ Chúa, và đang giết Chúa. Điều mà họ không biết là họ đang giết chết Con của Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Chuộc họ. Đức Chúa Trời gớm ghét tội lỗi nhưng Ngài yêu thương tội nhân. Chính vì yêu thương tội nhân mà Ngài đã sai Con Một của Ngài nhập thế làm người, chịu khổ, chịu sĩ nhục, và chịu chết, gánh thay án phạt của tội lỗi cho toàn thể nhân loại.

Trong mỗi một con người đều có hình ảnh thiêng liêng của Đức Chúa Trời cho dù họ có bị tội lỗi làm băng hoại đến mức nào. Chúng ta nên gớm ghét tội lỗi, nhưng chúng ta không nên ghét tội nhân, vì chính chúng ta cũng từng là tội nhân. Chúng ta cần phải:

“Hãy ở với nhau cách nhơn từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy.” (Ê-phê-sô 4:32)

“Nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy.” (Cô-lô-se 3:13)

Người nào ghét người khác là phạm tội giết người và người đó không có sự sống đời đời ở trong mình. Không có sự sống đời đời nghĩa là không có Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời chính là sự sống đời đời.

 

Kết luận

Số phận của những kẻ giết người mà không chịu ăn năn thống hối và đến với ơn cứu rỗi của Đấng Christ là sự chết thứ hai trong hồ lửa:

“Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.” (Khải Huyền 21:8)

Không phải những kẻ lấy môi miếng tôn thờ Chúa, nhân danh Chúa làm đủ các thứ dấu kỳ, phép lạ, nhân danh Chúa cầu nguyện, giảng đạo, đuổi quỷ sẽ vào nước thiên đàng, mà chỉ những ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 7:21-23). Một trong những ý muốn của Đức Chúa Trời là: “Chớ giết người!” cho dù chỉ giết người bằng lòng ghét bỏ, không tha thứ!

 

Huỳnh Christian Timothy
03/06/2007

Phụ lục: Án tử hình được thiết lập bởi Đức Chúa Trời

 

Xuất Ê-díp-tô ký 19:12 – Vả, ngươi hãy phân định giới hạn cho dân sự ở chung quanh núi, và dặn rằng: Khá giữ mình đừng leo lên núi, hoặc đụng đến chân; hễ kẻ nào đụng đến thì sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:12 – Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:15 – Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:16 – Kẻ nào bắt người và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:17 – Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:29 – Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay báng và chủ đã bị mắng vốn mà không cầm giữ, nếu bò nầy còn giết một người đàn ông hay đàn bà, thì nó sẽ bị ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa.

Xuất Ê-díp-tô ký 22:19 – Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 31:14 – Vậy, hãy giữ ngày sa-bát, vì là một ngày thánh cho các ngươi. Kẻ nào phạm đến ngày đó, phải bị xử tử; kẻ nào làm một việc chi trong ngày đó, cũng sẽ bị truất khỏi vòng dân sự.

Xuất Ê-díp-tô ký 31:15 – Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày sa-bát, tức là ngày nghỉ, biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Trong ngày sa-bát hễ ai làm một việc chi sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 35:2 – Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng đến ngày thứ bảy sẽ là một lễ thánh, tức là ngày sa-bát biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm công việc trong ngày đó sẽ bị xử tử.

Lê-vi ký 20:2 – Ngươi hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Phàm ai trong dân Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ giữa vòng họ, dùng một trong các con mình dâng cho thần Mo-lóc, thì chắc sẽ bị xử tử: dân bổn xứ phải ném đá người ấy.

Lê-vi ký 20:9 – Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó.

Lê-vi ký 20:10 – Nếu người nào phạm tội tà dâm cùng vợ của người khác, hay là phạm tội tà dâm cùng vợ người lân cận mình, người nam cùng người nữ đó đều phải bị xử tử.

Lê-vi ký 20:11 – Nếu người nào nằm cùng vợ cha mình, ấy là gây nhục cho cha mình, thì hai người đều hẳn phải bị xử tử; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ.

Lê-vi ký 20:12 – Nếu người nào nằm cùng dâu mình, hai người đều hẳn phải bị phạt xử tử; vì họ phạm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ.

Lê-vi ký 20:13 – Nếu một người nam nằm cùng một người nam khác, như nằm cùng người nữ, thì hai người đó đều hẳn phải bị xử tử, vì họ đã làm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ.

Lê-vi ký 20:15 – Nếu một người nam cấu hiệp cùng thú vật, thì hẳn phải bị xử tử, và các ngươi hãy giết thú đó đi.

Lê-vi ký 20:27 – Khi nào một người nam hay nữ làm đồng cốt, hay là bói khoa, thì hẳn sẽ bị xử tử; người ta sẽ ném đá chúng nó: huyết chúng nó sẽ đổ lại trên mình chúng nó.

Lê-vi ký 24:16 – Ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng sẽ ném đá nó: mặc dầu nó là kẻ khách ngoại bang hay là sanh trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử.

Lê-vi ký 24:17 – Kẻ nào đánh chết một người nào, mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử.

Lê-vi ký 24:21 – Kẻ nào làm chết một súc vật, thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết chết một người, thì phải bị xử tử.

Dân số ký 1:51 – Khi nào đền tạm dời chỗ, thì người Lê-vi sẽ tháo dỡ nó; khi nào đền tạm dừng lại, thì họ sẽ dựng nó lên; còn người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.

Dân số ký 3:10 – Vậy, ngươi sẽ lập A-rôn và các con trai người, để làm chức tế lễ; người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.

Dân số ký 3:38 – Những người đóng trại trước đền tạm về phía đông, tức trước hội mạc về phía mặt trời mọc, là Môi-se, A-rôn và các con trai người, có chức phận săn sóc nơi thánh thế cho dân Y-sơ-ra-ên. Người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.

Dân số ký 15:35 – Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Người nầy phải phạt xử tử, cả hội chúng hãy ném đá người ngoài trại quân.

Dân số ký 18:7 – Nhưng ngươi và các con trai ngươi phải kỹ lưỡng lo cho xong chức tế lễ, quản trị các điều chi thuộc về bàn thờ, và vật chi ở phía trong màn; các ngươi phải làm việc mình tại đó. Chức tế lễ của các ngươi là một việc ta phong cho như một của ban: người ngoại nào đến gần sẽ bị xử tử.

Dân số ký 35:16 – Nhưng nếu người ấy đánh bằng đồ sắt, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhơn hẳn phải bị xử tử.

Dân số ký 35:17 – Nếu người đánh bằng một cục đá cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.

Dân số ký 35:18 – Cũng vậy, nếu người đánh bằng đồ cây cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhơn hẳn phải bị xử tử.

Dân số ký 35:21 – hoặc vì sự thù đánh bằng bàn tay, và vì cớ đó nó bị chết, thì người nào đánh đó hẳn phải bị xử tử. Ấy là một kẻ sát nhơn; người báo thù huyết khi nào gặp kẻ sát nhơn phải làm cho nó chết đi.

Dân số ký 35:31 – Các ngươi chớ lãnh tiền chuộc mạng của một người sát nhơn đã có tội và đáng chết, vì nó hẳn phải bị xử tử.

Phục truyền luật lệ ký 17:6 – Cứ theo lời của hai hoặc ba người chứng mới xử tử kẻ đáng bị chết; nhưng cứ lời của một người chứng không đủ xử tử người.

Phục truyền luật lệ ký 24:7 – Khi người ta gặp ai có ăn cướp một người anh em mình trong dân Y-sơ-ra-ên, và đã bắt làm mọi hay là đã bán người, thì tên bợm ấy phải bị xử tử; ngươi sẽ trừ sự ác khỏi giữa mình vậy.

 

Share This:

Các danh hiệu của Đức Chúa Trời: El

2,392 views

 

I. El (Đức Chúa Trời)

 

1. El Echad [Eol Ek-hađ] = Đức Chúa Trời có một:

"Hết thảy chúng ta chẳng phải là có chung một cha sao? Chẳng phải chỉ có một Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta sao? Vậy sao ai nấy đãi anh em mình cách gian dối, phạm giao ước của tổ phụ chúng ta?" (Ma-la-chi 2:10)

2. El Hanne'eman [Eol Han-ne-e-man] = Đức Chúa Trời thành tín:

"Vậy nên, phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ấy là Đức Chúa Trời, tức Đức Chúa Trời thành tín, giữ sự giao ước và nhân từ đến ngàn đời cho những người yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 7:9)

3. El Emet [Eol Ê-met] = Đức Chúa Trời chân thật:

"Tôi phó thác thần linh tôi vào tay Chúa: Hỡi Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời chân thật, Ngài đã chuộc tôi." (Thi Thiên 31:5)

4. El Tsaddik [Eol Shad-đik] = Đức Chúa Trời công chính:

"Vậy hãy truyền rao; hãy bảo chúng nó đến gần, và nghị luận cùng nhau! Từ đời xưa ai đã rao ra sự nầy? ai đã tỏ ra từ lúc thượng cổ? Há chẳng phải ta, là Đức Giê-hô-va, sao? Ngoài ta chẳng có Đức Chúa Trời nào khác! chẳng có Đức Chúa Trời công bình nào khác và là Cứu Chúa ngoài ta." (Ê-sai 45:21)

5. El Shaddai [Eol Sha-đai] = Đức Chúa Trời toàn năng:

"Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, thì Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Ta là Đức Chúa Trời toàn năng; ngươi hãy đi ở trước mặt ta làm một người trọn vẹn." (Sáng Thế Ký 17:1)

6. El Elyon [Eol Eol-dôn] = Đức Chúa Trời chí cao:

"Đáng ngợi khen thay Đức Chúa Trời chí cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay ngươi!" (Sáng Thế Ký 14:20a)

"Hỡi Đấng chí cao, tôi sẽ vui vẻ, hớn hở nơi Ngài, Và ca tụng danh của Ngài." (Thi Thiên 9:2)

7. El Olam [Eol Ô-lam] = Đức Chúa Trời hằng hữu:

"Áp-ra-ham trồng một cây me tại Bê-e-sê-ba, và ở đó người cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời hằng-hữu." (Sáng Thế Ký 21:33)

8. El Roi [Eol Rô-i] = Đức Chúa Trời hay đoái xem:

"Nàng gọi Đức Giê-hô-va mà đã phán cùng mình, danh là "Đức Chúa Trời hay đoái xem," vì nàng nói rằng: Chính tại đây, tôi há chẳng có thấy được Đấng đoái xem tôi sao?" (Sáng Thế Ký 16:13)

9. El Gibbor [Eol Ghíp-bo-r] = Đức Chúa Trời quyền năng:

"Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an." (Ê-sai 9:6)

10. El De'ot [Eol Đe-ốt] = Đức Chúa Trời thông biết mọi điều:

"Thôi, chớ nói những lời kiêu ngạo, chớ để những lời xấc xược ra từ miệng các ngươi nữa; Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thông biết mọi điều, Ngài cân nhắc mọi việc làm của ngươi." (1 Sa-mu-ên 2:3)

11. El Haggadol [Eol Ha-ga-đô-l] = Đức Chúa Trời vĩ đại:

"Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và Chúa của các chúa, tức là Đức Chúa Trời rất lớn, có quyền năng và đáng sợ, không thiên vị ai, chẳng nhận của hối lộ…" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 10:17)

12. El Hakkavod [Eol Ha-ka-vô-đ] = Đức Chúa Trời vinh hiển:

"Tiếng Đức Giê-hô-va dội trên các nước; Giê-hô-va Đức Chúa Trời vinh hiển sấm sét trên các nước sâu." (Thi Thiên 29:3)

13. El Hakkadosh [Eol Ha-ka-đôsh] = Đức Chúa Trời thánh khiết:

"Song Đức Giê-hô-va vạn quân lên cao trong sự công chính, Đức Chúa Trời là Đấng Thánh nên thánh trong sự công bình." (Ê-sai 5:16)

14. El Hashamayim [Eol Ha-sha-may-im] = Đức Chúa Trời của các tầng trời:

"Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của các tầng trời! Vì sự nhơn từ Ngài còn đến đời đời." (Thi Thiên 126:36)

15. El Chaiyai [Eol Phai-dai] = Đức Chúa Trời của mạng sống tôi:

"Dầu vậy, ban ngày Đức Giê-hô-va sẽ sai khiến sự nhơn từ Ngài; Còn ban đêm bài hát Ngài ở cùng tôi, tức là bài cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời của mạng sống tôi." (Thi Thiên 42:8)

16. El Channun [Eol Phan-nun] = Đức Chúa Trời nhân từ:

"Người cầu nguyện Đức Giê-hô-va rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi cầu xin Ngài, ấy há chẳng phải là điều tôi đã nói khi tôi còn ở trong xứ tôi sao? Vì đó nên tôi lật đật trốn qua Ta-rê-si vậy. Bởi tôi biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn, và đổi ý không xuống tai vạ." (Giô-na 4:2)

17. El Yisrael [Eol Dis-ra-eo-l] = Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên:

"Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa thật đáng sợ trong nơi thánh Chúa: Chính Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ban sức lực và quyền năng cho dân sự Ngài. Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời thay!" (Thi Thiên 68:35)

18. El Sali [Eol Sa-li] = Đức Chúa Trời là vầng đá (sức mạnh) của tôi:

"Tôi sẽ thưa cùng Đức Chúa Trời, là vầng đá tôi, rằng: Cớ sao Chúa quên tôi? Nhơn sao tôi phải buồn thảm Vì cớ kẻ thù nghịch hà hiếp tôi?" (Thi Thiên 42:9)

19. El Rachum [Eol Ra-hum] = Đức Chúa Trời hay thương xót:

"Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi là Đức Chúa Trời hay thương xót sẽ không bỏ ngươi và không hủy diệt ngươi đâu; cũng chẳng quên sự giao ước mà Ngài đã thề cùng các tổ phụ ngươi." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:31)

20. El Yeshuati [Eol Dê-shu-a-ti] = Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi của tôi:

"Nầy, Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tôi; tôi sẽ tin cậy và không sợ hãi. Vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là sức mạnh của tôi, lời ca tụng của tôi; Ngài đã nên sự cứu rỗi tôi." (Ê-sai 12:2)

21. El Yeshuatenu [Eol Dê-shu-a-tê-nu] = Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi của chúng ta:

"Đáng ngợi khen Chúa thay, Là Đấng hằng ngày gánh gánh nặng của chúng tôi, tức là Đức Chúa Trời sự cứu rỗi của chúng tôi." (Thi Thiên 68:19)

22. El Kanno [Eol Kan-nô] = Đức Chúa Trời ghen tỵ:

"Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời ghen tỵ, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời." (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5) * Bản dịch Phan Khôi dịch là "Đức Chúa Trời kỵ tà" không đúng với nguyên tác.

23. Immanuel [Im-ma-nu-eol] = Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta:

"Vậy nên, chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt trên là Em-ma-nu-ên." (Ê-sai 7:14)

"Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sanh một con trai, Rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên; nghĩa là: Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta." (Ma-thi-ơ 1:23)

 

Kết luận

 

Qua tất cả các danh xưng trên đây của Đức Chúa Trời, chúng ta nhận biết được các lẽ thật về Ngài. Những lẽ thật đó bày tỏ sự thực hữu và hằng hữu của Đức Chúa Trời, bày tỏ sự thánh khiết và quyền năng cả thể của Ngài. Những lẽ thật đó cũng bày tỏ Đức Chúa Trời có một và vĩ đại là vô cùng công bình, thương xót, và thành tín đối với nhân loại.

Cảm tạ Đức Chúa Trời, vì chúng ta được Ngài ở cùng chúng ta và ban cho chúng ta quyền phép trở nên con cái của Ngài.

 

Huỳnh Christian Timothy
20/05/2007

Share This:

Điều Răn: Tôn kính cha mẹ

2,634 views

 Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống
https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/10321-hieukinhchame

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết
https://od.lk/s/MV8xMTQ5MTIwODZf/DR05_TonKinhChaMe.pdf

Ý nghĩa của sự tôn kính

 

“Hãy tôn kính cha mẹ ngươi” là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là hoặc chúng ta tuân theo, hoặc chúng ta chống nghịch. Chúng ta không có sự chọn lựa nào khác và cũng không được phép lý luận. Chúa không phán bảo: “Hãy tôn kính cha mẹ ngươi nếu cha mẹ ngươi làm tròn bổn phận của họ, nếu cha mẹ ngươi yêu thương ngươi, nếu cha mẹ ngươi cư xử công bình với ngươi, nếu cha mẹ ngươi là những người đạo đức, gương mẫu…” Điều kiện duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì họ là cha mẹ của chúng ta, và lý do duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời.

Tôn kính là thái độ phải có của loài người đối với Đức Chúa Trời, của con cái đối với cha mẹ, và của mỗi người đối với thẩm quyền Đức Chúa Trời đặt để trên mình. Chữ “tôn kính” trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là tôn trọng và vâng phục. Sự tôn kính không phải chỉ được bày tỏ bằng lời nói mà còn phải thể hiện bằng việc làm. Đức Chúa Trời đã từng quở trách dân Israel và các thầy tế lễ của họ như sau:

“Con trai tôn kính cha mình, đầy tớ tôn kính chủ mình. Vậy nếu ta là cha, nào sự tôn kính thuộc về ta ở đâu? và nếu ta là chủ, nào sự kính sợ ta ở đâu? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy cùng các ngươi, hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh ta! Các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có khinh dể danh Ngài ở đâu?” (Ma-la-chi 1:6)

 

1. Tôn kính cha mẹ là tôn trọng và cung kính cha mẹ:

Sự tôn kính cha mẹ được thể hiện trước hết là qua thái độ của chúng ta đối với cha mẹ. Đối với những bậc trưởng thượng, Đức Chúa Trời đã dạy chúng ta tôn trọng và cung kính họ:

“Trước mặt người tóc bạc, ngươi hãy đứng dậy, kính người già cả, và kính sợ Đức Chúa Trời ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va.” (Lê-vi Ký 19:32)

Thái độ tôn trọng và cung kính đó cũng là điều chúng ta phải có đối với cha mẹ. Vì thế, chúng ta không thể cư xử với cha mẹ như ngang hàng với mình chứ đừng nói là thiếu tôn kính, thiếu lễ độ. Chúng ta tôn trọng và cung kính cha mẹ vì họ là cha mẹ của chúng ta chứ không phải vì họ có phẩm chất đạo đức xứng đáng để chúng ta tôn trọng và cung kính. Nhiều người biện minh cho sự thiếu lễ độ của họ đối với cha mẹ bằng cách nêu ra những khuyết điểm hay những lỗi lầm của cha mẹ. Dù cha mẹ chúng ta có bao nhiêu khuyết điểm hay lỗi lầm thì cũng không làm thay đổi sự kiện họ là cha mẹ của chúng ta. Và nếu họ là cha mẹ của chúng ta thì mệnh lệnh của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta là chúng ta phải tôn kính họ.

Hình phạt dành cho những đứa con không tôn trọng và cung kính cha mẹ là sự chết:

“Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:15)

“Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:17)

“Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó.” (Lê-vi Ký 20:9)

“Đáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ mình! Cả dân sự phải đáp: A-men!” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:16)

“Ngọn đèn của kẻ rủa cha mẹ mình sẽ tắt giữa vùng tăm tối mờ mịt.” (Châm Ngôn 20:20)

 

2. Tôn kính cha mẹ là vâng phục cha mẹ trong Chúa:

“Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm.” (Ê-phê-sô 6:1)

“Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa.” (Cô-lô-se 3:20)

Vâng phục cha mẹ cũng như vâng phục bất kỳ một thẩm quyền nào Chúa đặt để trên mình không phải là một sự vâng phục mù quáng. Sự vâng phục đó phải được đặt trên nền tảng của lời Chúa, vì vậy, Phao-lô mới viết rằng: “Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa.” Những câu Thánh Kinh sau đây giới hạn sự vâng phục của chúng ta đối với loài người:

“Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29)

“Còn bây giờ, có phải tôi mong người ta ưng chịu tôi hay là Đức Chúa Trời? Hay là tôi muốn đẹp lòng loài người chăng? Ví bằng tôi còn làm cho đẹp lòng loài người, thì tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ.” (Ga-la-ti 1:10)

Vâng phục cha mẹ trong Chúa là vâng lời cha mẹ trong mọi sự miễn là sự vâng lời đó không chống nghịch lại lời Chúa. Sự vâng phục đòi hỏi một sự trả giá và nhiều khi cái giá để trả vô cùng to lớn. Thánh Kinh khuyên chúng ta học lấy gương vâng phục của Đấng Christ:

“5 Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.” (Phi-líp 2:5-8)

“Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ.” (Lu-ca 2:51)

Khi cha mẹ có những ý muốn hoàn toàn trái nghịch lại lời Chúa, chúng ta được phép không vâng theo những ý muốn sai trái, tội lỗi đó nhưng không có nghĩa là chúng ta có thể bất kính với họ. Thái độ và lời nói của chúng ta đối với cha mẹ và những bậc có thẩm quyền Chúa đặt để trên mình phải luôn luôn mềm mại, hòa nhã. Bất kỳ một lời nói, một thái độ hỗn hào, vô lễ nào của chúng ta đối với cha mẹ đều là tội chết trước mặt Đức Chúa Trời mà Ngài đã nhều lần cảnh cáo trong Thánh Kinh.

Hình phạt dành cho những đứa con không vâng lời cha mẹ là sự chết:

“18 Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, 19 thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. 20 Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. 21 Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả Y-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ.” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:18-21)

 

3. Tôn kính cha mẹ là phụng dưỡng cha mẹ trong tuổi già của họ:

“Con cháu trước phải học làm điều thảo đối với nhà riêng mình và báo đáp cha mẹ; vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời.” (1 Ti-mô-thê 5:4)

Chữ “báo đáp” trong nguyên tác có nghĩa là “trả món nợ mà mình thiếu”. Nhiều người bỏ mặc cha mẹ không chăm sóc, không báo đáp và viện cớ rằng họ đã dâng hiến cho Đức Chúa Trời nên không còn tài vật để nuôi cha mẹ. Đức Chúa Jesus đã lên án thái độ giả hình này:

“4 Vì Đức Chúa Trời đã truyền điều răn nầy: Phải hiếu kính cha mẹ ngươi; lại, điều nầy: Ai mắng nhiếc cha mẹ thì phải chết. 5 Nhưng các ngươi lại nói rằng: Ai nói cùng cha mẹ rằng: Những điều mà tôi có thể giúp cha mẹ, đã dâng cho Đức Chúa Trời rồi, thì người ấy không cần phải hiếu kính cha mẹ. 6 Như vậy, các ngươi đã vì lời truyền khẩu mình mà bỏ lời Đức Chúa Trời. 7 Hỡi kẻ giả hình! Ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi phải lắm, mà rằng: 8 Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. 9 Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra.” (Ma-thi-ơ 15:4-9)

Ngày nay, vẫn có nhiều con dân Chúa tự hào dâng hiến rời rộng cho Đức Chúa Trời nhưng họ thật sự không màng đến những thiếu thốn vật chất của cha mẹ. Nhiều người thậm chí bắt cha mẹ phải làm việc trong nhà như đày tớ để đổi lại miếng cơm manh áo mà họ ban bố cho cha mẹ.

 

4. Tôn kính cha mẹ không phải là biến cha mẹ thành thần linh

Thực tế, có những người không hề vâng lời hoặc tôn kính cha mẹ khi cha mẹ còn sống, nhưng khi cha mẹ qua đời thì lại làm giỗ cúng trọng thể, xây mồ mã đồ sộ, tốn kém, để được người đời khen là “có hiếu.” Có những người, khi cha mẹ còn sống phải nhờ đến sự chăm sóc, phụng dưỡng của họ, nhưng khi cha mẹ qua đời, họ lại tin rằng cha mẹ có thể “phù hộ” cho họ nên họ lập bàn thờ để thờ lạy cha mẹ như những phúc thần.

Văn hóa Việt Nam đề cao và phát huy lễ nghĩa là một điểm tốt nhưng khi lễ nghĩa biến thành sùng bái, thần thánh hóa các bậc trưởng thượng thì trở thành phạm thượng, nghịch lại Đức Chúa Trời. Thánh Kinh bày tỏ rất rõ ràng thánh ý của Đức Chúa Trời là Ngài không nhường sự vinh hiển cho bất kỳ một ai. Mọi sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Ngài:

“Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!” (Ê-sai 42:8)

Khi chúng ta tôn thờ cha mẹ, tổ tiên như thần linh, xem họ như là những vị thần có thể bảo hộ, có thể ban phúc hoặc giáng họa cho chúng ta, thì chúng ta đã thần tượng hóa họ và đã đặt họ vào vị trí vinh hiển của Đức Chúa Trời. Cha mẹ, tổ tiên của chúng ta dầu tốt lành, nhân đức đến mức nào đi chăng nữa thì cũng vẫn là những tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời. Thánh Kinh khẳng định rõ điều này:

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma 3:23)

Lương tâm và trí khôn của chúng ta dạy cho chúng ta biết rõ trong thế gian không hề có một người nào là toàn vẹn, vì thế mới có câu: “Nhân vô thập toàn!” Xét về mặt đạo đức thì không một người nào đáng để chúng ta thờ lạy vì ai cũng có khuyết điểm. Xét về mặt quyền năng thì chỉ có Đức Chúa Trời Toàn Năng là Đấng tạo dựng nên muôn loài vạn vật, trong đó có loài người, mới xứng đáng để chúng ta thờ lạy. Thờ lạy là hình thức tôn kính cao nhất, và vì thế chỉ có thể dành riêng cho Đức Chúa Trời mà thôi.

 

Kết luận

 

“Hãy tôn kính cha mẹ” là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Và, cũng như bao nhiêu mệnh lệnh khác của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể nào làm tròn mệnh lệnh này nếu chúng ta không thật sự ở trong Chúa, nếu chúng ta chưa thật sự được Chúa biến đổi thành một con người mới (tái sinh). Nếu chúng ta không thể tôn kính cha mẹ mình thì chắc chắn chúng ta không thể có mối tương quan tốt với những người khác trong xã hội. Một trong những phương cách vô cùng hữu hiệu để nhìn biết một người có thật sự là môn đồ của Chúa hay không, đó là quan sát cách thức họ cư xử với cha mẹ và các bậc trưởng thượng. Nếu những người chưa tin Chúa mà có thể tôn kính cha mẹ và để lại gương sáng cho xã hội như 24 người con hiếu thảo của Trung Quốc thì người Tin Lành càng phải sáng chói trong sự tôn kính cha mẹ biết là dường nào!

Trên một phương diện khác, cha mẹ, tổ tiên chúng ta đều là vật thọ tạo bởi Đức Chúa Trời cho nên chúng ta không thể tôn kính họ ngang bằng với Đức Chúa Trời, nghĩa là không thờ lạy họ. Sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Đức Chúa Trời là Cha chung của muôn loài vạn vật. Lòng tôn kính cha mẹ chân thật sẽ thể hiện trong cách cư xử của chúng ta đối với cha mẹ. Chúng ta tôn kính, vâng phục, và phụng dưỡng cha mẹ khi họ còn sống, theo như mệnh lệnh của Chúa. Khi cha mẹ qua đời, chúng ta chôn cất tử tế và chăm sóc mộ phần của họ chu đáo nhưng không phung phí tiền bạc, của cải, công sức vào việc xây mồ, đắp mã, cốt lấy tiếng khen của thế gian; cũng không lập bàn thờ để thờ lạy như thần linh; và cũng không giỗ cúng, vì người chết không thể hưởng dụng những lễ vật được cúng tế.

 

Huỳnh Christian Timothy
13/05/2007

 

Share This:

Tên riêng của Đức Chúa Trời: YHVH

2,445 views

I. Tên riêng của Đức Chúa Trời

 

Tên riêng của Đức Chúa Trời do chính Ngài xưng nhận (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14, 15; 6:2, 3; Ê-sai 42:8), được ghi lại trong Thánh Kinh bằng tiếng Hê-bơ-rơ (Hebrew). Danh xưng này được phiên âm qua Anh ngữ là Jehovah, qua Việt ngữ là Giê-hô-va. Cũng có bản dịch Anh ngữ phiên âm là Yahveh, và phiên âm tương đương bên Việt ngữ là Gia-vê. Thật ra, đó là một tổng hợp giữa 4 phụ âm Hê-bơ-rơ: YHVH (hoặc YHWH) với các nguyên âm từ một danh xưng khác của Đức Chúa Trời là ADONAI (Đấng Chủ Tể), và phát âm thành YaHoVaH. Người Do-thái rất mực tôn kính Danh Chúa, không dám phát âm danh xưng YHVH, đã dùng danh xưng Adonai để thay thế trong khi phát âm tên riêng của Đức Chúa Trời. Theo thời gian, dần dần chính người Do-thái cũng không còn nhớ được cách phát âm chính xác của tên riêng Chúa.

Trong nguyên tác, Chúa xưng nhận Ngài là "TA THỰC HỮU". Xin đối chiếu  bản dịch Anh ngữ, bản dịch Việt ngữ, với nguyên tác tiếng Hê-bơ-rơ dưới đây:

– And God430 said559 unto413 Moses,4872 I AM1961 THAT834 I AM:1961

– Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là ĐẤNG TỰ HỮU, HẰNG HỮU

ויאמר559  אלהים430  אל413  משׁה4872  אהיה1961  אשׁר834  אהיה1961

* 559 = phán; 430 = Đức Chúa Trời; 413 = cùng; 4872 = Môi-se; 1961 = là, có, thực hữu; 834 = Đấng

Trong bản dịch Thánh Kinh tiếng Việt, chúng ta có tên riêng của Đức Chúa Trời được phiên âm thành "Đức Giê-hô-va." Nếu muốn dịch thay vì phiên âm, thì chúng ta có thể dịch tên riêng của Đức Chúa Trời thành "ĐẤNG THỰC HỮU". Đây là danh xưng độc đáo nhất của Đức Chúa Trời và được ghi lại 6,828 lần trong Cựu Ước. Danh xưng này đặc biệt liên quan đến sự thánh khiết của Ngài, liên quan đến sự nhân từ của Ngài, và liên quan đến sự công chính của Ngài.

 

II. Ý nghĩa tên riêng của Đức Chúa Trời

 

Danh xưng "Đức Giê-hô-va" hay "ĐẤNG THỰC HỮU" bao gồm những ý nghĩa sau đây:

1. Đức Chúa Trời là Đấng tự nhiên có và còn đến mãi mãi:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên Ngài không có sự bắt đầu và sự chấm dứt. Khi chúng ta nói đến bắt đầu và chấm dứt là chúng ta nói đến thời gian, nói đến sự hữu hạn. Đức Chúa Trời tạo ra thời gian cho nên Ngài không bị giới hạn hay lệ thuộc vào thời gian. Vì thế, Ngài xưng rằng ta là Đầu tiên và Cuối cùng, là An-pha và Ô-mê-ga (Ê-sai 44:6; Khải Huyền 21:6). Ngài có trước thời gian và Ngài vẫn tồn tại sau khi thời gian chấm dứt. Ngài ở trong thời gian lẫn ở ngoài thời gian. Ngài là sự vĩnh cửu! Và Ngài đã đặt để sự nhận biết đó trong lòng nhân loại:

"Phàm vật Đức Chúa Trời đã làm nên đều là tốt lành trong thì nó. Lại, Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người; dầu vậy, công việc Đức Chúa Trời làm từ ban đầu đến cuối cùng, người không thế hiểu được." (Truyền Đạo 3:11)

2. Đức Chúa Trời là độc nhất, vô nhị, và cao siêu tuyệt đối:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên ngoài Ngài không thể có một Đấng nào khác giống như Ngài và không một ai hay một sự gì có thể sánh được với Ngài. Chính Ngài khẳng định như vậy:

"6 Ta là đầu tiên và cuối cùng; ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác." (Ê-sai 44:6

"5 Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác, ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác nữa. Dầu ngươi không biết ta, ta sẽ thắt lưng ngươi, 6 hầu cho từ phía mặt trời mọc đến phía mặt trời lặn họ được biết rằng không có Đức Chúa Trời nào khác ngoài ta. Ta là Đức Giê-hô-va, không có đấng nào khác." (Ê-sai 45:5, 6)

"18 Vậy thì các ngươi có thể vì Đức Chúa Trời với ai, lấy ảnh tượng nào mà so sánh với Ngài được?" (Ê-sai 40:18)

"25 Đấng Thánh phán rằng: Vậy thì các ngươi sánh ta cùng ai? Ai sẽ bằng ta?" (Ê-sai 40:25)

3. Đức Chúa Trời là sự sống và nguồn của sự sống:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên Ngài chính là sự sống và là nguồn của sự sống. Tất cả những gì có sự sống đều phát xuất từ Ngài, đều do Ngài tạo dựng. Vì thế, Ngài là Đấng có quyền ban cho và lấy lại tùy theo ý muốn của Ngài (Gióp 1:21).

20 Thương mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vâng theo tiếng phán Ngài, và tríu mến Ngài; vì Ngài là sự sống ngươi và làm cho ngươi được sống lâu, đặng ngươi ở trên đất mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho các tổ phụ ngươi, là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 30:20)

"28 Vì tại trong Ngài, chúng ta được sống, động, và có…" (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:28a)

4. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, muôn vật bắt nguồn từ sự thực hữu của Ngài, muôn vật được dựng nên bởi chính Ngài:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên muôn vật được tạo thành bởi Ngài và được bảo dưỡng bởi Ngài (Sáng Thế Ký 1). Khi loài người và thế giới vật chất bị băng hoại bởi tội lỗi, thì Đức Chúa Trời lại ra tay tạo dựng nên mới cho những ai thật lòng ăn năn tội và tin nhận Ngài (Giăng 1:12, 13); và một ngày kia, Ngài cũng sẽ tái tạo trời mới đất mới, làm nơi ở mới và sản nghiệp đời đời cho những ai thuộc về Ngài:

"17 Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới." (2 Cô-rinh-tô 5:17)

"1 Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa." (Khải Huyền 21:1)

5. Đức Chúa Trời hoàn toàn tự do, hoàn toàn độc lập:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi, là sự sống và nguồn của sự sống, cho nên Ngài hoàn toàn tự do và độc lập. Ngài không lệ thuộc vào bất cứ một sự gì cho sự thực hữu của Ngài. Ngài muốn làm gì thì làm tùy theo ý chỉ của Ngài mà không lệ thuộc vào bất cứ một sự gì.

"Nơi Đức Chúa Trời có sự khôn ngoan và quyền năng; Mưu luận và thông minh đều thuộc về Ngài." (Gióp 12:13)

"Ai lường được Thần của Đức Chúa Trời, và làm mưu sĩ Ngài, đặng dạy Ngài điều gì? (Ê-sai 40:13)

"Đức Giê-hô-va phán ràng: Ta sẽ làm cho các sự nhân từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta hô danh Giê-hô-va trước mặt ngươi; làm ơn cho ai ta muốn làm ơn, và thương xót ai ta muốn thương xót." (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:19)

"Như vậy, Ngài muốn thương xót ai thì thương xót, và muốn làm cứng lòng ai thì làm." (Rô-ma 9:18)

6. Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trên muôn loài vạn vật:

Vì Ngài là Đấng Tạo Hóa của muôn loài vạn vật cho nên Ngài có quyền tể trị trên mọi sự. Ngài là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa. Ngài là Đức Giê-hô-va Vạn Quân.

"Kìa, trời và các từng trời cao hơn trời, đất và mọi vật ở nơi đất đều thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:4)

"Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng qui về Ngài; vì muôn vật trên các từng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được tôn cao làm Chúa tể của muôn vật." (1 Sử Ký 29:11)

"Chúa đã xây dựng cung đền Ngài trong các từng trời, đã lập vòng khung Ngài trên đất. Ngài kêu gọi nước biển và đổ ra trên mặt đất. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va." (A-mốt 9:6)

7. Đức Chúa Trời là Đấng muôn loài vạn vật ngưỡng trông và thờ phượng:

Vì Ngài là sự sống và nguồn của sự sống, là Đấng Tạo Hóa, là Đấng Tể trị của muôn loài vạn vật cho nên muôn loài vạn vật phải ngưỡng trông lên sự nhân từ, sự công chính của Ngài, và thờ phượng sự thánh khiết của Ngài.

"Con mắt muôn vật đều ngửa trông Chúa, Chúa ban cho chúng đồ ăn tùy theo thì." (Thi Thiên 145:15)

"Sự tiếp trợ chúng ta ở trong danh Đức Giê-hô-va, Là Đấng đã dựng nên trời và đất." (Thi Thiên 124:8)

"Ôi! chỉ một mình Chúa là Đức Giê-hô-va có một không hai; Chúa đã dựng nên các từng trời, và trời của các từng trời, cùng toàn cơ binh của nó, trái đất và các vật ở trên nó, biển và muôn vật ở dưới nó Chúa bảo tồn những vật ấy, và cơ binh của các từng trời đều thờ lạy Chúa." (Nê-hê-mi 9:6)

 

III. Sự vinh hiển trong tên riêng của Đức Chúa Trời

 

Tên riêng "ĐẤNG THỰC HỮU" của Đức Chúa Trời chiếu sáng toàn vẹn vinh hiển của Ngài, bao gồm: sự thánh khiết, sự công chính, và sự nhân từ. Thánh Kinh ghi lại cách thức Đức Chúa Trời cho phép Môi-se nhìn xem sự vinh hiển của Ngài như sau:

"5 Đức Giê-hô-va ngự xuống trong đám mây, đứng gần bên Môi-se và hô danh Giê-hô-va. 6 Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, 7 ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời." (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:5-7)

1. Sự thánh khiết:

Trước hết, Đức Chúa Trời hô danh Ngài là "Giê-hô-va", nghĩa là "ĐẤNG THỰC HỮU". Chúng ta đã biết, danh xưng Đấng Thực Hữu có nghĩa là: Đấng tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên danh xưng đó nói lên sự thánh khiết của Đức Chúa Trời; bởi vì nghĩa đen của chữ "thánh" trong Thánh Kinh là: chỉ có một, hoàn toàn khác với tất cả những thứ khác, và hoàn toàn đôc lập với tất cả những thứ khác.

Đấng Thực Hữu là Thánh Khiết, vì Ngài chỉ có một,  hoàn toàn khác biệt với muôn sự, và không lệ thuộc vào bất cứ một sự gì.

2. Sự nhân từ:

Kế tiếp Đức Chúa Trời giải thích Ngài là: "Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi!", và đó là sự nhân từ của Đấng Thực Hữu.

3. Sự công chính:

Sau cùng, Đức Chúa Trời nhấn mạnh: "Nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời" để nói lên sự công chính của Ngài.

Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chính là sự chiếu sáng các thuộc tính thánh khiết, nhân từ, và công chính của Ngài. Khi Môi-se nhìn thấy sự vinh hiển của Chúa, ông cảm nhận được các thuộc tính của Chúa, và ông đã lật đật cúi đầu xuống đất mà thờ phượng Chúa.

Sau khi được trực diện với sự vinh hiển của Chúa và lắng nghe Chúa dùng ngôn ngữ loài người bày tỏ sự vinh hiển của Ngài, Gióp nhận ra sự công bình của mình là vô nghĩa trước Đức Chúa Trời và đã tuyên xưng:

"5 Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, Nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: 6 Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi." (Gióp 42:5, 6)

 

Kết luận

 

Đức Chúa Trời vĩ đại, cao siêu tuyệt đối, tự nhiên có, còn đến mãi mãi, hoàn toàn thánh thiện, không gì không làm được, không gì không biết được, hiện diện mọi nơi, hiện diện mọi lúc, biết hết mọi sự, và tể trị mọi sự đó chính là CHA của chúng ta. Ngài dựng nên loài người theo hình ảnh của Ngài để làm con của Ngài. Ngài muốn chúng ta đi vào trong tình yêu đời đời Ngài đã dành cho chúng ta và Ngài cũng đã trả một giá thật đắt để đem chúng ta đến với tình yêu đó.

Đức Chúa Trời ở trên chúng ta: luôn yêu thương, chăm sóc, và bảo vệ chúng ta. Đức Chúa Trời ở giữa chúng ta: cùng sống và đồng công với chúng ta trong mọi sự, ở bên cạnh chúng ta trong mỗi bước đường đời, và liên kết chúng ta lại với nhau trong Hội Thánh của Ngài. Đức Chúa Trời ở trong chúng ta: để an ủi, khuyên lơn, chỉ dạy, cáo trách chúng ta khi chúng ta lầm lỗi, và giúp ta dâng trình những điều cầu xin không thể nói nên lời:

"Chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người, và ở trong mọi người." (Ê-phê-sô 4:6)

Câu chúc phước mà Đức Chúa Trời truyền cho các thầy tế lễ chúc cho dân Y-sơ-ra-ên là:

"24 Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! 25 Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! 26 Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi! 27 Họ phải đặt danh ta trên dân Y-sơ-ra-ên như vầy, thì ta đây sẽ ban phước cho dân đó." (Dân Số Ký 6:24-27)

Chúng ta cần ghi nhớ sự tôn quý, cao trọng, và đầy dẫy vinh hiển của tên Chúa. Chúng ta cần phải sống trong danh Chúa, nghĩa là cẩn thận vâng giữ mọi điều Chúa dạy trong Thánh Kinh, sống một nếp sống phản chiếu sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, tức phản chiếu sự thánh khiết, nhân từ, và công chính của Ngài, thì chúng ta sẽ nhận được những phước hạnh đời đời của Đức Chúa Trời.

 

Huỳnh Christian Timothy
06/05/2007

 

Tham khảo

 

1. Walter A. Elwell, Baker Theological Dictionary of the Bible, Baker Book (1996)

2. Nathan Stone, Names of God, The Moody Bible Institute (1944)

3. James Strong, LL.D., S.T.D., The New Strong's Exhaustive Concordance of the Bible, Thomas Nelson Publisheers (1990)

Share This:

Danh tiếng tốt

2,109 views

Danh tiếng tốt của Cơ-đốc nhân

 

Thánh Kinh, trong Châm Ngôn 22:1a cho biết: "Danh tiếng tốt còn hơn tiền của nhiều."
Có nghĩa là: tiền bạc, vật chất không thể nào sánh bằng với danh tiếng tốt. Những người được tiếng tốt trong thế gian thường phải trả một cái giá để giữ vững nhân phẩm của mình, tạo ra danh tiếng tốt cho mình. Dầu vậy, không phải là họ xuất sắc, có tiếng tốt trong mọi lãnh vực, hay có thể giữ vững nhân phẩm trong mọi lãnh vực của đời sống. Hai mươi bốn người được ghi danh trong "Nhị thập tứ hiếu" là vì họ có lòng hiếu thảo vượt bực, bất chấp cảnh ngộ khó khăn, họ đã chu toàn bổn phận làm con, cho dù có những trường hợp cha mẹ đối xử bất công với họ. Tuy nhiên, khi xét qua một lãnh vực khác của đời sống, không chắc họ có được danh tiếng tốt như đã có trong lãnh vực hiếu thảo. Danh tiếng tốt trong thế gian, đến từ thế gian, vì thế, chỉ là một sự tương đối.

Chúng ta là con dân của Chúa, chúng ta không thuộc về thế gian (Giăng 15:19) cho nên danh tiếng tốt của chúng ta cũng không thuộc về thế gian và cũng không đến từ thế gian. Chúng ta không phải trả giá để được danh tiếng tốt, vì chính Đấng Christ đã trả giá cho chúng ta. Ngài đã trả bằng một giá rất đắc là dùng chính mạng sống của Ngài để phục hồi danh tiếng tốt cho chúng ta. Vì thế, danh tiếng tốt của chúng ta đến từ Chúa, được phục hồi bởi Chúa,  và là tuyệt đối, là thánh. Thánh Kinh chép rõ:

"Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà Vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài." (1 Phi-e-rơ 2:9)

"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men." (Khải Huyền 1:6)

Ở đây, chúng ta thấy các danh hiệu: "Thầy tế lễ nhà Vua", "Thầy tế lễ của Đức Chúa Trời", và "Dân Thánh", được chính Đấng Christ ban cho chúng ta qua sự Ngài rửa sạch tội lỗi của chúng ta bằng chính huyết của Ngài. Thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời cũng ban cho dân Israel danh hiệu "Thầy Tế Lễ" và "Dân Thánh":

"Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên." (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:6)

Nhìn vào sự ban cho của Đức Chúa Trời  đối với dân Israel, được ghi chép trong Thánh Kinh, mà chúng ta hiểu được sự ban cho của Đức Chúa Trời  đối với Hội Thánh ngày nay. Ngày xưa, dân Israel đã nhờ lễ Vượt Qua, chịu báp-tem dưới biển đỏ và dưới đám mây để trở thành một nước thầy tế lễ, một dân tộc thánh của Đức Chúa Trời (Phục Truyền Luật Lệ Ký 7:6; 14:2, 21; 28:9).

Trong lễ Vượt Qua, một chiên con, hoặc một dê con không tì vít bị giết, máu được bôi trên hai cột và mày cửa để thể hiện đức tin của dân Israel vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và hình bóng về sự đổ huyết chuộc tội cho toàn thể nhân loại của Đấng Christ. Bởi sự vâng phục của dân Israel mà Ngài đã giải cứu họ ra khỏi sự nô lệ thế gian, để làm thành một dân thuộc riêng về Ngài, thờ phượng Ngài, hầu việc Ngài, và vui hưởng phước hạnh trong Ngài (Xuất Ê-díp-tô-ký 12:1-28).

Thánh Kinh ví sự vượt qua biển Đỏ, và đi dưới đám mây của dân Israel là hình ảnh của lễ báp-tem (1 Cô-rinh-tô 10:2). Bước xuống biển Đỏ là hình ảnh lễ báp-tem bằng nước với ý nghĩa con người cũ ô uế, tội lỗi chết đi trong sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, như Ngài đã đoán phạt cả nhân loại trong thời Nô-ê. Ra khỏi biển Đỏ là hình ảnh của sự tái sinh, sống lại một con người mới trong Chúa. Đi dưới đám mây là hình ảnh lễ báp-tem bằng Thánh Linh, với ý nghĩa được Đức Thánh Linh thánh hóa và dẫn dắt trên hành trình đi về đất hứa.

Ngày nay, chúng ta nhận được danh hiệu "Thầy Tế Lễ", và "Dân Thánh" của Đức Chúa Trời khi chúng ta ăn năn tội và tin nhận sự đổ huyết chuộc tội của Đấng Christ. khi một người thật lòng ăn năn tội lỗi và tin nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình, người ấy thể hiện lòng ăn năn của mình qua lễ báp tem bằng nước, và Đấng Christ nhúng chìm người ấy vào trong Thánh Linh của Ngài, tức báp-tem cho họ bằng Thánh Linh, để khiến họ trở nên "Dân Thánh" và "Thầy Tế Lễ" của Đức Chúa Trời. Câu Thánh Kinh:

"Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy." (Giăng 1:12, 13)

Là nói đến sự tái sinh và sự báp-tem bằng Thánh Linh cho bất kỳ ai tin nhận Đấng Christ. Tái sinh là nhận được sự sống lại và sự sống đời đời trong Đấng Christ. Báp-tem bằng Thánh Linh là được nhúng chìm vào trong sự thánh khiết và quyền năng của Đức Thánh Linh. Sự báp-tem bằng Thánh Linh đi kèm với sự tái sinh, như sự sinh ra một người đi kèm theo năng lực của sự sống trong người đó. Được tái sinh mà không được nhúng chìm vào trong quyền năng của Đức Thánh Linh thì có khác gì một cái thai được sinh ra mà không có năng lực để hoạt động và tăng trưởng?

Điều kiện để được tái sinh (sống lại và sống đời đời), để nhận lãnh quyền phép của Đức Chúa Trời (được báp-tem bằng Thánh Linh), để trở nên con cái Đức Chúa Trời (Dân Thánh), để được hầu việc Ngài (chức tế lễ), là tin nhận Đấng Christ. Và một người chỉ thật sự tin nhận Đấng Christ khi người ấy công nhận mình là một tội nhân, thật lòng ăn năn tội, quyết tâm từ bỏ tội, tin nhận sự chết chuộc tội của Đấng Christ, và vâng giữ mọi điều Ngài đã truyền (Giăng 15:10).

Danh tiếng tốt của Cơ-đốc nhân là: "Dân Thánh" của Đức Chúa Trời; danh tiếng này nói lên phẩm chất của Cơ-đốc nhân. Những việc làm tốt đẹp thể hiện nhân phẩm của "Dân Thánh" được ghi trong Mười Điều Răn (Xuất Ê-díp-tô Ký 20; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5):

– Thờ lạy chỉ một mình Đức Chúa Trời;

– Không làm tượng, không thờ lạy hình tượng, và không hầu việc hình tượng;

– Không xúc phạm danh Chúa;

– Vâng giữ ngày Sa-bát thánh của Chúa;

– Hiếu kính cha mẹ;

– Không giết người;

– Không tà dâm;

– Không trộm cướp;

– Không làm chứng dối;

– Không tham lam.

Phẩm chất của "Dân Thánh" được ghi trong Ga-la-ti 5:22:

– Yêu thương,

– Vui mừng,

– Bình an,

– Nhịn nhục,

– Nhơn từ,

– Hiền lành,

– Trung tín,

– Mềm mại,

– Tiết độ;

mà không một luật pháp nào cấm cản những sự ấy!

Danh tiếng tốt của Cơ-đốc nhân còn là: "Thầy Tế Lễ của Nhà Vua", Thầy Tế Lễ của Đức Chúa Trời;" danh tiếng này nói lên các nhiệm vụ của Cơ-đốc nhân:

– Biệt riêng mình ra cho Chúa, giữ mình thánh khiết (2 Cô-rinh-tô 6:17; 1 Phi-e-rơ 1:15, 16);

– Thờ phượng Chúa bằng tâm thần và lẽ thật (Giăng 4:24);

– Dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Đức Chúa Trời (Rô-ma 12:1, 2);

– Cầu thay cho mọi người (1 Sa-mu-ên 12:23; Ê-phê-sô 6:18; 1 Ti-mô-thê 2:1);

– Sống cho Chúa và chết cho Chúa, không còn vì chính mình mà sống nữa nhưng để cho Đấng Christ sống trong chính mình (Rô-ma 14:7,8; Ga-la-ti 2:20).

 

Kết luận

 

Trong tác phẩm "Tâm Hồn Cao Thượng" có ghi lại lời khuyên của một người cha đối với con mình. Đại ý như sau: Ngày con chào đời, con đã cất vang tiếng khóc trong khi mọi người chung quanh đang mĩm cười chào đón con. Hãy sống sao cho đến ngày con lìa đời, mọi người chung quanh sẽ rơi lệ tiễn đưa con trong khi con mĩm cười giả biệt cuộc đời!

Chúng ta có thể áp dụng  sự dạy dỗ của lời khuyên nói trên vào trong sự sống đạo của chúng ta.

Nếu danh tiếng tốt đến từ thế gian đã là hơn tiền của nhiều thì danh tiếng tốt đến từ Đức Chúa Trời là quý báu đến dường nào? Chúng ta có thể lấy chi để so sánh với danh tiếng tốt mà Đức Chúa Trời  đã ban cho chúng ta trong Đấng Christ?

Chúng ta đã không làm gì để nhận lấy danh tốt từ nơi Đấng Christ, vì danh đó đã được ban cho chúng ta bởi ân điển của Chúa khi chúng ta tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài; nhưng chúng ta phải tiếp tục ở trong Chúa, và lời Chúa ở trong chúng ta, nghĩa là nghe và làm theo lời phán dạy của Chúa (Giăng 15:7; Ma-thi-ơ 6:21), nghĩa là trung tín với Chúa cho đến chết (Khải Huyền 2:10) để xứng đáng với danh xưng "Thầy tế lễ của nhà Vua", "Thầy tế lễ của Đức Chúa Trời", "Dân Thánh của Đức Chúa Trời."

Một ngày kia, khi chúng ta vào trong nước sáng láng của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ được nhận những danh mới. Đức Chúa Jesus hứa với những ai vâng giữ đạo Chúa, không chối bỏ danh Ngài, Ngài sẽ ban cho họ: Danh của Đức Chúa Trời, danh của thành Đức Chúa Trời, cùng danh mới của Ngài (Khải Huyền 3:12).

 

Huỳnh Christian Timothy
29/04/2007

Share This:

Khúc tình ca đau thương

2,125 views

1. Tiếng gọi của tình yêu (5:2)

"Tôi ngủ, nhưng lòng tôi tỉnh thức. Ấy là tiếng của lương nhơn tôi gõ cửa, mà rằng: Hỡi em gái ta, bạn tình ta, chim bò câu ta, kẻ toàn hảo của ta ơi, hãy mở cửa cho ta! Vì đầu ta đầy sương móc, lọn tóc ta thấm giọt ban đêm."

Ngủ là nhu cầu của thể xác. Cô gái đang ngủ nhưng lòng cô tỉnh thức vì lòng cô luôn hướng về người mình yêu; vì thế, khi nghe tiếng gỏ cửa của người yêu và lời kêu gọi của người yêu, cô liền nhận biết.

Trong cuộc sống của tín đồ Đấng Christ, chúng ta phải giải quyết những nhu cầu vật chất, nhưng lòng chúng ta luôn hướng về Đấng Christ. Mặc dù các nhu cầu của thể xác cần phải được giải quyết nhưng điều đó không trở ngại đến tình cảm trong linh hồn của chúng ta. Lời Chúa dạy chúng ta, dù sống giữa thế gian, dùng của thế gian, nhưng nên như kẻ chẳng dùng vậy, vì hình trạng thế gian nầy qua đi (1 Cô-rinh-tô 7:31). Chúa dạy chúng ta "hãy tỉnh thức" (Ma-thi-ơ 24:42) có nghĩa là hãy tỉnh thức trong linh hồn của chúng ta, đừng để cho những nhu cầu vật chất khiến cho chúng ta xao lãng mối tương giao giữa chúng ta với Chúa. Nhờ lòng tỉnh thức mà chúng ta nhận ra tiếng gỏ cửa của Chúa, nhận ra Chúa đang muốn tương giao với chúng ta, và nghe được những lời êm dịu của Ngài.

 

2. Lòng vị kỷ (5:3)

"Tôi đã cổi áo ngoài rồi, làm sao mặc nó lại? Tôi đã rửa chơn rồi, lẽ nào làm lấm lại?"

Nàng Sa-lu-mít trong Nhã Ca được người yêu đến thăm, trong một thời điểm bất ngờ và bất tiện. Có lẽ người yêu của nàng từ xa trở về, và đã nôn nóng đi suốt đêm trong gió sương… Đêm đã khuya, nàng đã rửa chân, đã cởi áo ngoài, đang ngủ… Bây giờ nghe tiếng gọi cửa của người yêu nàng chần chừ.

Chúa luôn luôn tôn trọng sự tự do lựa chọn của chúng ta. Ngài muốn tương giao với chúng ta, Ngài muốn ban phước cho chúng ta, nhưng chúng ta phải chủ động trong sự đón nhận Chúa và mọi ơn phước của Ngài. Bình thường, chúng ta dễ dàng bày tỏ lòng yêu kính Chúa nhưng khi phải trả giá để xác chứng tình yêu của mình, chúng ta thường thất bại. Bởi vì, thực tế phủ phàng cho thấy phần lớn trong chúng ta yêu chính mình hơn là yêu Chúa! Không phải chúng ta không yêu Chúa, nhưng là chúng ta không yêu Chúa đủ, chúng ta không yêu Chúa hơn yêu chính mình.

Khi Chúa hỏi Phi-e-rơ: "Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng?" Phi-e-rơ đã trả lời rằng: "Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa." Trong câu trả lời của Phi-e-rơ, ông đã xác nhận ông yêu Chúa hơn tất cả mọi sự và ông tin rằng Chúa biết tình yêu ông dành cho Chúa. Câu Chúa hỏi Phi-e-rơ cũng là câu Chúa hỏi mỗi một người muốn đi theo Chúa. Mác 8:34 chép như sau: "Đoạn, Ngài kêu dân chúng và môn đồ, mà phán rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta." Lời phán của Chúa không dành riêng cho một thành phần nào. Lời phán của Chúa dành cho bất kỳ ai muốn đi theo Chúa. Chúng ta chỉ có thể hoặc là không yêu Chúa, hoặc là hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà yêu Chúa hơn tất cả mọi sự, yêu Chúa hơn cả chính mạng sống của mình. Chúa không chấp nhận sự hâm hẫm, không nóng mà cũng không lạnh.

Đã bao nhiêu lần chúng ta chần chừ trước tiếng gọi yêu thương của Chúa? Đã bao nhiêu lần chúng ta bỏ qua sự nhóm lại thờ phượng Chúa, bỏ qua cơ hội tương giao với Chúa, bỏ qua cơ hội hầu việc Chúa? Đã bao nhiêu lần chúng ta phụ bạc tình yêu của Chúa? Chúa là trên hết trong đời sống của chúng ta hay là tiện nghi vật chất, hay là thú vui của đời này, hay là công ăn việc làm, hay là tình cảm của những người thân là trên hết trong đời sống chúng ta?

 

3. Cơ hội đã qua (5:4-6)

"4 Lương nhơn tôi thò tay vào lỗ cửa, lòng dạ tôi cảm động vì cớ người. 5 Tôi bèn chổi dậy đặng mở cửa cho lương nhơn tôi; Tay tôi nhỏ giọt một dược, và ngón tay tôi chảy một dược ròng trên nạm chốt cửa. 6 Tôi mở cửa cho lương nhơn tôi, nhưng người đã lánh đi khỏi rồi. Đương khi người nói lòng tôi mất vía. Tôi tìm kiếm người, nhưng không có gặp; Tôi gọi người, song người chẳng đáp."

Hành động thò tay vào lỗ cửa nói lên sự khắc khoải trong khi chờ đợi. Người yêu của nàng Sa-lu-mít gọi hoài không được nên thò tay vào lỗ cửa như muốn tìm cách để tự mình mở cửa, và cũng có thể là để rưới chất dầu thơm chàng mang đến tặng nàng, để nàng biết rằng chàng đã đến và đã chờ đợi. Hành động ấy khiến cho nàng cảm động và chỗi dậy để mở cửa. Tuy nhiên, cơ hội đã qua, người yêu của nàng Sa-lu-mít đã đi khỏi rồi. Câu "Đương khi người nói lòng tôi mất vía" có thể dịch là: "Đương khi người nói thì tôi không chú tâm."

Đối với rất nhiều con dân Chúa, ngày tháng trôi qua trong cuộc đời của chúng ta, Chúa đứng chờ khắc khoải ngoài cửa với tiếng gỏ và những lời yêu thương êm dịu nhưng chúng ta không chú tâm vì chúng ta có quá nhiều điều khác để bận tâm. Đến khi chúng ta quay lại với Chúa, thì Ngài đã lìa khỏi chúng ta rồi. Chứng tích tình yêu của Chúa vẫn còn lưu lại trong đời sống của chúng ta, nhưng chúng ta không còn tìm thấy Ngài nữa. Chúng ta kêu cầu Chúa, song Ngài chẳng đáp lời!

 

4. Nỗi oan (5:7)

"Kẻ canh tuần quanh thành gặp tôi, đánh tôi, và làm tôi bị thương; Các kẻ canh giữ vách thành cất lấy lúp khỏi tôi."

Trong cơn hối hận và bối rối, nàng Su-la-mít chạy ra đường phố mong bắt kịp người yêu, nhưng lại bị lính tuần tra và lính canh vách thành hiểu lầm nàng là phụ nữ xấu nết, bắt giữ và đánh đập. Theo phong tục của vùng Trung Đông, phụ nữ không thể nửa đêm lang thang một mình trên đường phố. Chỉ những phụ nữ xấu nết mới mạo hiểm vi phạm luật.

Có một lúc trong cuộc đời đi theo Chúa của chúng ta, khi chúng ta ý thức được Chúa đã ra khỏi đời sống của mình vì mình đã không yêu Chúa đủ để đáp lại tiếng gọi của Ngài, chúng ta sẽ mạo hiểm để tìm lại tình yêu ban đầu. Khi đó có thể chúng ta phải trả một giá rất đắt. Chúng ta sẽ bị hiểu lầm, bị làm nhục, bị mất mát nhiều thứ…

Cái giá phải trả lúc ban đầu để đi theo Chúa khi Chúa mời gọi chúng ta chắc chắn là nhẹ hơn cái giá chúng ta phải trả để tìm lại tình yêu ban đầu với Chúa, khi Ngài đã rời khỏi chúng ta vì tấm lòng hâm hẫm của chúng ta!

 

5. Tương tư (5:8)

"Hỡi các con gái Giê-ru-sa-lem, ta ép nài các ngươi, nếu gặp lương nhơn ta, khá nói với người rằng ta có bịnh vì ái tình."

Trong nỗi nhục nhã, đau thương, nàng Sa-lu-mít van nài các thiếu nữ của thành Giê-ru-sa-lem, nếu gặp được người yêu của nàng, hãy nói cho chàng biết rằng nàng "có bịnh vì ái tình".

Khi Chúa ra khỏi đời sống của chúng ta rồi chúng ta mới ý thức được là chúng ta cần Chúa biết là bao nhiêu. Chúa ra khỏi đời sống của chúng ta là vì chúng ta không hết lòng yêu kính Chúa, là vì chúng ta không đáp lại tiếng gọi của Chúa.

Khi chúng ta không còn cơ hội để đi nhóm họp thờ phượng Chúa, học lời Chúa, chúng ta mới hối tiếc những lúc chúng ta trể nãi trong sự nhóm lại hoặc bỏ qua sự nhóm lại.

 

Kết luận

Tình yêu Chúa dành cho chúng ta là một tình yêu tuyệt đối. Ngài đã yêu chúng ta hơn cả chính mình Ngài. Chúa muốn chúng ta đáp ứng Ngài cũng bằng một tình yêu tuyệt đối: "hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí" yêu Chúa (Lu-ca 10:27). Tình yêu tuyệt đối của chúng ta dành cho Chúa được bày tỏ qua sự vâng phục lời Chúa cách trọn vẹn (Giăng 14:21-24; 1 Giăng 5:3). Lý do duy nhất khiến chúng ta không đáp lại những lời kêu gọi của Chúa là vì chúng ta yêu chính mình hơn là yêu Chúa. Nếu chúng ta không hết lòng yêu Chúa, bỏ qua tiếng gọi của Chúa, sẽ đến một lúc chúng ta không còn gặp được Chúa. Khi đó, chúng ta phải trả một giá rất đắt để tìm lại sự tương giao với Ngài.

 

Huỳnh Christian Timothy
22/04/2007

Share This:

Nếu Đức Chúa Jesus không sống lại… (2)

2,087 views

 

Thánh Kinh: 1 Cô-rinh-tô 15


"Lại nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích. Và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình."
(1 Cô-rinh-tô 15:14, 17)
 


Dẫn nhập 

Thời gian gần đây, những người vô tín tung ra các sách báo, phim ảnh, và tin tức, rằng: Chúa Jesus có con với Ma-ri Ma-đờ-len, và dòng dõi của Chúa còn lưu truyền cho đến hôm nay; rằng: vừa tìm thấy chỗ chôn Chúa và trong đó vẫn còn hài cốt của Ngài; gần đây nhất, ngay trong mùa kỷ niệm Chúa Phục Sinh, ngày 4 tháng 4 vừa qua, một mục sư thuộc giáo hội Anh Giáo, tên là Jeffrey John (một người đồng tính luyến ái) giảng trên đài BBC [1], rằng: Sự giảng dạy truyền thống của Cơ-đốc Giáo về việc Đấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá vì tội lỗi của nhân loại là "gớm ghiếc", "điên khùng", và khiến cho "Đức Chúa Trời giống như một kẻ bệnh tâm thần".

Đọc Tiếp →

Share This:

Nếu Đức Chúa Jesus không sống lại…

2,323 views

I. Những lẽ thật và nguyên tắc của Tin Lành

 

Chúng ta đều biết, Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời bao gồm những lẽ thật và nguyên tắc sau đây:

 

1. Lẽ thật:

          – Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, Ngài đã dựng nên trời đất và muôn vật, trong đó có loài người. (Sáng Thế Ký 1 và 2)

          – Đức Chúa Trời dựng nên loài người theo như hình ảnh của Ngài để làm con của Ngài và cai trị đất cùng muôn vật trên đất. (Sáng Thế Ký 1:26-28; Lu-ca 3:38)

          – Loài người đã phạm tội không vâng phục Đức Chúa Trời, hành động đó gọi là tội lỗi. Tội lỗi lan truyền đến tất cả mọi người, mang đau khổ và sự chết vào trong thế gian. (Sáng Thế Ký 3; Rô-ma 3:23; 5:12-21)

          – Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, không muốn một ai đau khổ và chết mất nên đã ban cho loài người ơn cứu rỗi. (Giăng 3:16; 2 Ti-mô-thy 2:4)

          – Đức Chúa Jesus Christ là đường đi, lẽ thật, và sự sống (Giăng 14:6). Ngài chịu đau đớn và chịu chết trên thập tự giá vì tội lỗi của nhân loại để nhân loại được cứu ra khỏi tội lỗi và sự chết. (Hê-bơ-rơ 9:11-28)

          – Dưới trời không có một danh nào khác ban cho loài người để loài người nhờ vào đó mà được cứu rỗi. (Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12)

          – Những ai tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ sẽ được ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời, được tái sinh và sống đời đời với Đức Chúa Trời trong hạnh phúc. (Giăng 1:12, 13; 3:16; 11:25, 26; Khải Huyền 21, 22:1-5)

 

2. Nguyên tắc:

Muốn nhận được Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời một người phải theo đúng các nguyên tắc sau đây:

          thật sự ăn năn tội lỗi của mình. Ăn năn tội có nghĩa: (1) công nhận mình là một tội nhân (1 Giăng 1:8), đã có những ý nghĩ, lời nói, việc làm ngược lại luật đạo đức của Đức Chúa Trời đã ghi khắc trong lương tâm loài người (Rô-ma 1:18-32), và trên hết, là không biết tôn thờ Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng mình mà lại thờ lạy các hình tượng do tay loài người tạo ra (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-17); (2) thật sự muốn từ bỏ tội lỗi. (Ma-thi-ơ 4:17)

          – thật sự tin nhận Đức Chúa Jesus là Cứu Chúa. Tin rằng Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 16:16): (1) đã nhập thế làm người để gánh lấy hình phạt cho tội lỗi của toàn thể nhân loại qua cái chết của Ngài trên thập tự giá (Phi-líp 2:6-8; Hê-bơ-rơ 9:28); (2) đã sống lại từ trong sự chết.

          – công khai tuyên xưng đức tin. Lòng tin nhận Đức Chúa Jesus là Cứu Chúa cần được tuyên xưng. Đó là lời dạy của Đức Thánh Linh: "Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi." (Rô-ma 10:9, 10)

Muốn tiếp tục ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho đến ngày Đức Chúa Jesus Christ hiện ra ban sự cứu rỗi ấy (Hê-bơ-rơ 9:28; 1 Phi-e-rơ 1:5), một người phải:

          – Kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Bỏ đi nếp sống cũ tội lỗi, vốn nuông chìu theo tư dục của xác thịt để sống một nếp sống mới thánh khiết bởi Thánh Linh trong sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh (Rô-ma 6-8, Ga-la-ti 5); đó là một đời sống kết quả với sự ăn năn (Ma-thi-ơ 3:8; Lu-ca 3:8; Rô-ma 6:22; 7:4). Một người không kết quả xứng đáng thì sẽ bị Đức Chúa Trời loại bỏ. (Giăng 15:2; 6).

Một đời sống kết quả xứng đáng với sự ăn năn là một đời sống trĩu đầy trái của Đức Thánh Linh: "Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ" (Ga-la-ti 5:22). Một đời sống kết quả trong Chúa là một đời sống nên thánh, nghĩa là đã được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời, như Đức Thánh Linh đã cậy Phao-lô viết ra như sau: "Vả, chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết; vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả." (Rô-ma 14:7, 8) Và, Phao-lô đã sống đúng theo lời dạy của Đức Thánh Linh: "Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi." (Ga-la-ti 2:20). Thánh Kinh chép: "vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời." (Hê-bơ-rơ 12:4)

          – Trung tín cho đến chết. Nghĩa là sẵn lòng chịu khổ vì danh Chúa cho đến chết: "Đoạn, Ngài phải cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.  Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu" (Lu-ca 9:23, 24). "Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống." (Khải Huyền 2:10)

 

II. Nếu Đức Chúa Jesus không sống lại…

 

1. Sự giảng dạy Tin Lành trở thành luống công:

Chữ luống công trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là: Trống không, không có thật. Nếu Đức Chúa Jesus không sống lại thì sự giảng dạy Tin Lành sẽ trở thành luống công, chẳng khác gì một người rao bán hàng, giới thiệu những nét độc đáo và sự công dụng của món hàng, nhưng khi có người muốn mua hàng thì không có hàng để bán.

Vì sự giảng dạy của Tin Lành đặt trên lẽ thật: hễ ai ăn năn tội và tin nhận Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời thì được tha tội, được làm cho sạch tội, được sống lại, và được sống đời đời, cho nên, nếu Đức Chúa Jesus không sống lại thì những ai tin Ngài cũng không thể nào được sống lại, mà đã không được sống lại thì không thể nhận được sự sống đời đời. Và như vậy, những điều được rao giảng về Tin Lành chỉ là dối trá.

2. Đức tin chúng ta vào Tin Lành trở thành vô ích:

Nếu sự rao giảng Tin Lành trở thành luống công thì đức tin của người tin vào Tin Lành cũng trở thành vô ích, giống như người mua hàng tin vào lời quảng cáo của người bán hàng, nhưng món hàng không có thật. Đức tin dù có chân thành và mãnh liệt đến đâu nhưng nếu điều chúng ta tin không có thật thì đức tin đó chỉ là vô ích mà thôi.

3. Chúng ta vẫn còn ở trong tội lỗi mình:

Và, nếu Đức Chúa Jesus không sống lại thì toàn thể nhân loại vẫn còn ở trong tội lỗi. Tin Lành là Con Một của Đức Chúa Trời đã nhập thế làm người để chết thay cho tội lỗi của toàn thể nhân loại hầu cho toàn thể nhân loại được tha tội và được sạch tội. Nếu Đức Chúa Jesus là Con của Đức Chúa Trời thì Ngài là Đấng vô hạn, Ngài có thể chết, nhưng sự chết không cầm quyền trên Ngài. Vì thế, nếu Đức Chúa Jesus không sống lại thì Ngài không phải là Con Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Jesus không phải là Con Đức Chúa Trời thì Ngài không thể gánh thay tội lỗi cho toàn thể nhân loại.

Một thiên sứ vô tội có thể chết thay cho một tội nhân nhưng không thể chết thay cho toàn thể nhân loại. Và, dầu cho có một thiên sứ chết thay cho một tội nhân, thì sau khi chết thay, thiên sứ đó không thể sống lại, vì sự sống của thiên sứ ấy là hữu hạn, vì thiên sứ cũng là loài thọ tạo, không có quyền trên sự sống và sự chết. Nhưng Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời mang cùng một bản thể với Đức Chúa Trời cho nên Ngài cũng chính là Đức Chúa Trời (Giăng 1:1), là Đấng vô hạn, là nguồn của sự sống, cầm quyền trên sự sống và sự chết. Chỉ có một Đấng vô hạn mới có thể chết thay cho và cứu chuộc toàn thể loài người hữu hạn, và chỉ có Đấng vô hạn, nguồn của sự sống mới cầm quyền trên sự chết, cho nên dù có chết, Ngài vẫn chiến thắng quyền lực của sự chết bằng chính sự sống của Ngài.

Sự sống lại của Đức Chúa Jesus là chứng cớ vững chắc Ngài là Con của Đức Chúa Trời, là Đấng Christ đã đến thế gian: để giãi bày Cha cho nhân loại; để cầu thay cho tội lỗi của nhân loại và dâng chính mình làm sinh tế chuộc tội cho nhân loại; để cai trị và ban quyền cai trị cho những ai tin nhận Ngài.

Ngài có thể chết nhưng Ngài có quyền trên sự chết. Ngài chịu chết thay cho toàn thể nhân loại để thỏa mãn tình yêu và sự công chính của Đức Chúa Trời: Tội lỗi của loài người phải bị trừng phạt, nhưng Đức Chúa Trời không muốn cho một người nào bị chết mất (nghĩa là: "bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài." 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9); và như vậy, hễ ai tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì phải được tha tội, được sạch tội, được sống lại, và được sống đời đời.

 

Kết luận

 

Tất cả những ai thật sự ăn năn tội, tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ đều được tái sinh và kinh nghiệm được sự sống mới trong Đấng Christ (Giăng 1:12, 13; 2 Cô-rinh-tô 5:17). Chính sự tiêu tan mặc cảm tội lỗi (1 Giăng 1:9), sự bình an phước hạnh trong mọi cảnh ngộ của đời sống (Giăng 14:27), năng lực làm được điều lành, thắng được điều ác (Phi-líp 4:13), và tiếng của Đức Thánh Linh trong lòng của người được tái sinh (Giăng 16:13) là ấn chứng cho những lẽ thật của Thánh Kinh. Lẽ thật trọng đại nhất của Thánh Kinh nằm trong lời phán của Đức Chúa Jesus Christ: "Ta là sự sống lại và sự sống: Kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi; còn ai sống và tin ta thì không hề chết!" (Giăng 11:25, 26). Và câu hỏi của Đức Chúa Jesus Christ gần hai ngàn năm qua vẫn vang vọng trong lòng mỗi người: "Ngươi tin điều đó chăng?"

 

Huỳnh Christian Timothy
08/04/2007

 

[1] Christianity's traditional teaching on Christ's crucifixion for the sins of mankind is "repulsive," "insane" and makes "God sound like a psychopath." http://worldnetdaily.com/news/article.asp?ARTICLE_ID=54974

Share This:

Điều Răn: Hãy Nhớ Ngày Nghỉ…

3,679 views

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe


Phần 1
Phần 2

Phần 3

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống

https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/sets/103_giaouocdieuranluatphap

I. Nguồn gốc và ý nghĩa của ngày Sa-bát

Theo nguyên tác Hebrew của Thánh Kinh, chữ “ngày nghỉ” trong điều răn thứ tư là “ngày Sa-bát”, và Sa-bát có nghĩa là ngưng làm việc, ngưng lao động. Sa-bát không có nghĩa là nghỉ ngơi để lấy sức như vẫn thường bị lầm tưởng, mà chỉ đơn giản có nghĩa là ngưng làm việc, ngưng làm một điều gì đó vì đã hoàn tất hoặc vì không muốn tiếp tục làm. Khi được hiểu đúng nghĩa như vậy, thì sẽ không gây ra sự thắc mắc là tại sao Đức Chúa Trời lại cần phải nghỉ ngơi để lấy sức!

Sáng Thế Ký 2:3 và Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11 cho chúng ta biết Đức Chúa Trời “ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh” cho nên ngày Sa-bát, hay ngày nghỉ chính là ngày thứ bảy trong tuần lễ. Đức Chúa Jesus cho biết “Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người” (Mác 2:27).

Như vậy, chúng ta có thể kết luận như sau: Ngày Sa-bát được chính Đức Chúa Trời dựng nên trong công trình sáng tạo trời đất. Ngày Sa-bát được thiết lập trước khi điều răn và luật pháp được ban hành. Ngày Sa-bát là ngày thứ bảy trong tuần lễ. Ngày Sa-bát được Đức Chúa Trời ban phước và đặt làm ngày thánh, tức là một ngày biệt riêng ra. Ngày Sa-bát có nghĩa là ngày nghỉ làm việc. Ngày Sa-bát được dựng nên vì loài người, cũng như trời đất và muôn vật được dựng nên vì loài người.

Xét về ý nghĩa thuộc linh, ngày Sa-bát là hình ảnh của sự yên nghỉ đời đời trong Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 4:1-11). Khải Huyền 14:13 nói đến sự yên nghỉ của những người chết trong Chúa.

 

II. Mối tương quan giữa ngày Sa-bát và mười điều răn

Thánh Kinh ghi chép lại mười điều răn Đức Chúa Trời ban truyền cho dân Israel. Mười điều răn đó là giao ước giữa Đức Chúa Trời với dân Israel:

“Môi-se ở đó cùng Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mười đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước; Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là mười điều răn.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28)

Điều răn thứ tư trong mười điều răn là:

“Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8)

Nếu xét tổng quát về nội dung và ý nghĩa  của mười điều răn, chúng ta sẽ thấy ba điều răn đầu tiên nói đến bổn phận của loài người đối với Đức Chúa Trời, là Đấng tạo dựng nên họ và giải cứu họ. Sáu điều răn sau cùng nói đến bổn phận của loài người đối với nhau. Riêng điều răn thứ tư vừa là bổn phận của loài ngườ đối với Đức Chúa Trời vừa là bổn phận của loài người đối với chính mình. Đối với Đức Chúa Trời, ngày thứ bảy được biệt riêng (làm ngày thánh) để loài người tương giao với Chúa và thờ phượng Ngài một cách đặc biệt. Đối với loài người, ngày thứ bảy họ được nghỉ làm việc, được tạm gác những sự khó nhọc trong đời sống lại để nhận lấy ơn phước đặc biệt Chúa ban trong sự gần gũi tương giao với Chúa, và với nhau. Vì thế cho nên Đức Chúa Jesus mới phán “vì loài người mà lập ngày Sa-bát”.

Điều quan trọng là, ngày Sa-bát đã được thiết lập từ buổi sáng thế, và khi Đức Chúa Trời kết giao ước với dân Israel thì Ngài biến sự giữ ngày Sa-bát thành một giao ước và một dấu hiệu để biệt riêng dân Israel với các dân khác:

“Phần ngươi, hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nhất là các ngươi hãy giữ ngày Sa-bát ta, vì là một dấu giữa ta và các ngươi, trải qua mọi đời, để thiên hạ biết rằng ta, là Đức Giê-hô-va, làm cho các ngươi nên thánh.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:13)

 

III. Ngày Sa-bát và Cơ-đốc nhân

Xưa nay có nhiều cuộc tranh luận thần học về việc Cơ-đốc nhân có cần giữ ngày Sa-bát hay không.

Quan điểm thứ nhất cho rằng Cơ-đốc nhân không cần phải tuân giữ ngày Sa-bát vì mười điều răn thuộc về giao ước cũ giữa Đức Chúa Trời và dân Israel. Những người bảo vệ quan điểm này dùng những câu Thánh Kinh sau đây để chứng minh tín đồ không còn bị luật pháp ràng buộc:

“Nhưng bây giờ chúng ta đã chết về luật pháp, là điều bắt buộc mình, thì được buông tha khỏi luật pháp đặng hầu việc Đức Chúa Trời theo cách mới của Thánh Linh, chớ không theo cách cũ của văn tự.” (Rô-ma 7:6)

“Vì vậy, chớ có ai đoán xét anh em về của ăn uống, hoặc ngày lễ, hoặc ngày mặt trăng mới, hoặc ngày Sa-bát.” (Cô-lô-se 2:16)

Quan điểm thứ hai cho rằng Cơ-đốc nhân vẫn phải tuân giữ mười điều răn trong đó có điều răn giữ ngày Sa-bát; không giữ ngày Sa-bát là vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời và là dấu hiệu của sự bội đạo.

Chúng ta hãy dựa vào lời Chúa là Thánh Kinh và sự soi dẫn của Đức Thánh Linh để tìm hiểu lẽ thật.

Đức Thánh Linh, qua tác giả của Thi Thiên 119, khẳng định các điều răn của Đức Chúa Trời là chân thật và còn đến đời đời:

“Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài ở gần; Các điều răn Ngài là chân thật. Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời.” (Thi Thiên 119:151, 152)

Đức Chúa Jesus khẳng định luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời không hề thay đổi: 

“Đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được. Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong nước thiên đàng.” (Ma-thi-ơ 5:18, 19)

Đức Chúa Jesus phán rằng có nhiều người nghe theo truyền khẩu của loài người mà phạm điều răn của Đức Chúa Trời:

“Ngài đáp rằng: Còn các ngươi sao cũng vì cớ lời truyền khẩu mình mà phạm điều răn của Đức Chúa Trời?” (Ma-thi- ơ 15:3)

Đức Thánh Linh, qua Sứ Đồ Phao-lô răn dạy Hội Thánh phải tuân giữ điều răn của Đức Chúa Trời cho đến ngày Đấng Christ hiện ra:

“Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.” (1 Ti-m ô-th ê 6:14)

Đức Thánh Linh, qua Sứ Đồ Giăng, cho biết lòng yêu mến Đức Chúa Trời của chúng ta thể hiện qua sự chúng ta vâng giữ điều răn của Ngài:

“Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề.” (1 Giăng 5:3)

Như vậy, rõ ràng là Cơ-đốc nhân có bổn phận phải vâng giữ mọi điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời như đã chép trong Thánh Kinh. Thế thì, chúng ta hiểu làm sao về những câu Thánh Kinh trong Rô-ma 7:4-6 và Cô-lô-se 2:16? Thiết tưởng Ga-la-ti 5:4 sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề cho chúng ta;

“Anh em thảy đều muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình, thì đã lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển rồi.”

Phao-lô viết thư quở trách Hội Thánh Ga-la-ti không phải vì họ sống đời sống tốt đẹp, vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, nhưng ông quở trách họ vì họ cậy vào việc vâng giữ các điều răn của Chúa để được cứu rỗi! Nội dung chính của thư Ga-la-ti lên án việc nhờ cậy việc làm công đức để được cứu rỗi; nhưng trong đoạn năm, Phao-lô khuyên Hội Thánh Ga-la-ti phải bước theo Thánh Linh, trừ bỏ các việc làm tội lỗi của xác thịt, nghĩa là phải sống theo điều răn của Đức Chúa Trời.

Phân đoạn Rô-ma 7:6 nói đến việc Cơ-đốc nhân được thoát khỏi món nợ đã gây ra đối với luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời, nhưng không có nghĩa là luật pháp và điều răn không còn, vì “luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành” (Rô-ma 7:12). Một người bị luật pháp nhốt tù vì vi phạm luật pháp, khi được trả tự do vì có người khác tình nguyện gánh thay hình phạt, không có nghĩa là người ấy có quyền vi phạm luật pháp. Luật pháp vẫn còn đó, nhưng người ấy không còn bị chế tài bởi luật pháp, vì sự phạm pháp của người ấy đã có người gánh thế. Nếu người ấy lại phạm pháp, thì lập tức sẽ bị luật pháp chế tài. Sự tự do chúng ta có trong Chúa là sự thoát khỏi hình phạt của luật pháp và được ban cho Thánh Linh để chúng ta có thể vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời.

Cô-lô-se 2:16 khuyên Cơ-đốc nhân chớ để cho bất kỳ ai đoán xét mình về những nghi lễ của Do-thái Giáo, đặc biệt chớ để cho ai xét đoán mình về việc giữ ngày Sa-bát. Điều này không có nghĩa là Cơ-đốc nhân không cần giữ ngày Sa-bát, nhưng Cơ-đốc nhân giữ ngày Sa-bát theo đúng ý nghĩa Chúa dạy chứ không giữ theo lối hình thức và truyền khẩu của người Pha-ri-si. Đức Chúa Jesus là tấm gương sáng cho chúng ta về việc chớ để bất kỳ ai xét đoán chúng ta về việc giữ ngày Sa-bát theo tiêu chuẩn và luật lệ do loài người đặt ra.

Là tín đồ của Đấng Christ, chúng ta không bị ràng buộc phải làm một điều gì đó để được cứu rỗi, ngoại trừ thật lòng ăn năn tội và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Một người thật sự ăn năn tội là một người dứt khoát không muốn sống trong tội, không muốn phạm tội. Khi chúng ta thật sự ăn năn tội và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì Ngài tái sinh chúng ta. Tái sinh có nghĩa là Đức Chúa Trời tái tạo dựng chúng ta thành một tạo vật mới (2 Cô-rinh-tô 5:17) bởi quyền năng của Đức Thánh Linh (Giăng 1:13; 3:5, 6) và ban cho chúng ta Thánh Linh để chúng ta có thể sống một đời sống mới “vừa muốn, vừa làm theo ý tốt Ngài” (Phi-líp 2:13), bởi sự thêm sức của Ngài (Phi-líp 4:13). Vì thế, tín đồ của Đấng Christ không vâng giữ điều răn và luật pháp để được cứu rỗi, nhưng vâng giữ điều răn và luật pháp của Chúa vì đó là bản chất của một người được dựng nên mới trong Chúa. Một người chân thật yêu kính Chúa, sống cho Chúa sẽ luôn luôn vâng giữ tất cả những gì học được từ trong lời Chúa, là Thánh Kinh.

Chúng ta không vâng giữ điều răn và luật pháp để được cứu, nhưng chúng ta được cứu để sống theo, để vui thỏa điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Đó cũng là ý nghĩa của câu phán: “Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn” (Ma-thi-ơ 5:17).

Chúng ta cũng cần biết thêm là, Tiên Tri Ê-sai và Tiên Tri Ê-xê-chi-ên đã tiên tri trước trong một ngàn năm bình an, ngày Sa-bát và các nghi thức tế lễ sẽ được tái lập. Và, dân sự trên đất, không riêng gì dân Israel, sẽ thờ phượng Chúa trong những ngày Sa-bát:

“Đức Giê-hô-va phán: Từ ngày trăng mới nầy đến ngày trăng mới khác, từ ngày Sa-bát nọ đến ngày Sa-bát kia, mọi xác thịt sẽ đến thờ lạy trước mặt ta.” (Ê-sai 66:23)

“Những ngày Sa-bát và ngày trăng mới, dân sự của đất sẽ thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va nơi lối vào hiên cửa ấy.” (Ê-xê-chi-ên 46:3)

IV. Nguyên tắc giữ ngày Sa-bát

– Ngày Sa-bát là ngày thứ bảy trong tuần (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:9-10)

– Mọi người và cả súc vật không làm việc trong ngày Sa-bát (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:10; Lê-vi Ký 23:3; Phục Truyền Lật Lệ Ký 5:14)

– Không mua bán trong ngày Sa-bát (Nê-hê-mi 10:31; 13:15-17)

– Không mang vác nặng trong ngày Sa-bát (Nê-hê-mi 13:19; Giê-rê-mi 17:21)

– Nhóm họp để thờ phượng Chúa trong ngày Sa-bát (Lê-vi Ký 23:3; Ma-thi-ơ  12:5; Giăng 7:23)

– Dâng hiến cho Chúa trong ngày Sa-bát (Dân Số Ký 28:9-10)

– Giảng đạo trong ngày Sa-bát (Lu-ca 4:31; 6:6; Công Vụ Các Sứ Đồ 13:14, 15, 44; 17:2; 18:4)

– Đọc lời Chúa trong ngày Sa-bát (Công Vụ Các Sứ Đồ 13;27; 15:21)

– Làm việc thiện trong ngày Sa-bát (Ma-thi-ơ 12:12; 13:16; Giăng 9:14)

– Được phép giải quyết những nhu cầu thiết thực như ăn uống, bảo vệ tài sản trong lúc cấp bách (Ma-thi-ơ 12:1; Lu-ca 13:15; 14:1)

 

V. Phước hạnh của sự giữ ngày Sa-bát

“1 Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy giữ điều chánh trực, và làm sự công bình; vì sự cứu rỗi của ta gần đến, sự công bình của ta sắp được bày tỏ. 2 Phước thay cho người làm điều đó, và con người cầm vững sự đó, giữ ngày Sa-bát đặng đừng làm ô uế, cấm tay mình không làm một điều ác nào! 3 Người dân ngoại liên hiệp cùng Đức Giê-hô-va chớ nên nói rằng: Đức Giê-hô-va chắc sẽ biệt ta ra khỏi dân Ngài. Kẻ hoạn cũng chớ nên nói rằng: Nầy, ta là cây khô. 4 Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Những kẻ hoạn hay giữ các ngày Sa-bát ta, lựa điều đẹp lòng ta, cầm vững lời giao ước ta, 5 thì ta sẽ ban cho họ tại trong nhà ta và trong tường ta một chỗ, và một danh tốt hơn danh của con trai con gái; ta lại sẽ ban cho họ một danh đời đời chẳng hề dứt đi. 6 Các người dân ngoại về cùng Đức Giê-hô-va, đặng hầu việc Ngài, đặng yêu mến danh Đức Giê-hô-va, đặng làm tôi tớ Ngài; tức là hết thảy những kẻ giữ ngày Sa-bát cho khỏi ô uế, và cầm vững lời giao ước ta, 7 thì ta sẽ đem họ vui mừng trong nhà cầu nguyện ta. Của lễ thiêu và hi sinh họ dâng trên bàn thờ ta, sẽ được nhận lấy; vì nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.” (Ê-sai 56:1-7)

“13 Nếu ngươi ngừa giữ chơn mình trong ngày Sa-bát, không làm vừa ý mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, coi người thánh của Đức Giê-hô-va là đáng kính; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình, 14 bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích, ta sẽ làm cho ngươi cỡi lên các nơi cao trên đất, và lấy sản nghiệp của Gia-cốp, tổ phụ ngươi, mà nuôi ngươi; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy.” (Ê-sai 58:13, 14)

 

Kết luận

Cơ-đốc nhân không giữ ngày Sa-bát hay các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời để được sự cứu rỗi, nhưng Cơ-đốc nhân giữ ngày Sa-bát cùng các điều răn và luật pháp của Chúa vì yêu mến Chúa, hiểu biết lời Chúa, vâng theo ý Chúa. Không giữ ngày Sa-bát có thể không khiến cho một người mất đi sự cứu rỗi, nhưng chắc chắn là người đó sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng:

“Đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được. Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong nước thiên đàng.” (Ma-thi-ơ 5:18, 19)

Huỳnh Christian Timothy
01/04/2007
 

 

Share This:

Lấy danh Chúa làm chơi

2,632 views

I. Lấy danh Chúa làm chơi trong sự thề

 Thề là một đặc điểm trong quan hệ xã hội giữa loài người với nhau, giữa loài người với thần tượng, và giữa loài người với Đức Chúa Trời. Thề là hứa một cách nghiêm trọng với lòng chân thật rằng mình sẽ làm hay sẽ không làm một điều gì, hoặc tuyên bố một cách nghiêm trọng với lòng chân thật rằng mình đã làm hay không hề làm một điều gì. Để chứng tỏ sự nghiêm trọng và chân thành của một lời thề, ngưòi ta thường nhân danh một bậc cao trọng hơn mình để thề. Thánh Kinh ghi lại nhiều lời thề nhân danh Đức Chúa Trời. Lời thề đầu tiên giữa loài người với nhau được ghi lại trong Thánh Kinh là lời thề của Áp-ra-ham với vua Sô-đôm (Sáng Thế Ký 14). Vua Sô-đôm bị thất trận, nhờ Áp-ra-ham giải cứu và thu về các tài vật đã bị quân giặc cướp đi. Để tỏ lòng cảm kích, vua Sô-đôm giao nộp hết các tài vật thu về được cho Áp-ra-ham, nhưng Á-ra-ham đã khẳng khái từ chối và nhân danh Đức Giê-hô-va để tuyên bố rằng ông sẽ không lấy bất kỳ một món vật nào của vua Sô-đôm:

"Áp-ram đáp lại rằng: Tôi giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí cao, Chúa Tể của trời và đất, mà thề rằng: Hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề lấy; e vua nói được rằng: Nhờ ta làm cho Áp-ram giàu có." (Sáng Thế Ký 14:22, 23)

Trong một trường hợp khác, Vua A-bi-mê-léc nhìn thấy Đức Chúa Trời ở cùng Áp-ra-ham nên kiêng sợ và đòi Áp-ra-ham nhân danh Đức Chúa Trời để thề rằng Áp-ra-ham sẽ không gạt vua và dòng giống của vua:

"Vậy bây giờ, hãy chỉ danh Đức Chúa Trời mà thề rằng: Ngươi sẽ chẳng gạt ta, con ta cùng dòng giống ta. Nhưng ngươi sẽ đãi ta và xứ ngươi đương trú ngụ, một lòng tử tế như ta đã đãi ngươi vậy.  Áp-ra-ham đáp rằng: Tôi xin thề." (Sáng Thế Ký 14:23, 24)

Sự nhân danh Đức Giê-hô-va để thề được chính Ngài cho phép. Trường hợp điển hình được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 22:10, 11:

"Nhược bằng người nào giao lừa, bò, chiên, hoặc súc vật nào khác cho kẻ lân cận mình giữ và bị chết, gãy một giò hay là bị đuổi đi, không ai thấy, thì hai đàng phải lấy danh Đức Giê-hô-va mà thề, hầu cho biết rằng người giữ súc vật có đặt tay trên tài vật của kẻ lân cận mình chăng. Người chủ con vật phải nhận lời thề, và người kia chẳng bồi thường."

Nhưng Chúa cũng cảnh cáo:

"Các ngươi chớ chỉ danh ta mà thề dối, vì ngươi làm ô danh của Đức Chúa Trời mình: Ta là Đức Giê-hô-va." (Lê-vi Ký 19:12)

Chính Đức Chúa Trời cũng nhân danh của Ngài khi thề ban phước cho Áp-ra-ham:

"Đức Giê-hô-va phán rằng: Vì ngươi đã làm điều đó, không tiếc con ngươi, tức con một ngươi, thì ta lấy chánh mình ta mà thề rằng: sẽ ban phước cho ngươi, thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời, đông như cát bờ biển, và dòng dõi đó sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch. Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta, nên các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước." (Sáng Thế Ký 22:16-18)

Ngài chỉ sự hằng sống của Ngài khi thề đoán phạt dân Israel:

"Hãy nói với dân chúng: Đức Giê-hô-va nói rằng: Ta chỉ sự hằng-sống ta mà thề, ta sẽ đãi các ngươi tùy theo lời ta đã nghe các ngươi nói." (Dân Số Ký 14:28)

Thánh Kinh giải thích về sự Đức Chúa Trời nhân danh chính Ngài mà thề như sau:

"Khi Đức Chúa Trời hứa cùng Áp-ra-ham, và vì không thể chỉ Đấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình Ngài mà thề với người." (Hê-bơ-rơ 6:13)

Khi một người nhân danh Chúa để thề mà không giữ trọn lời thề của mình thì người ấy đã lấy danh Chúa mà làm chơi. Ngày chúng ta tin nhận Chúa, ngày chúng ta chịu lễ báp-tem, và mỗi khi chúng ta dự tiệc thánh, là chúng ta đã nhân danh Chúa mà thề dâng hiến lòng mình cho Chúa, dâng hiến đời sống mình cho Chúa, tuyên bố chịu chết đi con người cũ và sống lại một con người mới trong Chúa, hứa sẽ rao truyền sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến. Vì thế, khi chúng ta để cho bất cứ một điều gì làm chủ lòng mình thay vì Chúa, từ sự ham mến vật chất của thế gian, sự yêu chuộng một người nào, cho đến sự kiêu ngạo… là chúng ta đã lấy danh Chúa làm chơi. Vì thế, khi chúng ta hành xử theo bản tính cũ thuộc về xác thịt: tà dâm, ganh ghét, hận thù, tham lam, dối trá, kiêu ngạo, xấc xược, bất kính hoặc không chăm sóc cha mẹ, không thương xót, mê ăn uống… là chúng ta đã lấy danh Chúa làm chơi. Vì thế, khi chúng ta không rao truyền sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến, nghĩa là không rao giảng Tin Lành của Chúa là chúng ta đã lấy danh Chúa làm chơi.

Vì "thề" có nghĩa là hứa hoặc công bố, cho nên khi chúng ta hứa hoặc công bố trong danh Chúa là chúng ta đã nhân danh Chúa để thề. Chúng ta làm lễ báp-tem trong danh Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta dự tiệc thánh trong danh Đấng Christ. Nếu chúng ta không sống đúng với lời hứa hoặc lời công bố trong danh Chúa, là chúng ta đã lấy danh Chúa làm chơi. Nói cách khác, một tín đồ sống trong tội lỗi là một tín đồ đang lấy danh Chúa làm chơi. 

II. Lấy danh Chúa làm chơi trong sự đùa giỡn, rủa sả, vô cớ gọi danh Chúa

Có nhiều người, kể cả những người trong hàng ngũ lãnh đạo Hội Thánh, đặc biệt là những người làm mục vụ qua các phương tiện truyền thông như sách, báo, phim, ảnh… đã đem danh Chúa, đem các chức vụ thánh Chúa đặt ra trong Hội Thánh như chức vụ chăn bầy, chức vụ truyền giáo…, hoặc đem cả lời Chúa ra để làm trò mua vui mà không biết rằng mình đang phạm vào điều răn thứ ba.

Có người đặt ra những câu chuyện vui, trong đó kể rằng Chúa phán thế này, Chúa phán thế nọ… đặt những câu nói tếu cho Chúa mà không biết mình đang phạm tội bất kính. Có người đem các danh từ riêng trong Thánh Kinh ra đọc trại đi, thành những âm thanh ngờ nghệch để cười chơi. Có người quen miệng dùng danh Chúa trong những câu rủa sả, mắng nhiếc. Và, có người luôn miệng kêu danh Chúa một cách vô cớ, mà chúng ta thường nói là thói quen mở miệng kêu trời! 

III. Lấy danh Chúa làm chơi trong sự cầu nguyện, thờ phượng, rao giảng chiếu lệ

Một hình thức lấy danh Chúa làm chơi mà hầu hết các Cơ-đốc nhân đều vấp phạm, đó là trong khi cầu nguyện, trong khi rao giảng, trong khi thờ phượng Chúa… miệng nói đến danh Chúa, hoặc trực tiếp thưa chuyện với Chúa mà lòng thì không hề nghĩ đến Chúa.

Họ cầu nguyện như cái máy, cầu nguyện chiếu lệ, hoặc cố vận dụng những ngôn từ hoa mỹ cho người khác nghe và thán phục sự cầu nguyện của họ chứ không phải đang chân thành thưa chuyện với Chúa.

Họ làm chứng, rao giảng về Chúa nhưng lòng họ đang tìm cách phô trương kiến thức, tài hùng biện của mình mong người nghe thán phục, hoặc họ đang nghĩ đến những điều khác, chỉ mong sao cho xong việc, hết trách nhiệm.

Họ đến dự nhóm họp thờ phượng Chúa, miệng hát thánh ca, đọc Thánh Kinh nhưng chỉ là một thói quen chiếu lệ, không có sự rung cảm từ đáy lòng trước tình yêu và sự oai nghiêm, thánh khiết của Chúa. Vì thế, ngay trong giờ thờ phượng, họ xì xào bàn tán chuyện làm ăn, mua bán, chơi hụi… thậm chí, còn có người cắt móng tay, móng chân! 

IV. Lấy danh Chúa làm chơi trong sự mưu lợi bất chính 

Ngày nay, nhiều người mượn danh Chúa để tạo dựng địa vị, danh tiếng, tài sản cho bản thân, hoặc cho gia đình và dòng họ của mình. Hầu việc Chúa, đối với họ trở thành một nghề nghiệp chuyên môn. Một người có thể chọn lựa đến quản nhiệm một Hội Thánh dựa trên những quyền lợi vật chất mà Hội Thánh có thể cung cấp cho mình, chứ không dựa trên tiếng gọi của Chúa. Ưu tiên một dường như luôn luôn thuộc về những Hội Thánh đông tín đồ, trả lương cao cho người chăn. Nhìn chung, nhiều bầy chiên bé nhỏ, nghèo vật chất không có người đến chăn nhưng nhiều Hội Thánh có đến bốn năm người chăn. Khi nói đến sự khan hiếm người chăn, chúng ta phải hiểu rằng, không phải khan hiếm những người mang danh là người chăn, mà là khan hiếm những người chăn thật sự bước vào chức vụ vì: "yêu Chúa hơn tất cả mọi sự" và được Chúa giao cho công tác "Hãy chăn chiên ta!"

Nói đến việc lấy danh Chúa để mưu lợi bất chính thì không thể không nói đến những tay lường gạt nổi tiếng trên truyền hình. Ngày 23/03/2007 vừa qua, đài truyền hình ABC tại Hoa Kỳ, trong chương trình 20/20 đã nêu lên sự lạm dụng tiền bạc của những người được gọi là các nhà "truyền giáo Ti Vi". Mỗi nhà "truyền giáo Ti Vi" này sống giàu sang nhung lụa trên số tiền dâng hiến, đóng góp của những người nhẹ dạ. 

Kết luận 

Một ngày kia, Đức Chúa Trời sẽ phán xét một cách công chính tất cả những sự "lấy danh Chúa làm chơi". Vì:

"Đức Chúa Trời chẳng chịu khinh dễ đâu!" (Ga-la-ti 6:7)

"Vả, ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt." (Ma-thi-ơ 12:36, 37)

Nguyện Đức Thánh Linh luôn nhắc nhở để chúng ta đừng phạm tội "lấy danh Chúa làm chơi", và luôn cáo trách khi chúng ta lỡ vấp phạm để chúng ta biết mà ăn năn.

Share This: