A. W. Tozer: Đức Tin: Giáo Lý Bị Hiểu Lầm

2,221 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Trong chương trình cứu rỗi thiên thượng, giáo lý đức tin là trung tâm. Ðức Chúa Trời hướng Lời Ngài vào đức tin, và nơi nào không có đức tin, nơi đó hoàn toàn không thể có sự cứu rỗi thật. “Vả, không có đức tin thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài” (Hê-bơ-rơ 11:6).

Mọi ơn phước tuôn chảy từ sự chuộc tội của Ðấng Christ đến với mỗi cá nhân qua cánh cổng đức tin. Sự tha thứ, sự tẩy sạch, sự tái sanh, Ðức Thánh Linh, sự đáp lại lời cầu xin, được ban cho và được tiếp nhận bởi đức tin. Không hề có một phương cách nào khác! Ðây là một giáo lý Phúc Âm thông thường và được chấp nhận bất cứ nơi nào thập giá của Ðấng Christ được thấu hiểu.

 

 

Vì đức tin có tính chất sống còn đối với mọi hy vọng của chúng ta, nên nó cũng cần thiết như thế đối với sự đầy trọn của mọi khát vọng trong lòng chúng ta, chúng ta không dám coi nó là không quan trọng. Bất cứ gì đi kèm với đức tin, chứa đựng nhiều niềm vui hay nỗi buồn, vốn thực sự quyết định thiên đàng hay địa ngục là của chúng ta, là rất quan trọng, không thể nào xao lãng được. Chúng ta không được để cho chính mình dốt nát hay tin tưởng sai lầm. Chúng ta phải biết.

Trong một vài năm gần đây, lòng tôi bị bối rối về giáo lý đức tin khi nó được tiếp nhận và dạy dỗ giữa vòng các Cơ Ðốc nhân Tin Lành ở khắp mọi nơi. Ðức tin đã được nhấn mạnh rất nhiều trong những hệ phái chính thống, và điều đó là tốt, nhưng tôi vẫn băn khoăn. Một cách thật đặc biệt, điều tôi lo sợ là khái niệm hiện tại về đức tin không phải là khái niệm đức tin trong Kinh Thánh; rằng khi các giáo viên trong thời đại chúng ta dạy dỗ, họ dùng những lời không có cùng một ý nghĩa với những lời mà các trước giả Kinh Thánh đã dùng.

Những nguyên nhân khiến tôi băn khoăn là:

1. Sự thiếu hụt bông trái thuộc linh trong đời sống của quá nhiều người tuyên bố là mình có đức tin.

2. Sự hiếm hoi của một thay đổi hoàn toàn trong hành vi và quan điểm chung của những con người tuyên bố họ có đức tin mới trong Ðấng Christ, như Ngài là Cứu Chúa của cá nhân họ.

3. Sự thất bại của các giáo viên chúng ta trong việc định nghĩa hay ngay cả mô tả điều mà từ đức tin ám chỉ đến.

4. Sự thất bại đáng buồn của số đông những người tìm kiếm, dù họ rất nóng lòng, để hiểu được giáo lý (đức tin) hay để nhận lãnh bất cứ kinh nghiệm thỏa lòng nào qua nó.

5. Mối nguy hiểm thật sự đó là một giáo lý được lập đi lập lại như vẹt một cách rộng rãi, và được tiếp nhận mà thiếu đi óc phê bình (nhận xét) bởi quá nhiều người, đã bị chính họ hiểu sai lệch đi.

6. Tôi đã nhìn thấy đức tin được trình bày như là một điều thay thế cho sự vâng lời, một sự trốn chạy khỏi thực tại, một nơi trốn tránh khỏi nhu cần phải động não nhiều, một nơi ẩn náu của bản tính yếu đuối. Tôi cũng biết những người bị gọi nhầm bởi tên của đức tin bằng tinh thần động vật cấp cao, chủ nghĩa lạc quan tự nhiên, xúc cảm tình cảm và chứng co giật thần kinh.

7. Một cảm giác trung thực phải cho chúng ta biết rằng bất cứ điều gì không tạo nên một sự thay đổi nào đó trong lòng người tuyên bố có nó cũng không tạo nên sự khác biệt nào đối với Ðức Chúa Trời, và đây quả là một sự thật rất dễ quan sát: Ðối với vô số người, sự thay đổi từ chỗ không có đức tin cho đến chỗ có đức tin thật tình chẳng tạo nên một sự khác biệt nào trong đời sống người đó.

Có lẽ chúng ta sẽ biết đức tin là gì nếu trước tiên chúng ta lưu ý việc đức tin không phải là gì. Ðức tin không phải là việc tin vào một lời tuyên bố mà chúng ta biết là thật. Tâm trí con người được tạo dựng theo cách mà nó cần thiết phải tin khi chứng cớ được trình bày cho nó có tính thuyết phục. Nó không thể tự giúp chính mình. Khi chứng cớ không thể thuyết phục được, thì không thể có chút đức tin nào. Không một lời đe dọa, không một sự trừng phạt nào có thể bắt buộc tâm trí tin vào những điều trái ngược với chứng cớ.

Ðức tin được đặt nền tảng trên lý trí là một loại đức tin, điều này là thật; nhưng nó không phải là đặc tính của đức tin trong Kinh Thánh, vì nó tuyệt đối theo sau chứng cớ và không có chút gì dính dáng đến bản chất đạo đức hay thuộc linh bên trong. Sự thiếu hụt đức tin cũng không thể đặt nền tảng trên lý trí chống lại bất kỳ ai, vì bằng chứng, chứ không phải cá nhân nào, quyết định lời phán quyết. Tống một người vào địa ngục chỉ vì tội anh ta là bám theo bằng chứng vì kết luận chính xác của nó rõ ràng là quá bất công; đoán xét một tội nhân trên nền tảng là anh ta đã quyết định dựa vào những sự thật rõ ràng sẽ biến sự cứu rỗi thành hậu quả những việc làm của một định luật chung của tâm trí như có thể áp dụng với Giu-đa hay Phao-lô. Nó sẽ đưa sự cứu rỗi ra khỏi lĩnh vực ý chí và đẩy vào lĩnh vực tinh thần, nơi mà, theo Lời Kinh Thánh, chắc chắn nó không thuộc về đó.

Ðức tin thật dựa trên bản chất của Ðức Chúa Trời và không đòi hỏi thêm bằng chứng nào khác hơn sự trọn vẹn về mặt đạo đức của Ðấng không thể nói dối. Ðức Chúa Trời đã phán, như thế là đủ rồi, và dẫu rằng lời phán đó có trái ngược với một trong 5 giác quan của con người cũng như mọi kết luận logic, người tin vẫn tiếp tục tin. “Hãy kể Ðức Chúa Trời là thật và mọi con người đều là dối trá,” là ngôn ngữ của đức tin thật. Thiên đàng chấp nhận đức tin đó vì nó chỉ xuất phát từ những chứng cớ của Chúa và nảy nở từ trên ngực Ngài.

Trong những năm gần đây, giữa vòng những người Tin Lành nào đó đã nổi lên một cuộc cách mạng được sắp đặt nhằm để chứng minh những lẽ thật của Kinh Thánh bằng cách áp dụng khoa học. Chứng cớ được tìm kiếm trong thế giới tự nhiên để cung cấp cho sự khải thị siêu nhiên. Bông tuyết, máu, những hòn đá, các tạo vật biển kỳ lạ, các con chim và nhiều vật tự nhiên khác được đưa ra như bằng chứng cho thấy Kinh Thánh là thật. Cái này được xem như là một nguồn cung cấp lớn cho đức tin; ý tưởng là nằm ở chỗ này: Nếu một giáo lý Thánh Kinh có thể được chứng minh là thật, đức tin sẽ nảy nở và đơm hoa như là một kết quả.

Ðiều mà những anh em này không thấy đó là việc họ cảm thấy cần thiết phải tìm kiếm bằng chứng cho những lẽ thật của Kinh Thánh cho thấy một điều hoàn toàn khác biệt: sự vô tín cố hữu của họ. Khi Ðức Chúa Trời phán, thì kẻ vô tín lại hỏi, “Làm sao tôi biết rằng điều này là thật?” TA LÀ ÐẤNG TA LÀ (TA LÀ ÐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU) là nền tảng duy nhất cho đức tin. Ðào sâu vào các hòn đá, hay lặn dưới biển sâu nhằm kiếm tìm những bằng chứng chứng minh Kinh Thánh tức là lăng mạ Ðấng đã viết nên nó. Chắc chắn tôi không tin rằng điều này được cố tình thực hiện; nhưng tôi không thể hiểu làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi kết luận là nó đã được thực hiện.

Ðức tin, như Kinh Thánh viết, là đức tin nơi Ðức Chúa Trời và Con Ngài là Ðức Chúa Jêsus Christ; nó là sự hồi đáp của linh hồn trước bản chất thánh khiết được bày tỏ trong Kinh Thánh; và lời hồi đáp này cũng không thể nào tách khỏi công việc bên trong mà trước đó Ðức Thánh Linh đã hoàn tất. Ðức tin là một món quà của Ðức Chúa Trời cho một linh hồn ăn năn và hoàn toàn không có chút dính líu gì đến những cảm giác hay các dữ kiện mà nó có. Ðức tin là một phép lạ; nó là khả năng Ðức Chúa Trời ban cho để tin Con Ngài; và bất cứ gì không kết quả trong hành động thuận hiệp với ý muốn Ðức Chúa Trời đều không phải là đức tin, mà là một cái gì đó khác hơn.

Ðức tin và những đức hạnh là hai mặt của cùng một đồng tiền. Thật vậy, bản chất cốt lõi của đức tin có tính chất đạo đức. Bất cứ loại đức tin nào được tuyên xưng là ở trong Ðấng Christ, tin rằng Ngài là Cứu Chúa của cá nhân, mà không đưa sự sống vào dưới sự vâng phục Ðấng Christ cách trọn vẹn, như là Chủ của mình, thì đức tin đó còn thiếu và chắc chắn sẽ phản bội nạn nhân của nó trong giây phút cuối cùng.

Người tin thì sẽ vâng lời; thất bại trong sự vâng lời là bằng chứng đầy sức thuyết phục của việc không có một đức tin thật hiện diện. Ðể đạt được những điều không thể làm được, Ðức Chúa Trời phải ban đức tin, hoặc là sẽ không có gì được thực hiện, và Ngài chỉ ban đức tin cho những tấm lòng biết vâng lời. Nơi nào có sự ăn năn thật, nơi đó có sự vâng lời; vì sự ăn năn không chỉ là buồn đau về những sai lầm và tội lỗi trong quá khứ, nó cũng là một quyết định để bắt đầu làm theo ý muốn Ðức Chúa Trời ngay khi Ngài bày tỏ nó cho chúng ta.

Share This:

A. W. Tozer: Thánh Nhân Phải Đi Một Mình

2,347 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Hầu hết những linh hồn vĩ đại của thế giới đều cô đơn. Sự cô đơn dường như là một cái giá mà các thánh nhân phải trả cho sự thánh thiện của mình.
Vào buổi bình minh của thế giới (hay chúng ta nên nói là trong bóng đêm kỳ lạ đó xuất hiện ánh bình minh của sự tạo dựng con người), Hê-nóc, linh hồn trung kiên đó, đồng đi cùng Ðức Chúa Trời và biến mất, vì Ðức Chúa Trời đã cất người lên; việc này không được đề cập đến nhiều, ta có thể suy luận một cách hợp lý là Hê-nóc đã đi trên một con đường hoàn toàn khác với con đường của những người cùng thời.

Một con người cô đơn khác là Nô-ê, so với tất cả mọi người khác trong thời kỳ trước cơn Ðại Hồng Thủy, người đã tìm thấy ân điển trong tầm nhìn của Ðức Chúa Trời; và những bằng chứng nhỏ bé cũng đủ chỉ ra sự cô độc của ông ngay cả khi ông được nhiều người khác vây quanh.

Áp-ra-ham đã có Sa-ra và Lót cũng như những đầy tớ và những người chăn bầy khác, nhưng ai có thể đọc câu chuyện của ông và lời dẫn giải của các sứ đồ mà lại không cảm nhận được ngay tức thì việc ông là một người “có linh hồn giống một ngôi sao cô đơn và đứng riêng biệt”? Ðến mức là chúng ta không thấy Ðức Chúa Trời phán một lời nào về ông trong mối quan hệ bạn bè của mình. Cúi mặt xuống, ông gần gũi với Chúa, và chân giá trị bẩm sinh của ông đã ngăn cấm việc ông mang lấy dáng điệu này trước sự hiện diện của những người khác. Thật ngọt ngào và uy nghi làm sao cái khung cảnh vào đêm tế lễ khi ông thấy những đóm lửa di chuyển giữa các phần của sinh tế. Tại đó, một mình với nỗi lo sợ của bóng tối bao trùm trên mình, ông nghe tiếng Chúa phán và biết rằng ông là một người được chọn cho đặc ân thánh.

Môi-se cũng là một người cách biệt. Khi đến cung điện của Pha-ra-ôn, ông đi bộ một mình, và trong một trong số những chuyến đi bộ đó, ông thấy một người Ai Cập và một người Hê-bơ-rơ đang đánh nhau, ông liền đến giải cứu người đồng hương. Sau hậu quả đổ vỡ với Ai Cập lần đó, hầu như ông hoàn toàn sống một mình trong đồng vắng. Tại đó, ông chỉ chăm nom đàn chiên của mình, điều kỳ lạ của bụi gai cháy đã xuất hiện ra trước mắt ông, và sau đó trên đỉnh núi Si-nai, ông ẩn nấp một mình để được ngắm xem vinh quang đầy sức lôi cuốn của Sự Hiện Diện Thánh, một phần được che giấu, một phần được phát lộ trong đám mây và lửa.

Những tiên tri của thời đại tiền Cơ Ðốc rất khác nhau, nhưng họ có một điểm chung, sự cô độc đầy sức mạnh. Họ đã yêu thương dân tộc của mình và tôn vinh tôn giáo của các bậc cha ông, nhưng lòng trung thành của họ đối với Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác, của Gia-cốp, và lòng nhiệt huyết của họ vì phúc lợi cho cả quốc gia Y-sơ-ra-ên đã kéo họ khỏi đám đông và bước vào những khoảng thời gian dài của gánh nặng. “Tôi đã trở nên một kẻ lạ cho anh em tôi, một người ngoại bang cho các con trai mẹ tôi” (Thi thiên 69:8), một tác giả Thi thiên đã thốt lên như thế và vô tình đã nói thay cho những người còn lại.

Phần lớn sự khải thị cho hết thảy các tiên tri là cái nhìn nơi Ðấng mà Môi-se và các bậc tiên tri khác đã viết, một mình bước đi trên con đường đến chỗ thập giá. Sự cô đơn sâu thẳm của Ngài không hề giảm bớt bởi sự hiện diện của đám đông vây quanh.
 

Khuya nay trên đỉnh núi Ô-li-ve
Sao thưa lu li cảnh trông đê mê
Giữa lâm viên thâm u đêm hiu quạnh
Jêsus đau thương cầu nguyện một mình

Khuya nay Jêsus lánh xa nhân gian
Cô đơn giao tranh với bao nguy nan
Chính môn sinh thân yêu nay vô tình
Nào hay tâm thương, lụy sầu Thầy mình.
William B. Tappan (Thánh Ca 89)

Ngài chết một mình trong bóng tối, được che giấu khỏi cái nhìn của con người hay chết và không ai thấy Ngài sống lại vinh quang và bước ra khỏi mồ mả, dầu rằng có nhiều người sau đó thấy Ngài và làm chứng lại điều mà họ đã thấy. Có những thứ hết sức thiêng liêng cho bất kỳ con mắt nào nhìn vào, ngoại trừ của Ðức Chúa Trời. Sự tò mò, tiếng la hét ầm ĩ, một nỗ lực có ý tốt nhưng ngớ ngẩn để giúp ích chỉ thêm gây trở ngại cho linh hồn đang chờ đợi và tạo nên một điều không bình thường, nếu không phải là không thể: Một sự giao tiếp giữa sứ điệp bí mật của Ðức Chúa Trời với tấm lòng thờ phượng.

Ðôi lúc chúng ta phản ứng theo một loại phản ứng tôn giáo nào đó, nghiêm túc lập lại những từ và câu chữ nào đó ngay cả khi chúng không thể diễn tả những cảm xúc thật của chúng ta và sự thiếu tính xác thực của kinh nghiệm cá nhân. Bây giờ là thời điểm như vậy đấy. Một lòng trung kiên theo quy ước nào đó có thể đưa một số người nghe lẽ thật khác lạ này đến chỗ thốt lên, “Ồ, tôi có bao giờ cô đơn đâu. Chúa phán, ‘Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi,’ rồi thì, ‘Ta hằng ở cùng các ngươi luôn.’ Làm sao tôi có thể cô đơn được khi Ðức Chúa Jêsus ở với tôi?”

Bây giờ tôi không muốn chỉ trích sự thật thà của bất kỳ linh hồn Cơ Ðốc nào, nhưng lời chứng có sẵn này lại quá đơn giản để có thể cho là thật. Thật rõ ràng đó là điều mà người nói nghĩ là phải đúng hơn là điều mà anh ta đã chứng minh là thật bởi sự kiểm tra của kinh nghiệm. Phủ nhận cách vui vẻ sự cô đơn chỉ chứng tỏ rằng người nói chưa bao giờ đi với Chúa mà không có sự giúp đỡ hay khích lệ của xã hội anh đang sống. Cảm giác của tình bạn, cái mà anh ta lầm tưởng là sự hiện diện của Ðấng Christ, có thể và có lẽ thực sự đến từ sự hiện diện của những người khác. Xin hãy luôn nhớ rằng bạn không thể cùng mang vác thập giá với những người khác. Dầu một người được vây quanh bởi một đám đông khổng lồ đi nữa, thập giá của anh ta vẫn là của riêng anh và sự mang vác nó khiến anh trở thành một con người tách biệt. Xã hội đã quay sang chống lại anh; mà nếu ngược lại thì anh ta chẳng có mang vác thập giá gì hết. Không ai là bạn của một người vác thập giá. “Mọi người đều bỏ Ngài và trốn đi cả.”

Nỗi đau của sự cô đơn xuất phát từ tính khí của chúng ta. Ðức Chúa Trời đã tạo dựng chúng ta cho nhau. Khao khát tình người là hoàn toàn tự nhiên và đúng đắn. Sự cô đơn của Cơ Ðốc nhân là kết quả việc anh ta đồng đi với Ðức Chúa Trời trong một thế giới không tin kính, một chuyến đi thường đưa anh xa khỏi sự thông công với những Cơ Ðốc nhân tốt cũng như khỏi thế gian chưa tái sanh. Những bản năng Chúa ban cho anh kêu gào tìm kiếm tình bạn với những người đồng loại của mình, những người có thể hiểu nỗi khao khát của anh, những nguyện vọng của anh, sự say mê của anh nơi tình yêu thương của Ðấng Christ; và vì trong vòng bạn bè có ít người chia sẻ những kinh nghiệm bên trong của mình, anh buộc phải bước đi một mình. Những khao khát chưa được thỏa mãn của các nhà tiên tri nơi sự thấu hiểu của con người khiến họ thốt lên những lời than thở và ngay cả Chúa chúng ta cũng phải chịu đựng cùng một cách đó.

Một người đã vượt qua và bước vào Sự Hiện Diện Thánh trong kinh nghiệm bên trong thật sự sẽ không tìm thấy nhiều người hiểu mình. Một số loại hình thông công xã hội nào đó dĩ nhiên sẽ xuất hiện khi anh ta lẫn vào giữa vòng những con người tôn giáo trong hoạt động thường lệ của Hội Thánh, nhưng mối thông công thuộc linh thật sự sẽ khó mà tìm được. Tuy nhiên anh không nên nghĩ mọi thứ theo hướng trái ngược. Sau hết, anh là một người lạ và là một kẻ hành hương; cuộc hành trình anh đang đi không phải trên đôi bàn chân mà là trong tấm lòng. Anh đồng đi với Ðức Chúa Trời trong khu vườn của chính linh hồn mình – và có ai ngoại trừ Ðức Chúa Trời có thể bước đi với anh ở đó? Anh thuộc về một tâm linh khác tách khỏi đám đông đang bước đến chỗ tòa án của nhà Ðức Chúa Trời. Anh đã thấy điều mà họ chỉ được nghe, và anh bước giữa vòng họ bằng cách nào đó giống như Xa-cha-ri rời khỏi bàn thờ và ra ngoài, lúc đó mọi người thì thầm, “Ông đã thấy một khải tượng.”
Con người thuộc linh thật thực sự là một cái gì đó thuộc về sự khác thường. Anh ta sống không phải cho chính mình, nhưng để khuyên giục sự chú ý đến một Ðấng Khác. Anh tìm cách thuyết phục mọi người trao phó mọi sự cho Chúa của mình và không đòi hỏi một phần chia nào cho chính mình. Anh vui thích không phải khi mình được tôn trọng, nhưng khi thấy Cứu Chúa của mình được vinh hiển trong con mắt của loài người. Niềm vui của anh là được thấy Chúa của mình được tôn cao và chính bản thân anh ta bị hạ xuống. Anh tìm thấy một số ít người quan tâm và nói với họ về mục đích tối thượng của sự quan tâm của anh, vì thế anh thường im lặng và lo lắng giữa những cuộc nói chuyện tôn giáo ồn ào. Vì điều này, anh nổi tiếng là ngu đần và quá nghiêm túc, vì thế anh bị xa lánh và vực sâu giữa anh và xã hội ngày càng rộng ra. Anh tìm kiếm những người bạn mà từ áo xống anh có thể ngửi được mùi một dược, trầm hương, nhục quế bên ngoài những cung điện bằng ngà, và chỉ tìm được một ít người, hoặc không có một người nào, anh ta, giống như Ma-ri, mẹ Chúa Jêsus của thời xưa, gìn giữ những thứ đó trong lòng mình.

Chính sự rất cô đơn này đã kéo anh trở lại với Ðức Chúa Trời. “Khi cha mẹ bỏ tôi đi, thì Ðức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận tôi” (Thi thiên 27:10). Sự bất khả của anh trong việc tìm kiếm sự thông công với con người đã lôi kéo anh đến chỗ tìm kiếm trong Ðức Chúa Trời những điều mà anh không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác. Anh học biết trong sự cô đơn bên trong những gì anh không thể học được nơi đám đông – tức là Ðấng Christ là Mọi sự trong Mọi sự, rằng chính Ngài làm nên sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh khiết và sự cứu chuộc trong chúng ta, rằng trong Ngài chúng ta có và sở hữu sự sung mãn của sự sống đắc thắng.

Còn hai điều để nói đến. Thứ nhất, con người cô đơn chúng ta nói đến không phải là một con người kiêu căng, cũng không phải là người-thánh-khiết-hơn-bạn, một thánh nhân khổ hạnh bị chế nhạo cách cay đắng trong văn chương phổ thông. Anh có khuynh hướng cảm thấy rằng mình là bậc thấp kém nhất so với tất cả mọi người khác và chắc chắn là tự khiển trách vì sự cô độc của mình. Anh muốn chia sẻ những cảm xúc của mình với người khác và mở lòng mình ra với những linh hồn có cùng một tâm trí giống như mình, người sẽ hiểu anh ta, nhưng hoàn cảnh thuộc linh quanh anh không khích lệ anh làm điều đó, vì thế anh vẫn im lặng và chỉ nói những nỗi thống khổ của mình với Chúa mà thôi.

Ðiều thứ hai, vị thánh cô đơn không phải là một con người lãnh đạm, làm cứng lòng mình, chống lại những đau khổ của con người và sống những ngày của mình trầm ngâm suy tưởng về các tầng trời. Sự thật hoàn toàn ngược lại. Sự cô đơn của anh khiến anh thông cảm với sự kêu cứu của một tấm lòng tan vỡ, sa ngã và thâm tím vì tội lỗi. Vì anh tách biệt khỏi thế gian, anh là người có nhiều khả năng giúp đỡ nó hơn. Meister Eckhart dạy những học trò của mình rằng nếu trong sự cầu nguyện của họ mà họ cảm thấy như được đưa lên đến tầng trời thứ ba và tình cờ nhớ lại một góa phụ nghèo cần thức ăn, thì họ nên ngắt ngang lời cầu nguyện ngay lập tức và đi đến chăm sóc góa phụ đó. “Ðức Chúa Trời sẽ không để các bạn mất bất cứ gì vì điều đó,” ông nói, “Bạn có thể tiếp tục cầu nguyện trong chỗ mà bạn đã dừng lại và Ðức Chúa Trời sẽ tiếp tục vận hành tùy theo bạn.” Ðây là một kiểu mẫu của những người thần bí và giáo sư vĩ đại của đời sống thuộc linh từ thời Phao-lô cho đến ngày nay.

Sự yếu đuối của quá nhiều Cơ Ðốc nhân ngày nay là ở chỗ họ cảm thấy quá quen thuộc như ở nhà ngay trong thế gian này. Trong nỗ lực của họ để đạt được sự “hòa giải” yên tĩnh với xã hội không tái sanh, họ đã đánh mất đặc tính người khách lữ hành của mình và trở nên một phần cần thiết của cái trật tự đạo đức mà họ vốn đã được sai đi để chống lại. Thế gian nhìn nhận và chấp nhận họ như là cái mà họ biểu hiện như vậy. Và đây là điều đáng buồn nhất có thể nói về họ: Họ không cô đơn, nhưng họ cũng không phải là những thánh nhân!

 

 

Share This:

Lời Chúa

2,795 views

I. Tính chất của Lời Chúa

 

1. Lời Chúa là chân thật

"Sự tổng cộng lời của Chúa là chân thật." (Thi Thiên 119:160a).

"Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh.
Lời Cha là lẽ thật".
(Giăng 17:17).

2. Lời Chúa còn lại đời đời

"Hỡi Đức Giê-hô-va, lời Ngài được vững lập đời đời trên trời." (Thi Thiên 119:89).

"Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời." (Thi THiên 119:152).

"Các mạng lịnh công bình của Chúa còn đời đời." (Thi Thiên 119:160b).

"Nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là đạo Tin Lành đã giảng ra cho anh em." (1 Phi-e-rơ 1:25).

3. Lời Chúa có quyền năng sáng tạo

"Các từng trời được làm nên bởi lời Đức Giê-hô-va, Cả cơ binh trời bởi hơi thở của miệng Ngài mà có." (Thi Thiên 33:6).

"Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến." (Hê-bơ-rơ 11:3).

"Chúng nó có ý quên lững đi rằng buổi xưa bởi lời Đức Chúa Trời có các từng trời và trái đất, đất ra từ Nước và làm nên ở giữa nước." (2 Phi-e-rơ 3:5)

 

II. Sự cần thiết của Lời Chúa đối với chúng ta

 

1. Lời Chúa là sự sống

"Xin hãy binh vực duyên cớ tôi, và chuộc tôi; Cũng hãy khiến tôi được sống tùy theo lời Chúa." (Thi Thiên 119:154).

"Ấy là thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống. (Giăng 6:63).

"Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời." (Giăng 6:68).

"Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng." (Hê-bơ-rơ 4:12).

 

2. Lời Chúa là sự sống lại

"Lời Chúa làm cho tôi được sống lại." (Thi Thiên 119:50).

"Anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời." (1 Phi-e-rơ 1:23).

 

3. Lời Chúa thánh hóa

"Các ngươi đã được trong sạch, vì lời ta đã bảo cho". (Giăng 15:3).

"Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh.
Lời Cha là lẽ thật".
(Giăng 17:17).

 

III. Tác dụng của Lời Chúa đối với chúng ta

 

15 Và từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ.

16 Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình,

17 hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành.

(2 Ti-mô-thê 3:15-17)

 

1. Tra xét

"Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng."
(Hê-bơ-rơ 4:12)

2. Ban sự khôn ngoan (2 Ti-mô-thê 3:15)

3. Dạy dỗ (2 Ti-mô-thê 3:16)

4. Bẻ trách (2 Ti-mô-thê 3:16)

5. Sửa trị (2 Ti-mô-thê 3:16)

6. An ủi

"Lời Chúa làm cho tôi được sống lại, Ấy là sự an ủi tôi trong cơn hoạn nạn."
(Thi Thiên 119:50)

"Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi đã nhớ lại mạng lịnh Ngài khi xưa, Nên tôi được an ủi."
(Thi Thiên 119:52)

7. Ban sự trông cậy

"Xin chớ cất hết lời chơn thật khỏi miệng tôi; Vì tôi trông cậy nơi mạng lịnh Chúa." (Thi Thiên 119:43)

"Những người kính sợ Chúa thấy tôi sẽ vui vẻ; Vì tôi trông cậy lời của Chúa."
(Thi Thiên 119:74)

"Linh hồn tôi hao mòn vì mong ước sự cứu rỗi của Chúa; Song tôi trông cậy lời của Chúa." (Thi Thiên 119:81)

"Chúa là nơi ẩn náu và cái khiên của tôi; Tôi trông cậy nơi lời Chúa."
(Thi Thiên 119:114)

"Tôi thức trước rạng đông và kêu cầu; Tôi trông cậy nơi lời Chúa."
(Thi Thiên 119:147)

 

 

Kết luận

 

Lời Chúa là thánh khiết, là sự sống, và sự sống lại.

1. Chúng ta cần nuôi dưỡng mình bởi lời Chúa bằng cách ngày đêm suy gẫm lời Chúa và cẩn thận làm theo lời Chúa:

"Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được thịnh vượng trong con đường mình, và mới được phước." (Giô-suê 1:8).

2. Nhờ có lời Chúa mà chúng ta được sự khôn ngoan và không phạm tội cùng Chúa

"Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan." (Thi Thiên 19:7).

"Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, Để tôi không phạm tội cùng Chúa." (Thi Thiên 119:11).

3. Chúng ta cần đối chiếu sự giảng dạy của mọi người với lời Chúa để xem những lời giảng dạy ấy có đúng với lẽ thật của Thánh Kinh hay không

"Những người nầy có ý hẳn hoi hơn người Tê-sa-lô-ni-ca, đều sẵn lòng chịu lấy đạo, ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng có thật chăng." (Công Vụ 17:11).

Chúng ta phải luôn ở trong Chúa nhưng lời của Chúa cũng phải luôn ở trong chúng ta thì Chúa mới đáp lời cầu xin của chúng ta (Giăng 15:7).


05/11/2006

Share This:

A. Z. Tozer: Giá Trị của Sự Tưởng Tượng Ðã Ðược Thánh Hóa

2,118 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Giống như những sức mạnh khác thuộc về chúng ta, sự tưởng tượng có thể hoặc là một ơn lành hoặc là một sự rủa sả, tùy thuộc hoàn toàn vào việc nó được sử dụng như thế nào và nó được kỷ luật ra sao.Chúng ta thảy đều có một mức độ sức mạnh nào đó để tưởng tượng. Món quà này cho phép chúng ta thấy được ý nghĩa trong những gì thuộc về vật chất, nắm bắt được những cái giống nhau giữa các sự vật vốn lúc đầu xem có vẻ chẳng giống nhau chút nào cả. Nó cho phép chúng ta biết những cái mà cảm giác không bao giờ có thể nói với chúng ta, vì bởi nó mà chúng ta có thể thấy xuyên qua sự biểu hiện của cảm giác đến thực tại nằm đằng sau của các sự vật.

Mỗi tiến bộ do con người thực hiện trong bất cứ lĩnh vực nào trở nên giống như một ý tưởng vốn hoàn toàn mới mẻ trong khung thời gian. Tâm trí của nhà phát mình chỉ đơn giản nắm bắt những chi tiết rất nhỏ của các ý tưởng tương tự với nhau và tạo nên một cái gì đó không những hoàn toàn khác biệt mà còn là một thứ chưa hề tồn tại cho đến thời điểm đó. Vì thế chúng ta “sáng tạo” nên các đồ vật, ý tưởng; và việc làm đó minh chứng chúng ta được tạo dựng theo hình và ảnh của Đấng Tạo Hóa. Việc con người sa ngã thường sử dụng năng lực sáng tạo của mình để phục dịch cho điều ác không hề làm giảm hiệu lực lý luận của chúng ta. Bất cứ tài năng nào cũng có thể được dùng cho điều ác cũng như cho điều thiện, tuy nhiên, mọi tài năng đều đến từ Đức Chúa Trời. 

Một số người lẫn lộn cách sai lầm từ “giàu tưởng tượng” và từ “có tính chất tưởng tượng” (ảo) đã phủ nhận việc tưởng tượng có một giá trị rất lớn trong sự hầu việc Đức Chúa Trời. Phúc Âm của Đức Chúa Jêsus Christ không hề có dính dáng gì đến những điều có tính chất tưởng tượng. Cuốn sách hiện thực nhất trên thế giới này là quyển Kinh Thánh. Đức Chúa Trời là thật, con người là thật, tội lỗi, sự chết và địa ngục cũng vậy, một nơi mà chắc chắn tội lỗi sẽ đưa đến. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời không hề có tính chất tưởng tượng, sở thích cầu nguyện miệt mài cũng vậy. Những gì gắn liền với sự chú ý của người đang cầu nguyện, dù không phải vật chất, hoàn toàn là thật; còn hơn là thật nữa, cuối cùng nó sẽ được thừa nhận, hơn bất cứ điều gì khác trên trần gian này. 

Giá trị của một trí tưởng tượng thánh sạch thuộc phạm vi tôn giáo nằm bên trong sức mạnh giúp nắm bắt được trong những cái tự nhiên bóng dáng của những cái thuộc linh. Nó cho phép một con người kính sợ 

Thấy thế giới trong một hạt cát
Và cõi vĩnh hằng trong một giờ

Sự yếu đuối của người Pha-ri-si chính là sự thiếu trí tưởng tượng, hay những cái đưa đến điều đó, ông ta từ chối để nó bước vào lĩnh vực tôn giáo. Ông thấy các con chữ với những ý nghĩa thần học được gìn giữ cẩn thận và ông không thấy gì phía sau cả.

Hoa anh thảo ở cạnh bờ sông
Một bông hoa vàng cho anh,
Và không còn gì hơn nữa

Khi Đức Chúa Jêsus đến với sự sâu sắc thuộc linh rạng rỡ của Ngài và một sự nhạy cảm đạo đức tuyệt vời, thì người Pha-ri-si coi Ngài như một người mộ đạo của một tôn giáo nào khác, nhưng thật ra là chính Ngài; giá như thế giới này hiểu được điều đó. Ngài có thể thấy được linh hồn của những con chữ trong khi người Pha-ri-si chỉ thấy được cái xác bên ngoài, và ông ta chỉ có thể loanh quanh cố tìm cách minh chứng Đức Chúa Jêsus sai trật bằng cách bám vào các con chữ của luật pháp hay sự giải thích được truyền thống coi là thiêng liêng. Khoảng cách giữa chúng (truyền thống luật pháp và sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh – ND) là quá lớn để cho phép chúng cùng tồn tại; vì thế người Pha-ri-si, người ở địa vị lập nên truyền thống, đã đẩy Nhà Tiên Tri trẻ vào chỗ chết. Nó đã luôn là như vậy, và tôi cho rằng nó cũng sẽ luôn là như vậy cho đến khi trái đất này đầy dẫy tri thức về Đức Chúa Trời, giống như nước bao phủ đại dương.

Vì là một bản năng của tâm trí tự nhiên, nên sự tưởng tượng cần thiết phải chịu đựng cả từ những giới hạn bên trong cũng như từ một khuynh hướng di truyền hướng về điều ác. Vì văn tự trong bản King James (tương đương là Bản dịch cũ của Kinh Thánh tiếng Việt – ND) không mang ý nghĩa về sự tưởng tượng, mà chỉ nói về những nguyên nhân của con người tội lỗi, tôi không viết để bào chữa cho trí tưởng tượng ô uế. Tôi biết rõ rằng từ đó đã chảy ra một dòng suối ô nhiễm bởi những ác tưởng trải qua các tháng năm, đưa đến hành vi không tôn trọng pháp luật và có tính chất hủy diệt về phần của con người. 

Tuy nhiên, trí tưởng tượng được thanh tẩy, được điều khiển bởi Đức Thánh Linh là một điều hoàn toàn khác, và đó chính là cái tôi muốn nói đến ở đây. Tôi ao ước thấy trí tưởng tượng được giải phóng khỏi nhà tù của nó và được đưa đến đúng chỗ của mình giữa vòng những đứa con của sự sáng tạo mới. Cái mà tôi cố diễn tả ở đây là một đặc ân thánh cho phép con người được nhìn, một năng lực nhìn xuyên qua bức màn và chăm xem, với sự ngạc nhiên kỳ diệu, nơi những vẻ đẹp, những bí mật của những điều thánh khiết và đời đời. 

Tâm trí lề mề, nặng nề không ích lợi gì cho Cơ Đốc giáo cả. Để nó cai trị Hội Thánh đủ lâu thì nó sẽ dồn ép Hội Thánh vào chỗ lựa chọn một trong hai hướng: Hoặc là hướng về chủ nghĩa tự do, nơi mà Hội Thánh tìm thấy sự khoây khỏa trong sự tự do giả tạo, hay hướng về thế giới, nơi mà Hội Thánh sẽ tìm thấy một thú vui rất thú vị, nhưng đầy tai họa. Nhưng tôi tự hỏi liệu điều này có phải là tất cả những gì Lời Chúa đã ghi lại trong sách Phúc Âm Giăng: “Lúc nào Thần Lẽ Thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe và bày tỏ cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi” (16:13-14).

Có được một tâm trí do Thánh Linh cai trị là đặc quyền bởi ân điển của Cơ Đốc nhân, và điều này bao trùm mọi việc tôi đã nói ra ở đây.

 

Share This:

Ý nghĩa thập tự giá

3,785 views

1. Thập tự giá là án phạt của tội lỗi: Đấng Christ đã vì chúng ta mà chết trên thập tự giá

"Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự." (Phi-líp – Philippians 2:8).

"Và bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Ngài." (Cô-lô-se – Colossians 1:20).

 

2. Thập tự giá là phương cách thoát khỏi tội lỗi: Con người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá

"Vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa." (Rô-ma – Romans 6:6).

"Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi." (Ga-la-ti – Galatians 2:20).

"Vả, những kẻ thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tự giá rồi." (Ga-la-ti – Galatians 5:24).

"Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!" (Ga-la-ti 6:14).

 

3. Thập tự giá là vũ khí để chiến thắng tội lỗi: Chúng ta cần phải vác thập tự giá mình mỗi ngày

"Ngài đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta, các điều khoản trái với chúng ta nữa, cùng phá hủy tờ khế đó mà đóng đinh trên cây thập tự; Ngài đã truất bỏ các quyền cai trị cùng các thế lực, dùng thập tự giá chiến thắng chúng nó, và nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ". (Cô-lô-se – Colossians 2:14,15).

"Ai không vác thập tự mình mà theo ta, thì cũng chẳng đáng cho ta." (Ma-thi-ơ 10:38).

"Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta." (Ma-thi-ơ 16:24).

"Đoạn, Ngài phải cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta." (Lu-ca – Luke 9:23).

"Còn ai không vác thập tự giá mình theo ta, cũng không được làm môn đồ ta." (Lu-ca – Luke 14:27).

 

Kết luận

— Đức Chúa Jesus đã vác thập tự giá của Ngài, chịu khổ vì tội lỗi của chúng ta.

— Đức Chúa Jesus đã bị đóng đinh trên thập tự giá của Ngài, chịu chết vì tội lỗi chúng ta.

— Chúng ta cũng đã bị đóng đinh trên thập tự giá của Ngài, để chết đi con người cũ của chúng ta.

— Chúng ta phải vác thập tự giá mình mỗi ngày, chịu khổ vì danh Chúa.

29/10/2006

Share This:

A. Z. Tozer: Sống Với Chúa Thật Dễ

2,271 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Công tác đầu tiên Sa-tan tấn công loài người là nỗ lực quỷ quyệt của nó hòng phá hủy niềm tin của Ê-va đã đặt để nơi sự nhân từ của Ðức Chúa Trời. Thật không may cho bà và cho chúng ta là Ma quỷ đã thành công vượt bậc. Từ ngày đó, con người có một quan niệm sai trật về Ðức Chúa Trời, đây chính là điều đã tách loài người khỏi nền tảng của sự công chính và đưa đẩy họ vào lối sống liều lĩnh và tiêu cực.

Không có gì xuyên tạc và bóp méo linh hồn con người cho bằng quan niệm thấp kém và vô giá trị của con người về Ðức Chúa Trời. Quan niệm sai lầm của họ về Ðức Chúa Trời gây nên một hậu quả là ý tưởng sai lầm về sự thờ phượng. Ðối với người Pha-ri-si, sự thờ phượng Ðức Chúa Trời là một gánh nặng rất lớn. Chúa của người Pha-ri-si không phải là Ðấng mà việc tương giao với Ðấng đó là điều dễ dàng, vì thế cho nên tôn giáo của người Pha-ri-si trở nên khắc nghiệt, cứng nhắc, và không có tình yêu thương. Cho nên quan niệm của chúng ta về Ðức Chúa Trời như thế nào sẽ luôn luôn quyết định phẩm chất tôn giáo của chúng ta.

Phần lớn Cơ Ðốc giáo kể từ ngày Ðấng Christ còn tại thế cũng đã khắc nghiệt và gay gắt như thế. Và nguyên nhân cũng như vậy thôi – một quan điểm vô giá trị hay không thích hợp về Ðức Chúa Trời. Theo bản năng, chúng ta cố gắng trở nên giống như Ðức Chúa Trời của mình, và nếu Ngài được hiểu như là rất khắc nghiệt và hay đòi hỏi quá quắt, thì chính chúng ta cũng sẽ như vậy thôi.

Thất bại của việc hiểu Ðức Chúa Trời một cách đúng đắn dẫn đến một thế giới bất hạnh giữa vòng những Cơ Ðốc nhân tốt ngay cả trong ngày hôm nay. Khi một Cơ Ðốc Nhân nghĩ rằng đời sống Cơ Ðốc là việc mang thập giá thô nhám, không hề giảm bớt căng thẳng dưới con mắt của một người Cha nghiêm khắc đòi hỏi thì nhiều mà không tha thứ cho việc gì cả, thì những đời sống như vậy chắc chắn phải là một trò chế nhạo trên đời sống thật của Ðấng Christ.

Ðiều quan trọng nhất đối với sức khỏe thuộc linh tốt của chúng ta là chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ trong tâm trí mình một quan niệm đúng đắn về Ðức Chúa Trời. Nếu chúng ta nghĩ rằng Ngài là một Ðấng lạnh lùng và hay đòi hỏi quá quắt, chúng ta sẽ không thể nào yêu mến Ngài được, và đời sống chúng ta sẽ bị bao bọc bởi một tấm màn của nỗi sợ hãi dai dẳng như của một người nô lệ. Nếu, một lần nữa, chúng ta tin Ngài là Ðấng nhơn lành và toàn tri, đời sống bên trong của chúng ta sẽ phản ánh tư tưởng đó.

Sự thật nằm ở chỗ Ðức Chúa Trời là Ðấng tuyệt vời nhất trong tất cả các hữu thể và sự thờ phượng Ngài là một trong những niềm khoái lạc khôn tả.

Ngài là tình yêu thương đầy trọn, và những ai tin nơi Ngài không cần phải biết điều gì khác hơn là tình yêu thương. Ngài là Ðấng công bình, quả thật vậy, và Ngài sẽ không tha thứ cho tội lỗi; nhưng bởi huyết báu của giao ước đời đời, Ngài hướng về chúng ta như thể chúng ta là những người chưa bao giờ phạm tội. Ðối với những đứa con tin cậy nơi Ngài, sự nhơn từ Ngài sẽ luôn luôn chiến thắng luật pháp.

Mối tương giao với Ðức Chúa Trời là thú vị, vượt quá sự mô tả của mọi ngôn ngữ. Ngài tương giao với những người đã được cứu và thuộc về Ngài trong một mối tương giao dễ dàng và tự do vốn mang đến sự yên nghỉ và chữa lành cho linh hồn. Ngài không dễ bị tổn thương cũng không ích kỷ hoặc hay thay đổi thất thường. Hôm nay Ngài như thế nào, ngày mai, ngày mốt, năm sau, và cả cõi đời đời chúng ta cũng vẫn thấy Ngài như vậy. Ngài không phải là Ðấng khó làm vừa lòng, dầu rằng có thể khó làm cho Ngài thỏa lòng. Ngài chỉ mong muốn nơi chúng ta những điều mà trước đó Ngài đã ban cho. Ngài nhanh chóng ghi nhận mọi nỗ lực để làm vừa lòng Ngài, dù là chúng nhỏ bé, và Ngài cũng nhanh chóng bỏ qua những sự bất toàn khi Ngài biết rằng chúng ta muốn làm theo ý muốn Ngài. Ngài yêu thương chúng ta vì chính chúng ta và đánh giá tình yêu thương chúng ta dành cho Ngài còn lớn hơn cả những thiên hà của các thế giới đã được tạo dựng.

Thật không may, nhiều Cơ Ðốc nhân không thể tự do thoát khỏi những quan niệm sai lầm của họ về Ðức Chúa Trời, và những quan niệm đó đầu độc tấm lòng họ, đồng thời phá hủy sự tự do bên trong. Những người bạn này hầu việc Ðức Chúa Trời cách cứng nhắc, giống như như người anh cả trong câu chuyện người con trai hoang đàng, làm điều đúng mà không có sự nhiệt tình, không có niềm vui, và dường như hoàn toàn không thể hiểu buổi tiệc vui vẻ, phước hạnh mừng đứa em hoang đàng trở về nhà.

Tôi cảm tạ ơn Chúa vô cùng nếu chúng ta có thể học biết rằng sống với Ðức Chúa Trời thật dễ dàng đối với loài người chúng ta. Ngài nhớ rõ tình trạng của chúng ta và biết rằng chúng ta là bụi đất. Có thể đôi lúc Ngài uốn nắn chúng ta, quả thật vậy, nhưng ngay cả trong khi làm điều đó, Ngài mỉm cười khả ái, một nụ cười hãnh diện, mềm mỏng của người Cha đang chìm ngập trong niềm vui với đứa con dù bất toàn nhưng đầy hứa hẹn, một đứa con đang ngày càng trở nên giống Cha mình.

Một số người trong chúng ta hay giật mình và e dè vì chúng ta biết rằng Ðức Chúa Trời thấy mọi tư tưởng chúng ta và quen thuộc với mọi đường lối của chúng ta. Chúng ta không cần phải như thế. Ðức Chúa Trời là Ðấng gồm tóm mọi sự kiên nhẫn và bản chất của ý muốn nhơn từ tốt lành. Chúng ta làm Ngài vừa lòng nhất, không phải bởi việc chúng ta cố gắng làm cho mình trở nên tốt, bèn là bởi việc trao phó chính mình trong vòng tay của Ngài với hết thảy những bất toàn, và tin rằng Ngài hiểu mọi sự mà vẫn yêu thương chúng ta.

 

Share This:

Ăn năn tội

3,391 views

I. Định nghĩa ăn năn tội

Từ ngữ "ăn năn" trong Thánh Kinh Việt ngữ được dùng để dịch hai chữ khác nhau trong Thánh Kinh.

— Chữ thứ nhất, ít khi được dùng là metamellomai (μεταμέλλομαι 3338) [1]. Chữ này có nghĩa là "hối tiếc việc đã làm", có thể dịch là hối tiếc, hối hận, thống hối. Thánh Kinh dùng chữ này trong trường hợp của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, (Ma-thi-ơ – Matthew 27:3).

— Chữ thứ nhì, thường được dùng là metanoeō (μετανοέω 3340) [2]. Chữ này có nghĩa là "quay trở lại", có thể dịch là ăn năn, hối cải. Sứ điệp của Giăng Báp-tít dùng chữ này kêu gọi người nghe ăn năn để dọn mình, dọn lòng tiếp nhận Đấng Christ. Sứ điệp của Đấng Christ cũng dùng chữ này kêu gọi mọi người ăn năn để được vào nước trời.

Ăn năn ở đây là ăn năn về nếp sống tội lỗi. Như vậy, Thánh Kinh cho thấy ăn năn tội không chỉ là cảm giác hổ thẹn, hối tiếc về nếp sống tội lỗi, mà còn là ý muốn kiên quyết từ bỏ tội lỗi, ý muốn dứt khoát quay trở lại, là tấm lòng sẵn sàng chịu sửa đổi.

 

II. Ăn năn tội và xưng tội

Nhiều người hối tiếc những tội lỗi mình đã làm nhưng không chịu ăn năn cho nên tiếp tục đi trong con đường tội lỗi. Những người này cứ phạm tội, rồi hối tiếc, rồi lại phạm tội. Họ cứ miệt mài đi tới trên con đường một chiều của sự hư mất. Thỉnh thoảng, họ dừng lại than khóc, u sầu trong những trạm đau thương, thống hối bên đường, (là những cơ hội Thiên Chúa ban cho họ để ăn năn, hối cải), nhưng họ không chịu từ bỏ nếp sống tội, để rồi sau đó lại lê bước đi tiếp, cho tới khi đạt đến trạm cuối cùng là sự chết!

Những người khác thì biết hối tiếc khi ý thức mình đã phạm tội, đồng thời muốn có cơ hội để thay đổi tình trạng phạm tội của mình, muốn được tha thứ, muốn sửa đổi, muốn thoát khỏi quyền lực của tội lỗi, muốn được sống trong thánh khiết và công chính. Những người này bằng lòng trả mọi giá để có được cơ hội quay lại. Thánh Kinh gọi đó là sự ăn năn tội.

Sự ăn năn tội dẫn đến sự xưng tội.

Xưng tội không có nghĩa đơn giản là "nhận tội". Một người có thể nhận tội, nghĩa là công nhận mình có tội vì đó là một thực tế không thể chối cãi, trong khi không hề có lòng ăn năn. Người nhận tội mà không có lòng ăn năn, mặc dù nhận tội nhưng vẫn tìm cách để biện hộ cho tội lỗi của mình và không thật lòng chấp nhận hình phạt của tội lỗi. Người nhận tội mà không có lòng ăn năn sẵn sàng tái phạm những tội đã phạm khi có cơ hội.

Từ ngữ xưng tội nói lên hành động của một người thừa nhận quyền tể trị tuyệt đối của Thiên Chúa và công nhận những xúc phạm của mình, (tức là tội lỗi,) đối với bản tính và ý chỉ của Thiên Chúa, cho dù có được tha thứ hay không. Người xưng tội bởi lòng ăn năn sẵn sàng tiếp nhận trách nhiệm, công bố hình phạt của tội lỗi mình đã phạm là công chính (Lu-ca – Luke 23:41).

Xưng tội là bổn phận của một tội nhân biết ăn năn, là hành động công chính duy nhất mà một tội nhân biết ăn năn có thể làm được. Xưng tội còn là công nhận sự công chính của Thiên Chúa và bằng lòng tiếp nhận sự phán xét của Ngài. Một người chỉ có thể xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa qua sự cầu nguyện trong danh của Đức Chúa Jesus Christ.

 

III. Ân điển của Thiên Chúa dành cho người tin nhận Ngài và ăn năn tội

Cảm tạ Thiên Chúa về sự nhân từ và thương xót đời đời của Ngài. Khi một người tin nhận Thiên Chúa, tin nhận Tin Lành cứu rỗi của Ngài qua Đức Chúa Jesus Christ, thật lòng ăn năn tội, xưng nhận tội thì Ngài ban cho người ấy ân điển cứu rỗi của Ngài. Sự ăn năn tội, xưng nhận tội đi chung với đức tin vào ân điển cứu rỗi của Thiên Chúa khiến cho một người được tha tội, được làm cho sạch tội, và được Thiên Chúa tái sinh, ban cho quyền phép trở nên con Ngài.

Ân điển cứu rỗi là lòng thương xót của Thiên Chúa ban cho người có tội biết ăn năn. Ân điển cứu rỗi bao gồm: ơn tha tội, và ơn làm cho sạch tội (sự chuộc tội bởi Đấng Christ và sự tái sinh bởi Đức Thánh Linh). Ân điển cứu rỗi dẫn đến ân điển nhận được quyền phép trở nên con của Thiên Chúa (Giăng – John 1:12,13). Khi một người được trở nên con của Thiên Chúa, người ấy cùng với Đấng Christ kế tự tất cả những sự giàu có vinh hiển của Thiên Chúa (Rô-ma – Romans 8:16,17). Vì là con của Thiên Chúa cho nên chúng ta được nhận lãnh năng lực và quyền phép của Thiên Chúa, tức là Thánh Linh, ngay khi còn sống trong xác thịt để học biết cách quản trị cơ nghiệp của Thiên Chúa (Giăng – John 7:38,39). Sự học tập quản trị đó bắt đầu ngay từ giờ phút chúng ta được tái sinh và được thực tập ngay trên xác thịt của chúng ta (Rô-ma – Romans 6:12-14,19; 1 Cô-rinh-tô – 1 Corinthians 9:27).

 

IV. Kết quả xứng đáng với sự ăn năn

Sau khi một người tin nhận Thiên Chúa, ăn năn tội, tiếp nhận ân điển cứu rỗi, và ân điển được quyền phép trở nên con Thiên Chúa, thì ân điển lớn nhất Thiên Chúa ban cho người ấy trong đời này, là ân điển khiến cho muôn dân trở thành môn đồ của Đấng Christ; nói cách văn hoa là ân điển môn đồ hóa muôn dân cho Đấng Christ, (Ma-thi-ơ – Matthew 28:18-20):

18 Đức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.

19 Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ,

20 và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.

Ân điển này là một vinh dự lớn lao mà chúng ta không thể hiểu tường tận cho đến khi chúng ta gặp mặt Chúa và nhìn thấy tổng kết thành quả của ân điển ấy qua đời sống của chúng ta, được ghi chép và thâu trử trên thiên đàng. Chính Đức Chúa Jesus phán rằng, linh hồn của một người quý hơn cả thế gian, và, khi một người thật lòng ăn năn tội, thì các thiên sứ ở trên trời cũng vui mừng. Như vậy, khi chúng ta vâng lời Chúa, tiếp nhận ân điển của Ngài để đi ra rao giảng về Chúa cho người khác, dẫn họ đến với sự cứu rỗi và sự sống đời đời trong Chúa; giảng dạy cho họ những lẽ thật của lời Chúa khiến họ được lớn lên, đứng vững trong đức tin và kết quả xứng đáng, thì chúng ta đã làm công việc cao quý nhất một người có thể làm mà thành quả còn đến đời đời.

 

Kết luận

Trong Hội Thánh ngày nay có nhiều người hối tiếc cuộc sống tội lỗi của mình, tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ, mong ước được vào thiên đàng, nhưng lại không ăn năn tội, nghĩa là không chịu từ bỏ nếp sống tội lỗi. Với những người như vậy, Phao-lô đã rớt nước mắt mà nói:

"Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ." (Phi-líp – Philippians 3:18).

Toàn bộ sứ điệp của Tin Lành cứu rỗi được tóm gọn vào ba điều sau đây:

1. "Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần!" (Ma-thi-ơ – Matthew 3:2);

2. "Các ngươi hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn." (Ma-thi-ơ – Matthew 3:8); và

3. "Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!" (2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 6:2).

Đức tin vào trong sự cứu rỗi của Thiên Chúa, nếu không thể hiện bằng hành động ăn năn, nghĩa là quay lưng lại với tội lỗi, dần dần sẽ trở thành đức tin chết. Đức tin chết không cứu được ai! Đức tin sống là đức tin dẫn đến sự ăn năn tội, dẫn đến sự cứu rỗi, dẫn đến sự tái sinh, dẫn đến địa vị làm con của Thiên Chúa và sống một đời sống kết quả xứng đáng với sự ăn năn! Đức tin sống khiến cho chúng ta được sống và còn dẫn đưa nhiều người khác đến với sự sống.

Đức tin đó, cần phải được bắt đầu ngay hôm nay, qua hành động ăn năn tội!

 

Huỳnh Christian Timothy
Giảng tại Hội Thánh Tin Lành Emmanuên
Tucson, Arizona
22/10/2006

 

 

Chú thích:

 

[1] Metamellomai phát âm là "met-am-el'-lom-ahee"

[2] Metanoeō phát âm là "met-an-o-eh'-o"

 

Tham khảo:

1. Textus Receptus Greek New Testament, (www.e-sword.org).

2. Thayer's Greek Definitions, (www.e-sword.org).

3. Strong's Exhaustive Concordance of the Bible, Dictionaries of the Hebrew and Greek Words of the Original, James Strong, (Hendrickson Publishers, ISBN 0-917006-01-1).

4. Dictionary of Theological Terms, Alan Cairns, (Ambassador Emerald International, 2002)

5. Wycliffe Bible Dictionary, Charles F. Pfiffer, Howard F. Vos, John Rea, (Hendrickson Publishers, 2003).

6. Baker Theological Dictionary of the Bible, Edited by Walter A. Elwell, (Baker Books, 1996).

Share This:

Tội Lỗi

2,234 views

I. Định nghĩa tội lỗi:

Một cách tổng quát, tội lỗi là bất kỳ điều gì trái ngược với bản tính Thiên Chúa. Bản tính Thiên Chúa chính là sự vinh hiển của Ngài cho nên tội lỗi là sự thiếu hụt sự vinh hiển của Thiên Chúa:

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma – Romans 3:23).

Bản tính Thiên Chúa bao gồm sự Thánh Khiết, sự Công Chính, và Tình Yêu. Bản tính Thiên Chúa được biểu lộ qua các điều răn của Ngài. Sự vi phạm các điều răn của Thiên Chúa, cho dù chỉ trong tư tưởng, là tội lỗi.

Thánh Kinh dùng chữ hamartia [1](αμαρτιαν266), nguyên nghĩa là “trật mục tiêu” để chỉ về tội lỗi. Khi một người bắn cung, bắn không trúng mục tiêu là hamartia. Cũng vậy, khi đời sống của một người không phản ánh sự vinh hiển của Thiên Chúa (không sống đúng với tiêu chuẩn Thánh Khiết, Công Chính, và Yêu Thương của Ngài) thì đời sống của người đó trật mục tiêu mà Thiên Chúa đã đặt ra, là phạm tội. Bởi vì, Thiên Chúa đã dựng nên loài người theo hình ảnh của Ngài, phản chiếu sự vinh hiển của Ngài (Sáng Thế – Genesis 1:26-27; Thi Thiên – Psalm 8:5).

II. Tính chất của tội lỗi:

Tội lỗi có các tính chất như sau:

1. Tội là anomia [2] (ανομια458), có nghĩa là “bất chấp luật pháp”, là biết điều phải mà vẫn làm điều quấy, biết luật pháp mà vẫn vi phạm.

Ma-thi-ơ – Matthew 7:23, 13:41, 23:28, 24:12; Rô-ma – Romans 4:7, 6:19; 2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 6:14; 2 Tê-sa-lô-ni-ca – 2 Thessalonians 2:7; Tít – Titus 2:14; Hê-bơ-rơ – Hebrews 1:9, 8:12, 10:17; 1 Giăng – 1 John 3:4.

Bản năng thứ nhất của loài người là bản năng làm điều mình thích; bởi thế, có những lúc người ta muốn đạp đổ truyền thống, thách thức luật pháp, và làm những điều cấm kỵ. Cho dù có người nào dám nói mình chưa bao giờ hành động phạm các điều răn của Thiên Chúa cũng không thể nói là mình không hề có ước muốn phạm tội.

2. Tội là parabasis [3] (παράβασις3847), nghĩa là “bước ngang qua lằn ranh”, là vượt ngang qua ranh giới giữa đúng và sai.

Rô-ma – Romans 2:23, 4:15, 5:14; Ga-la-ti – Galatians 3:19; 1 Ti-mô-thê – 1 Timothy 2:14; Hê-bơ-rơ – Hebrews 2:2, 9:15.

Chúng ta có luôn luôn ở bên phải của lằn ranh giữa thành thật và giả dối không? Có một điểm không thành thật nhỏ bé nào trong đời sống của chúng ta chăng? Có phải chúng ta luôn luôn ở bên phải lằn phân chia đúng, sai không? Có thật chúng ta không bao giờ dùng lời nói hoặc sự yên lặng để vặn cong, hoặc lẫn tránh, hoặc xuyên tạc sự thật chăng? Có phải chúng ta bao giờ cũng ở bên phải lằn phân chia sự tử tế, lễ độ với tính ích kỷ và gắt gỏng không? Có phải không hề có một hành động tồi hoặc lời nói thiếu lễ độ nào trong đời sống chúng ta không? Khi tự hỏi những câu này, chắc chắn không ai dám tự hào là mình luôn luôn ở bên phải các lằn ranh.

3. Tội là paraptoma [4] (παράπτωμα3900)có nghĩa là “trượt chân té ngã”, là không giữ được tư thế công chính.

Ma-thi-ơ – Matthew 6:14,15, 18:35; Mác – Mark 11:25,26; Rô-ma – Romans 4:25, 5:15-18,20, 11:11,12; 2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 5:19; Ga-la-ti – Galatians 6:1; Ê-phê-sô – Ephesians 1:7, 2:1,5; Cô-lô-se – Colossians 2:13; Gia-cơ – James 5:16.

Chúng ta “trượt chân té ngã” khi chúng ta buộc miệng lỡ lời; khi chúng ta bị lôi cuốn bởi một thôi thúc của cảm xúc hay đam mê nào đó, mà chúng đã chiếm quyền kiểm soát, đoạt mất sự tự chủ của chúng ta trong một phút giây khiến cho chúng ta hành động sai lầm cách nông nổi. Người tốt nhất trong chúng ta cũng sẽ “trượt chân té ngã” nếu chúng ta không cẩn thận đề phòng.

III. Nguồn gốc, hậu quả, và hình phạt của tội lỗi

Tội lỗi là một huyền nhiệm. Vì tội lỗi là huyền nhiệm cho nên trong đời này chúng ta không thể hiểu thấu được nguồn gốc, tính chất, và hậu quả của tội lỗi. Điều chúng ta biết chắc đó là:

– Mỗi chúng ta là một tội nhân. Chúng ta là tội nhân không phải vì chúng ta phạm tội nhưng vì trong chúng ta có bản chất tội khiến cho chúng ta phạm tội;
– Tội lỗi đem đến đau khổ, bất công, và sự chết;
– Dù gắng sức như thế nào, chúng ta vẫn không thể thoát khỏi sức mạnh của tội lỗi.

Thiên Chúa là Thánh Khiết, là Thiện! Vì Thiên Chúa là Thiện cho nên mọi sự Ngài dựng nên đều là Thiện. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng là Công Chính cho nên đối với thiên sứ và loài người Ngài đều ban cho họ ý chí tự do. Thiên sứ và loài người hoàn toàn được tự do chọn lựa vâng phục Thiên Chúa hoặc khước từ Ngài. Khi ý chí tự do bị lạm dụng để khước từ Thiên Chúa thì sự Ác phát sinh. Tất cả sự Ác xưa nay trong lịch sử của thiên sứ và loài người đều là sản phẩm của tội lỗi. Hành động khước từ Thiên Chúa là tội lỗi, tạo ra sự Ác. Hình phạt đương nhiên của tội lỗi là đau khổ và sự chết.

Bằng thể văn ẩn dụ, Thánh Kinh cho biết tội lỗi bắt nguồn từ Satan (Ê-xê-chi-ên – Ezekiel 28:11-15; Ê-sai – Isaiah 14:12-15). Satan là một thiên sứ trưởng được Thiên Chúa dựng nên để phục vụ Ngài. Satan được dựng nên một cách tốt lành, trọn vẹn như bao loài thọ tạo khác cho đến khi sự kiêu ngạo dấy lên trong lòng khiến cho Satan muốn chiếm quyền của Thiên Chúa và dấy loạn.

Với tinh thần phản loạn đó, Satan đã cám dỗ các thiên sứ khác và loài người đi vào con đường không vâng phục Thiên Chúa. Tổ phụ của loài người là A-đam và Ê-va đã phạm tội cho nên toàn thể loài người đều mang lấy bản chất tội.

Thiên Chúa không tạo nên tội lỗi và sự chết, nhưng với bản tính Công Chính khi Ngài ban cho thiên sứ và loài người ý chí tự do thì Ngài cũng phải cho phép tội lỗi và sự chết xảy ra. Nếu tội lỗi (sự chối bỏ, chống nghịch Thiên Chúa) không được phép xảy ra thì không có ý chí tự do thật. Nếu tội lỗi xảy ra mà không có hình phạt là sự chết thì không thỏa mãn sự Công Chính của Thiên Chúa.

Đối với loài người có hai hình thức của sự chết mà Thánh Kinh gọi là sự chết thứ nhất và sự chết thứ hai.

1. Sự chết thứ nhất, bao gồm sự chết của tâm linh và thể xác:

– Về tâm linh, là sự chấm dứt mối tương giao giữa loài người với Thiên Chúa, loài người không còn biết vâng phục, thờ phượng Thiên Chúa (sự chết của tâm thần); là sự chấm dứt mối tương giao giữa loài người với nhau, loài người không còn khả năng yêu thương nhau (sự chết của linh hồn), (Ê-sai – Isaiah 1:15, 59:1,2; Rô-ma – Romans 1:18-32).

– Về thể xác, là sự bệnh tật, già yếu, và trở về cát bụi (Sáng Thế – Genesis 2:17, 3:19; Hê-bơ-rơ – Hebrews 9:27).

Sau khi sự chết của thể xác xảy ra thì tâm linh của loài người bị giam vào địa ngục, chờ ngày thể xác được gọi sống lại và ra ứng hầu trước toà án lớn của Thiên Chúa để nhận lãnh án phạt về mọi việc làm tội lỗi của mình. Sau khi nhận lãnh án phạt từ Thiên Chúa thì loài người đi vào sự chết thứ hai, là hỏa ngục.

2. Sự chết thứ hai, bao gồm sự chết của tâm linh và thể xác:

– Về tâm linh, là sự đời đời xa cách mặt Thiên Chúa, và sự vinh hiển của quyền phép Ngài, nghĩa là xa cách đời đời quyền phép cứu rỗi của Tin Lành (1 Tê-sa-lô-ni-ca – Thessalonians 1:9; Rô-ma – Romans 1:16).

– Về thể xác, là sự đau khổ đời đời trong lửa của hoả ngục (Khải Huyền – Revelation 20:11-15, 21:8).

III. Sự tha tội và làm cho sạch tội:

Thánh Kinh không đề cập đến sự tha tội và làm cho sạch tội của Thiên Chúa đối với Satan và các thiên sứ phạm tội. Toàn bộ Thánh Kinh chỉ tập trung vào ân điển của Thiên Chúa dành cho loài ngưòi về sự tha thứ mọi tội lỗi của loài người qua sự chuộc tội và sự làm cho loài người được sạch tội qua sự tái sinh.

1. Sự tha tội: được thực hiện bởi sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá cho toàn thể nhân loại.

2. Sự làm cho sạch tội: được thực hiện bởi sự tiếp tục tha tội qua huyết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ và bởi sự tái tạo tâm thần, linh hồn, và thể xác của người được tha tội.

Điều kiện để được Thiên Chúa tha tội và làm cho sạch tội là (1) ăn năn tội, (2) tin nhận Tin Lành cứu rỗi, (3) và vâng giữ lời Chúa. Đây là ba mặt của một vấn đề; thiếu một trong ba yếu tố này, chúng ta không nhận được sự cứu rỗi. Ba yếu tố này của sự cứu rỗi tương ứng với ba yếu tố trong sự vinh hiển của Thiên Chúa:

– Thiên Chúa là Thánh Khiết nên Ngài đòi hỏi chúng ta phải ăn năn tội (Ma-thi-ơ – Matthew 3:2).

– Thiên Chúa là Công Chính nên Ngài cung cấp giải pháp chuộc tội cho chúng ta (1 Giăng – John 1:7).

– Thiên Chúa là Tình Yêu nên Ngài bảo toàn sự sống cho chúng ta qua lời của Ngài (Giăng – John 6:63).

Không ăn năn tội thì không nhận được sự tha tội. Ăn năn tội và tin nhận sự tha tội nhưng không vâng giữ lời Chúa thì không có sự sống đời đời. Đức tin không thể hiện bằng hành động thì tự nó sẽ chết đi cũng như thể xác không có hơi thở (Gia-cơ – James 2:14,17,26). Đức Chúa Jesus phán dạy rất rõ về sự kiện những người tin nhận Chúa phải “cứ ở trong Chúa” và “lời của Chúa cứ ở trong họ” để đời sống đức tin của họ có kết quả tốt. Người nào ở trong Chúa mà không có kết quả thì sẽ bị trừ bỏ (Giăng – John 15:1-7). Đức tin trong Đấng Christ phải được thể hiện bằng hành động vâng lời, thực hành những sự dạy bảo của Chúa:

“Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?” (Lu-ca – Luke 6:46).

“Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.” (Ma-thi-ơ – Matthew 7:21).

Mệnh lệnh của Đức Chúa Jesus dành cho người ăn năn tội là: “Hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn!” (Ma-thi-ơ -Matthew 3:8; Lu-ca – Luke 3:8).

Một người chỉ có thể ăn năn tội và tin nhận Tin lành cứu rỗi của Thiên Chúa đang khi còn sống trong thân xác tội lỗi này. Một khi hơi thở tắt đi, thân thể trở về cùng bụi đất, tâm linh bị giam vào địa ngục thì không còn cơ hội. Thánh Kinh dạy rõ: sau sự chết chỉ còn sự phán xét (Hê-bơ-rơ – Hebrews 9:27); và “hiện nay là thì thuận tiện, hiện nay là ngày cứu rỗi” (2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 6:2).

Sự tha tội và làm cho sạch tội là ân điển (ơn ban cho người không đáng nhận lãnh) của Thiên Chúa ban cho loài người bởi sự nhân từ và thương xót vô biên của Ngài. Thiên Chúa không tạo nên tội lỗi và không có trách nhiệm về sự loài người phạm tội.

Thí dụ minh họa: Nhà bào chế thuốc chỉ tạo ra thuốc để chữa bệnh, cứu người chứ không tạo ra thuốc độc để giết người. Nhưng khi người tiêu thụ không vâng theo lời chỉ dẫn của nhà bào chế, trộn lẫn một số thuốc nào đó lại với nhau thì làm phát sinh ra thuốc độc có sức mạnh giết chết người. Không một tòa án hay không một lương tâm nào có thể tuyên bố rằng nhà bào chế thuốc đã chế ra thuốc độc cho nên phải chịu trách nhiệm về sự ngộ độc của người tiêu thụ. Mặc dù nhà bào chế thuốc không có trách nhiệm trong sự ngộ độc của người tiêu thụ nhưng vì đoán trước sự ngộ độc có thể xảy ra cho nên tình nguyện bào chế sẵn một phương thuốc giải độc cho những ai muốn được giải độc. Phương thuốc đó được tặng không cho người ngộ độc, nhà bào chế gánh chịu hết mọi chi phí. Tuy nhiên, người ngộ độc cần phải: (1) công nhận mình ngộ độc, muốn được chữa lành, (2) tin và nhận phương thuốc giải độc của nhà bào chế, (3) vâng theo sự hưóng dẫn của nhà bào chế trong sự sử dụng thuốc giải độc. Thiếu một trong ba yếu tố trên đây, người ngộ độc không thể được giải cứu.

Kết luận

Khi một người phạm tội thì ở trong tình trạng mà Thánh Kinh gọi là opheilema [5] (ὀφείλημα3783), có nghĩa là “nợ”, là “không làm tròn bổn phận” (Ma-thi-ơ – Matthew 6:12, Rô-ma – Romans 4:4). Không có một người nào đủ can đảm xưng rằng mình đã làm tròn bổn phận đối với người và đối với Trời. Đó là sự trọn lành, loài người không thể đạt đến đang khi còn sống trong thân xác đã hư hoại vì tội lỗi.

Hiện nay, những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa, và vâng phục Ngài đều được Ngài tha tội và tái sinh tâm linh (tâm thần và linh hồn – spirit and soul). Vì được tha tội nên chúng ta không còn bị đoán phạt, chúng ta được thoát khỏi lửa hỏa ngục (Rô-ma – Romans 1:8). Vì được tái sinh tâm thần nên chúng ta nhận biết Chúa, nghe tiếng Chúa, và thờ phượng Chúa. Vì được tái sinh linh hồn nên chúng ta biết yêu thương, tha thứ lẫn nhau. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn sống trong thân xác đã nhiễm tội cho nên vẫn có những lúc chúng ta “trượt chân” hoặc “bước ngang qua lằn ranh” và trở thành những kẻ “bất chấp luật pháp”. Chúng ta chưa trọn vẹn nhưng nhờ ân điển của Thiên Chúa (2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 12:9; Phi-líp – Philippians 4:13) chúng ta đang ở trên tiến trình đạt đến sự trọn vẹn; chúng ta đang “trở nên” trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời là trọn vẹn (Ma-thi-ơ – Matthew 5:48).

Một ngày kia, khi Đức Chúa Jesus trở lại, Ngài sẽ khiến cho thân xác chúng ta được sống lại hoặc được biến hóa, nghĩa là được dựng nên mới trong thân xác, thì sự cứu rỗi của chúng ta được hoàn thành, là lúc chúng ta đạt đến sự trọn vẹn, và được ở cùng Chúa luôn luôn! (Hê-bơ-rơ – Hebrews 9:28; 1 Phi-e-rơ – 1 Peter 1:3-5; 1 Cô-rinh-tô – Corinthians 13:10, 15:35-58, 1 Tê-sa-lô-ni-ca – 1 Thessalonians 4:13-18, 5:23,24).

Huỳnh Christian Timothy
Tucson, Arizona

15/10/2006

Chú thích:

[1] Hamartia phát âm là “ham-ar-tee’-ah”

[2] Anomia phát âm là “an-om-ee’-ah”

[3] Parabasis phát âm là “par-ab’-as-is”

[4] Paraptoma phát âm là “par-ap’-to-mah”

[5] Opheilema phát âm là “of-i’-lay-mah”

Tham khảo:

1. Textus Receptus Greek New Testament, (www.e-sword.org).

2. Thayer’s Greek Definitions, (www.e-sword.org).

3. Strong’s Exhaustive Concordance of the Bible, Dictionaries of the Hebrew and Greek Words of the Original, James Strong, (Hendrickson Publishers, ISBN 0-917006-01-1).

4. Dictionary of Theological Terms, Alan Cairns, (Ambassador Emerald International, 2002)

5. Wycliffe Bible Dictionary, Charles F. Pfiffer, Howard F. Vos, John Rea, (Hendrickson Publishers, 2003).

6. Baker Theological Dictionary of the Bible, Edited by Walter A. Elwell, (Baker Books, 1996).

 

Share This:

A. W. Tozer: Sử Dụng và Lạm Dụng Tính Hài Hước

2,391 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Có một vài điều hữu ích trong đời sống Cơ Ðốc nhân như là tính hài hước nhẹ nhàng nhưng cũng có một vài thứ tai hại chết người như tính hài hước nằm ngoài sự kiểm soát.
Nhiều người đã bỏ cuộc chạy của sự sống chỉ vì chuyện tầm phào. Phao-lô đã cẩn thận cảnh báo chúng ta. Ông nói rõ rằng tâm tính đặc trưng của Cơ Ðốc nhân không phải là việc pha trò, và nói những chuyện tầm phào, bèn là sự tạ ơn (Ê-phê-sô 5:1-5). Thật có ý nghĩa khi trong chương này vị sứ đồ của chúng ta đã xếp việc nói những chuyện tầm phào chung với sự không tinh sạch, gian dâm và thờ lạy hình tượng.

Ðiều này, hiển nhiên là một sự cảm kích về tính hài hước, tự bản thân nó không phải là điều xấu. Khi Ðức Chúa Trời tạo dựng chúng ta, Ngài có ban cho chúng ta tính hài hước như là một điểm đặc trưng bên trong, và một con người bình thường sẽ có món quà này ít nhất là ở một cấp độ nào đó. Nguồn gốc của sự hài hước là khả năng lĩnh hội những điều phi lý. Những thứ trông không rõ ràng thường có vẻ buồn cười đối với chúng ta và có thể kích thích bên trong chúng ta một cảm giác thích thú đến độ bật ra tiếng cười.

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Yêu Chúa và Yêu Người

2,467 views

Một trong những vấn đề gây bối rối, có thể xuất hiện hoặc sớm hoặc muộn và quấy rầy Cơ Ðốc nhân đang tìm kiếm, là làm thế nào anh ta có thể hoàn thành mạng lệnh Thánh Kinh: Yêu Chúa với tất cả tấm lòng mình và yêu người lân cận như chính mình.
Một Cơ Ðốc nhân sốt sắng nhất, khi anh suy gẫm về nghĩa vụ thánh của mình là yêu mến Ðức Chúa Trời và con người, có thể kinh nghiệm một cảm giác thất bại được gieo từ sự nhận biết rằng anh ta dường như không thể có thêm một chút xúc cảm nào đối với Chúa của mình hay anh em chung quanh. Anh ta muốn thế, nhưng anh không thể làm được. Các nguồn cảm xúc say mê chỉ đơn giản là không còn nữa.

Phần nhiều những con người chân thật đã trở nên thất vọng bởi sự thiếu vắng xúc cảm mang tính chất tôn giáo (sự cảm động) và đã tự kết luận rằng họ không thực sự là Cơ Ðốc nhân gì cả. Họ kết luận rằng họ ắt hẳn đã đi nhầm đường từ một chỗ nào đó trong quá khứ và tôn giáo của họ chẳng là gì nhiều hơn một lời tuyên xưng rỗng tuếch. Vì thế, trong chốc lát họ tấn công chính mình bằng sự lạnh lùng của mình, và cuối cùng lâm vào một tâm trạng chán nản ảm đạm, khó mà biết điều gì để suy nghĩ. Họ tin nơi Ðức Chúa Trời; họ thực sự tin Ðấng Christ là Cứu Chúa của mình, nhưng tình yêu mà họ hy vọng cảm nhận được trước sau như một lại trốn tránh họ. Vấn đề là gì?

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Thập Giá Là Một Điều Cơ Bản

2,086 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Thập giá của Ðấng Christ là điều mang tính cách mạng nhất từng xuất hiện giữa vòng loài người.
Thập giá của thời La Mã xa xưa không biết đến sự thỏa hiệp nào; nó chưa bao giờ nhượng bộ ai. Nó được biết đến bởi khả năng giết chết kẻ thù mình và khiến anh ta câm lặng mãi mãi. Nó không tha cho Ðấng Christ, mà còn giết chết Ngài như bao người khác. Ngài còn sống lúc họ treo Ngài lên trên thập giá, và hoàn toàn đã chết lúc họ đưa Ngài xuống sáu giờ sau đó. Ðó là cái thập giá đầu tiên xuất hiện trong lịch sử Cơ Ðốc.

Sau khi Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, các sứ đồ đi ra và rao giảng sứ điệp của Ngài, và điều mà họ rao giảng là thập giá. Bất cứ nơi nào họ đi ra trên thế giới rộng lớn này, họ mang theo thập giá, và cùng một quyền năng mang tính cách mạng đó (quyền năng phục sinh Ðấng Christ – ND) đi với họ. Sứ điệp cơ bản của thập giá đã biến đổi Sau-lơ ở Tạt-sơ, và biến ông từ một con người dữ tợn, chuyên bắt bớ Cơ Ðốc nhân trở thành một tín hữu mềm mại và một sứ đồ của đức tin. Quyền năng của thập giá biến đổi người xấu thành người tốt. Quyền năng đó tháo gỡ mọi sự trói buộc của ngoại giáo và thay đổi hoàn toàn cái nhìn của thế giới phương Tây về đạo đức và tinh thần. Thập giá đã làm tất cả những điều này và sẽ tiếp tục làm cho đến chừng nào nó vẫn còn được xem là thập giá theo ý nghĩa ban đầu của mình. Sức mạnh của nó mất đi khi nó bị biến đổi từ một vật của sự chết sang một vật của cái đẹp. Khi con người biến nó thành biểu tượng, đeo nó quanh cổ họ như một món đồ trang sức hay đưa nó ra trước mặt họ như là một thứ bùa chú giúp tránh khỏi ma quỷ; rồi thì nó trở thành một biểu tượng yếu ớt xét ở mức độ tốt nhất, và ở mức độ tệ nhất thì nó rõ ràng là một vật thờ cúng. Như thế, ngày nay thập giá được tôn sùng bởi hàng triệu người hoàn toàn không biết tí gì về quyền năng của nó.

Thập giá hoàn tất mục đích của nó bằng cách hủy diệt mẫu hình đã có sẵn, của nạn nhân, và tạo nên một mẫu hình khác, của chính nó. Vì thế nó luôn có phương cách của mình. Nó thắng bằng cách đánh bại đối thủ và áp đặt ý muốn mình lên anh ta. Nó luôn luôn chiếm ưu thế. Nó không bao giờ thỏa hiệp, không bao giờ đổi chác, hay hội ý, không bao giờ đầu hàng một điểm nào vì lợi ích của hòa bình. Nó không quan tâm đến hòa bình; nó chỉ quan tâm đến việc kết thúc kẻ thù mình nhanh hết mức có thể.

Vì biết rất rõ mọi điều này, Ðấng Christ đã phán, “Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta.” Vì thế, thập giá không chỉ đưa sự sống Ðấng Christ trên trần gian này đến chỗ kết thúc, nó cũng chấm dứt đời sống đầu tiên, đời sống cũ, của mỗi người là người thực sự theo Ngài. Nó tiêu diệt mẫu hình cũ, mẫu hình A-đam, trong đời sống người tin, và chấm dứt nó. Rồi thì Ðức Chúa Trời, Ðấng đã khiến Ðấng Christ từ kẻ chết sống lại, làm cho người tin sống lại và đời sống mới bắt đầu.

Ðiều này hoàn toàn là Cơ Ðốc giáo thật, dầu chúng ta không thể nhận ra sự bất đồng tinh vi của quan niệm này với quan niệm của những người Tin Lành ngày nay. Nhưng chúng ta không dám đề cao vị trí của mình. Thập giá vượt quá mọi sự đánh giá của con người và đối với thập giá đó, mọi tư tưởng cuối cùng phải chịu sự đoán xét. Sự lãnh đạo nông cạn và thế tục sẽ sửa đổi thập giá để làm vừa lòng hậu duệ của các thánh nhân, những con người tiêu khiển trong cuồng dại, những người sẵn sàng bày trò vui của họ ngay cả trong nơi rất thánh; nhưng làm như thế tức là chuốc lấy thảm họa thuộc linh và liều lĩnh trước cơn thịnh nộ của Chiên Con biến thành Sư Tử.

Chúng ta phải làm một điều gì đó về thập giá, và chúng ta chỉ có thể làm một trong hai điều mà thôi – chạy trốn nó hay chết trên nó. Và nếu chúng ta dại dột chạy trốn nó, bởi hành động đó, chúng ta sẽ quăng xa mọi niềm tin của cha ông và biến Cơ Ðốc giáo thành một thứ gì đó khác hơn bản chất thực của nó. Rồi thì chúng ta sẽ chỉ còn lại một ngôn ngữ sáo rỗng về sự cứu rỗi; quyền năng sẽ lìa bỏ cùng với sự lìa bỏ thập giá thật của chúng ta.

Nếu chúng ta khôn ngoan, chúng ta sẽ làm điều mà Ðức Chúa Jêsus đã làm: Vác thập giá và xem thường sự xấu hổ của nó vì niềm vui đang được đặt ở phía trước chúng ta. Làm việc này tức là trao phó trọn vẹn kiểu đời sống cũ cho thập giá để bị tiêu hủy đi và xây dựng lại đời sống mới trong quyền năng của sự sống đời đời. Và chúng ta sẽ thấy rằng điều đó còn tuyệt vời hơn cả thơ ca, hơn cả những bài thánh thi ngọt ngào và cảm xúc hân hoan. Thập giá sẽ cắt sâu vào đời sống chúng ta, nơi nó gây đau đớn nhiều nhất, nó không dung tha chúng ta cũng như những danh tiếng tốt mà chúng ta đã cẩn thận gây dựng. Nó sẽ đánh bại chúng ta và chấm dứt đời sống ích kỷ của chúng ta. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể sống lại trong sự đầy trọn của sự sống để hình thành một mẫu hình sống hoàn toàn mới và tự do, tràn đầy những công việc tốt lành.
Thái độ sai lạc về thập giá mà chúng ta thấy trong giới chính thống hiện đại không chứng minh rằng Ðức Chúa Trời đã thay đổi, hay Ðấng Christ đã giảm nhẹ đòi hỏi của Ngài về việc chúng ta phải vác thập giá mình; nó có nghĩa là Cơ Ðốc giáo ngày nay đã đi khỏi những tiêu chuẩn của Thánh Kinh Tân Ước. Cho đến nay, quả thật chúng ta đã đi xa, xa đến độ không có gì khác ngoài một cuộc tân cải chánh mới có thể khôi phục và trả thập giá về đúng vị trí của nó trong thần học cũng như trong sự sống của Hội Thánh.

A. W. Tozer

 

Share This:

A. W. Tozer: Học Thì Phải Hành

2,258 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Ông Charles G. Finney tin rằng việc dạy Kinh Thánh mà không có sự áp dụng trên phương diện đạo đức có thể còn tệ hơn việc không dạy gì cả và có thể gây nên những tổn thương thực sự lớn cho những người nghe. Tôi thường cảm thấy rằng điều này có vẻ là một quan điểm cực đoan, nhưng sau nhiều năm chiêm nghiệm, tôi thay đổi ý kiến, hay có một quan điểm gần như giống hệt nó.

Hầu như không có bất cứ điều gì buồn tẻ và vô nghĩa cho bằng giáo lý Kinh Thánh được dạy vì cớ lợi ích của chính nó. Lẽ thật tách rời cuộc sống không phải là lẽ thật trong ý nghĩa Thánh Kinh, nhưng là một cái gì đó khác hơn và là một cái gì đó thấp kém hơn. Thần học là một tập hợp các sự kiện liên quan đến Ðức Chúa Trời, con người và thế giới. Những sự kiện này có thể và thường được công bố như là những giá trị nội tại; và ở đó có một cái bẫy cho cả người dạy lẫn người nghe.

Kinh Thánh, giữa vòng những điều khác, là một cuốn sách của lẽ thật được bày tỏ. Tức là một số sự kiện nào đó được mặc khải mà không một tâm trí vô cùng lỗi lạc nào có thể khám phá. Chúng ta chỉ có thể hiểu được bản chất của những sự kiện này khi kinh nghiệm chúng. Chúng được giấu đằng sau một tấm màn; và cho đến khi có ai đó nói rằng họ được cảm thúc bởi Thánh Linh để đến và dở bỏ tấm màn đi, không một con người hay chết nào có thể biết đến chúng. Chúng ta gọi việc dở bỏ tấm màn vô thức khỏi những cái chưa được khám phá là sự khải thị thiêng liêng.

 

Tuy nhiên, Kinh Thánh còn hơn là một tuyển tập những sự kiện mãi cho đến nay chưa được biết đến về Ðức Chúa Trời, con người và vũ trụ. Nó là một cuốn sách của sự mời gọi nhiệt thành dựa trên những sự kiện đó. Phần lớn Kinh Thánh là một nỗ lực cấp bách nhằm thuyết phục con người thay đổi đường lối của mình và đưa đời sống của họ trở lại hòa thuận với ý muốn Ðức Chúa Trời như đã được viết trong những trang quý báu của nó.

 

Chẳng có người nào trở nên tốt hơn vì biết rằng từ ban đầu Ðức Chúa Trời đã dựng nên trời và đất. Ma quỷ cũng biết điều đó, A-háp và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt cũng thế. Chẳng có người nào trở nên tốt hơn khi biết rằng vì Ðức Chúa Trời quá yêu thương thế gian nên đã ban Con Một của Ngài xuống trần chịu chết vì sự cứu chuộc tội lỗi họ. Trong địa ngục, có hàng triệu người biết điều đó. Lẽ thật thần học hoàn toàn vô dụng cho đến khi nó được vâng theo. Mục đích đằng sau mọi giáo lý là để bảo vệ hành động đạo đức.

 Nhìn chung, điều đã bị bỏ qua chính là sự thật, như được chép trong Thánh Kinh Cơ Ðốc, đó là một điều mang tính đạo đức; nó không chỉ nhằm vào lý trí, mà còn nhằm vào ý chí con người nữa. Nó hướng chính mình đến toàn bộ con người và những đòi hỏi của nó không thể được hoàn thành chỉ bởi việc nắm bắt, thấu hiểu nó trong tâm trí mà thôi. Lẽ thật chiếm lấy pháo đài của lòng người và sẽ không được thỏa mãn cho đến khi nó chinh phục được mọi sự ở đó. Ý chí phải đến và quy phục dưới lưỡi gươm của lẽ thật. Ý chí phải đứng đó chú ý nhận những mệnh lệnh mà nó phải vui vẻ vâng phục. Thiếu điều này, bất cứ sự hiểu biết nào về lẽ thật Cơ Ðốc cũng không đủ và chỉ vô ích mà thôi.

Sự giải nghĩa Kinh Thánh mà không có sự áp dụng mang tính chất đạo đức sẽ chẳng gây nên sự đối kháng nào. Chỉ khi nào người nghe được làm cho hiểu rằng lẽ thật mâu thuẫn với lòng mình, khi đó sự chống đối xuất hiện. Chừng nào mà con người có thể nghe rằng lẽ thật chính thống đã tách rời khỏi đời sống, khi đó họ sẽ gia nhập và ủng hộ các Hội Thánh, các học viện mà không một lời phản đối nào. Lẽ thật chỉ là một bài hát hay, trở nên ngọt ngào bởi những cuộc nhóm họp dài hơi, dễ xúc động; và vì nó không đòi hỏi gì nhiều, chỉ vài đô la thôi, mà lại vừa được nghe nhạc hay, vừa có những tình bạn thú vị, và một cảm giác khỏe mạnh thoải mái, lẽ thật sẽ không gặp sự chống đối nào từ những tín đồ sùng đạo. Phần lớn điều đó được xem là Cơ Ðốc giáo Tân Ước, vốn chỉ nhỉnh hơn lẽ thật bị chống đối một chút, được làm cho ngọt dịu với bài hát và làm cho dễ chịu bởi trò giải trí tôn giáo.

Có lẽ không có phần nào khác trong Kinh Thánh có thể so sánh với những thư tín của Phao-lô khi nói đến việc tạo nên những vị thánh nhân tạo. Phi-e-rơ cảnh báo rằng những người dốt nát và những người không tin quyết sẽ xuyên tạc những điều Phao-lô viết và rồi tự chuốc lấy sự hư mất cho riêng mình (II Phi-e-rơ 3:16); và chúng ta chỉ cần viếng thăm một hội nghị Kinh Thánh nào đó, lắng nghe một vài bài thuyết trình thì sẽ biết được ông muốn nói gì. Một điều đáng lo ngại là những giáo lý của Phao-lô có thể được dạy với sự chính xác đến từng con chữ mà không khiến người nghe trở nên tốt hơn chút nào. Vị giáo sư có thể và thường dạy lẽ thật không khác gì nhồi nhét, bỏ mặc nó ở đó cho người nghe mà không tạo cho họ một nhân thức về bổn phận đạo đức nào cả.

Một lý do cho việc tách rời giữa lẽ thật và đời sống có lẽ là do thiếu sự soi sáng của Thánh Linh. Một nguyên nhân chắc chắn khác là người giáo viên không muốn gây rắc rối cho chính mình. Bất cứ người nào có khả năng giảng dạy hợp lý đều có thể gần gũi với hội chúng bình thường nếu ông ta chỉ việc “cho họ ăn” và để họ yên. Ban phát nhiều lẽ thật khách quan và không bao giờ ám chỉ rằng họ sai thì mọi chuyện sẽ ổn, họ sẽ thỏa lòng lắm.

Trái lại, người nào giảng dạy lẽ thật và áp dụng nó vào đời sống của người nghe sẽ cảm biết móng vuốt và gai nhọn. Ông ta sẽ sống rất khó khăn, nhưng là một đời sống vinh hiển. Nguyện Chúa sẽ dấy lên nhiều những tiên tri như vậy. Hội Thánh hết sức cần họ.

A. W. Tozer

 

Share This:

A. W. Tozer: Sự Phân Rẽ Không Phải Lúc Nào Cũng Xấu

2,256 views

A. W. Toze

Khi nào thì hiệp nhất và khi nào thì phân rẽ, đó là vấn đề; và một câu trả lời đúng đòi hỏi sự khôn ngoan của một Sa-lô-môn. 

Hầu hết mọi người đều giải quyết vấn đề theo quy luật tự nhiên, đó là Mọi sự hiệp nhất thì cho là tốt lành và mọi sự chia rẽ thì cho là xấu xa. Nếu quyết định như thế thì là thật là dễ dàng cho cuộc sống của chúng ta có phải không! Nhưng khi nhìn rõ ràng vào phương pháp đối diện với vấn đề này một cách quá đơn giản như thế thì chúng ta đã bỏ qua những bài học lịch sử và xem nhẹ những định luật thuộc linh sâu thẳm nhất mà con cái Chúa phải nhờ đó mà tồn tại.

Nếu hiệp một là bản tánh của những người tốt và chia rẽ là bản tánh của những người xấu thì điều đó sẽ đơn giản hóa vấn đề cho chúng ta. Nếu Đức Chúa Trời luôn luôn hiệp nhất còn ma quỷ thì luôn luôn chia rẽ, thì cuộc hành trình tâm linh của chúng ta thật là dễ dàng trong thế giới hỗn độn này.

Nhưng mọi sự đâu phải như thế.

Phân rẽ cái cần phải phân rẽ và hiệp nhất cái cần phải hiệp nhất mới là khôn ngoan. 

Sự hiệp nhất của những yếu tố không giống nhau chẳng bao giờ là tốt cả, cho dù điều đó có thể làm được, và sự phân rẽ tùy tiện những yếu tố giống nhau cũng vậy. Ðiều này đúng trong mọi lãnh vực đạo đức, tôn giáo, chính trị hay khoa học.

Công việc phân rẽ đầu tiên mà Đức Chúa Trời thực hiện là Ngài đã phân rẽ sự sáng ra cùng bóng tối. Sự phân rẽ này đặt một hướng đi cho tất cả các mối liên hệ của Đức Chúa Trời trong tự nhiên và trong ân điển. Ánh sáng và bóng tối là hai thứ hoàn toàn xung khắc với nhau; Sự hòa hợp ánh sáng và bóng tối là một việc hoàn toàn không thể làm được và nếu có làm được thì kết quả cũng chẳng được điều gì, ngoại trừ sự mập mờ, và tối tăm.

Trong thế giới hiện đại rất khó cho người đứng ngoài cuộc có thể kết luận hay là phân ranh giới những công việc của người trong cuộc. Vì loài người đã sa ngã và tội lỗi đã mang đến sự hỗn độn hoàn toàn trong thế giới này, cho nên lúa mì mới mọc chung với cỏ lùng, đàn cừu mới đi chung với lũ dê, các trụ sở của những điều công chính và không công chính nằm cạnh nhau trong một ngôi nhà lầu, hội truyền giáo nằm ngay bên cạnh quán rượu…v.v..

Nhưng những điều như thế không thể tồn tại muôn đời tại vì ngày và giờ của Chúa đang đến gần khi bầy chiên sẽ được phân rẽ ra khỏi lũ dê, cỏ lùng sẽ bị loại ra khỏi ruộng lúa mì. Đức Chúa Trời một lần nữa sẽ phân rẽ ánh sáng và bóng tối, và rồi mọi sự sẽ được sáng tỏ. Cỏ lùng sẽ bị cho vào lửa với cỏ lùng và lúa mì sẽ được cho vào vựa với lúa mì. Sự mờ tối sẽ như lớp sương mờ tan mất dưới ánh nắng, và rồi mọi công việc sẽ được tỏ tường. Lúc đó người ta sẽ thấy được Địa ngục hiện ra nguyên hình mặc dù bề ngoài đã được tô lên một lớp phấn Thiên Ðàng. Thiên đàng cũng sẽ hiện ra như một mái ấm gia đình cho tất cả những ai có bản chất của Đức Chúa Trời có Một và Thật.

Hiện nay chúng ta đang kiên nhẫn để chờ đợi những giây phút đó. Trong khi chờ đợi, thì mỗi người trong chúng ta và Hội Thánh, mặc dù ở bất kỳ nơi đâu trong xã hội loài người, cũng phải liên tục đặt câu hỏi là: Chúng ta sẽ hiệp nhất với cái gì và phân rẽ với cái gì?

Hãy nêu ra vài câu hỏi sau đây….Khi lúa mì mọc trong cánh đồng với cỏ lùng thì cả hai có giao phấn với nhau hay không? Bầy chiên gặm cỏ gần lũ dê, nhưng chúng có tìm cách giao phối với nhau hay không? Điều bất chính và điều công chính đều được hưởng mưa nắng như nhau, nhưng chúng có quên đi những sự khác biệt đạo đức bên trong và “kết thông gia” với nhau hay không?

Mục tiêu kêu gọi sự hiệp nhất là vì lợi ích của sự hiệp nhất, và con người sẽ làm mọi việc cho sự lợi ích đó. Vì thế cho nên sự hiệp nhất được thu hút một cách mãnh liệt đến nỗi không có điều gì là quá cao để thay đổi được nó và không có điều gì quan trọng đủ để tách rời nó ra. Lẽ thật bị giết chết vì sự hiệp một để chiêu đãi một buổi đại tiệc ăn mừng hôn phối của thiên đàng và địa ngục, và tất cả chỉ vì muốn sinh ra một quan niệm về sự hiệp nhất vốn không hề có trong Lời của Đức Chúa Trời.

Một Hội Thánh được Thánh Linh soi sáng sẽ không liên hệ vào chuyện này. Trong một thế giới sa ngã giống như của chúng ta, sự hiệp nhất không phải là một kho báu có thể mua được với cái giá thỏa hiệp. Lòng trung thành với Đức Chúa Trời, sự thành tín với lẽ thật và sự gìn giữ một lương tâm tốt là những món nữ trang còn quý giá hơn vàng của Ô-phia, hay đá quý từ trong mỏ. Vì những món trang sức này, con người đã phải chịu sự mất mát của cải, hình phạt tù đày và ngay cả cái chết. Ðối với họ, ngay cả trong những thời điểm hiện tại, đằng sau các bức màn, những người theo chân Đấng Christ đã trả xong cái giá của sự tận hiến và thầm lặng chết đi, cái thế giới to lớn này không hề biết đến, nhưng chính Đức Chúa Trời biết và họ trở nên gần gũi với tấm lòng của Cha mình. Vào một ngày mà mọi sự bí mật của tất cả những linh hồn sẽ được tiết lộ, những linh hồn này sẽ nhận lãnh những công việc đã làm trong thể xác. Ðây là những con cái Chúa đã từng bị ruồng bỏ, nhưng lúc ấy sẽ thông minh hơn những người theo đuổi sự hiệp nhất tôn giáo vô nghĩa, những người không có can đảm đứng lên chống lại xu hướng đang thuận hành, và những người kêu gọi tình anh em hoà hiệp chỉ vì đó là thời điểm để trở nên nổi tiếng. 

“Một cây làm chẳng lên non..” là câu nói trên đầu môi của những nhà lãnh đạo chính trị nham hiểm, nhưng Sa-tan cũng biết cách làm thế nào để lừa bịp con dân Chúa bằng câu “Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”. Satan, nó muốn bắt đầu chinh phục thế giới này bằng sự kêu gọi hiệp một bằng những lời khơi gợi lòng tự hào dân tộc, hay những lời cổ võ báo thù một cái gì đó sai trái, kẻ mị dân thành công trong việc thống nhất quần chúng đằng sau mình. Sau đó, Satan sẽ điều khiển quân đội và đánh vào cơ quan lập pháp cho đến khi họ phải đầu hàng và thống nhất toàn diện mọi mặt chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng đó là sự thống nhất của cái chuồng nhốt gia súc vào một trại tập trung để chuẩn bị đưa đến sự hủy diệt. Chúng ta đã thấy điều này xảy ra vài lần trong thế kỷ 20, và thế giới sẽ thấy nó ít nhất một lần nữa khi các quốc gia trên thế giới hiệp lại với nhau dưới tay chỉ huy của Anti-christ.

Khi một đàn cừu đang bối rối đi đến bờ vực thẩm, thì một con cừu chỉ có thể bảo tồn sự sống của nó bằng cách tách ra khỏi bầy. Sự hiệp nhất hoàn hảo trong thời điểm đó đồng nghĩa với sự hủy diệt hoàn toàn.

Sức mạnh nằm bên trong sự hiệp nhất của những sự việc giống nhau, và cũng nằm bên trong sự phân rẽ của những sự việc khác nhau.

Có lẽ những gì chúng ta cần trong Hội Thánh ngày nay không phải là sự hiệp nhất bèn là một sự phân rẽ thông minh và can đảm. Mọi người đều mong ước sự hòa bình, nhưng phấn hưng chỉ có thể đến sau lưỡi gươm của Chúa Giê-xu Christ thấu đến hồn, linh, cốt, tủy.

 

Share This:

Những giấc mơ và khải tượng

2,055 views

Người Việt Về Nguồn 2006
Kiêng ăn, cầu thay cho Hội Thánh, dân tộc, và quê hương Việt Nam

Lời chứng: Những giấc mơ và khải tượng
Diễn giả: Huỳnh Christian Priscilla

Nhấp nút trái của chuột vào | đây | để nghe bài giảng
Nhấp nút phải của chuột vào | đây | rồi chọn [Save Target As…]
để lưu bài giảng trên computer của bạn

Nhấp nút trái của chuột vào | đây | để nghe các bài giảng khác

 

 

 

 

Share This:

A. W. Tozer: Lời Cầu Nguyện Của Một Tiên Tri Nhỏ

2,295 views

Tác Giả: A. W. Tozer
 

Lời cầu nguyện này của một người được kêu gọi để làm chứng nhân cho các nước.

Đây là những gì ông nói với Chúa của mình vào ngày ông được kêu gọi. Sau khi các trưởng lão và các người chăn cầu nguyện rồi đặt tay lên ông, ông trở về gặp gỡ Cứu Chúa của mình trong nơi kín nhiệm và trong sự tĩnh lặng, xa khỏi những nơi mà các anh em của ông có thể tìm thấy ông.

Ông thưa với Chúa: Lạy Chúa, con đã nghe tiếng Ngài và con sợ hãi. Ngài đã kêu gọi con vào một chức vụ đáng sợ trong hầm mộ và giờ phút hiểm nghèo. Ngài sắp sửa lay chuyển tất cả các nước, cả trái đất cùng toàn thể thiên đàng, đến độ những thứ không thể lay chuyển được cũng phải đổ xuống. Ôi Chúa, là Thiên Chúa, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, là Chúa của con, Ngài đã đoái thương và chọn con làm tôi tớ Ngài. Không một người nào có thể lấy được vinh dự này ngoại trừ người đã được Ngài kêu gọi như A-rôn. Ngài đã khiến con trở thành người mang sứ điệp của Ngài đến cho những kẻ cứng lòng mà không chịu lắng nghe. Họ đã chối bỏ Ngài, vị Chủ Tể Oai Quyền, và con cũng không mong đợi họ sẽ chấp nhận con, một tôi tớ.

Lạy Chúa của con, con sẽ không lãng phí thời gian kể lể về những yếu đuối của mình cũng như sự thiếu năng lực để hoàn thành công việc. Trách nhiệm đó không phải của con, bèn là của Ngài. Ngài đã phán, “Ta đã biết ngươi rồi – ta đã biệt riêng ngươi – lập ngươi làm kẻ tiên tri cho các nước,” và Ngài cũng đã phán, “Ngươi sẽ đi khắp nơi nào ta sai ngươi đi, và sẽ nói mọi điều ta truyền cho nói.” Con là ai mà dám tranh luận với Ngài hay nghi ngờ sự lựa chọn thánh của Ngài? Quyết định không phải của con, bèn là của Ngài. Xin ý Cha được nên, Chúa ôi! Ý Cha, chứ không phải ý con, được nên. Phải, con biết rõ Ngài là Đức Chúa Trời của các đấng tiên và sứ đồ, và hễ khi nào con tôn cao Ngài thì Ngài lại nhắc con lên. Vì thế xin hãy giúp con giữ được lời hứa trang nghiêm này, rằng con sẽ tôn cao Ngài suốt cả cuộc đời và công việc tương lai của con, bất luận khi con được hay mất, sống hay chết, và xin hãy giữ lời hứa đó nguyên vẹn chừng nào con còn sống.

Đã đến lúc rồi Cha ơi, đến lúc Ngài hành động, vì kẻ thù đã xâm lấn vào các đồng cỏ của Ngài, và bầy chiên thì tan lạc, tẻ tách khắp nơi. Những kẻ chăn chiên trá hình có nhiều vô số, họ mặc kệ các mối hiểm họa và mỉm cười trước cơn nguy khốn đang vây quanh bầy của Ngài. Những con chiên bị đánh lừa bởi những kẻ làm thuê này và bước đi theo họ một cách rất trung thành trong khi lũ sói đang đến gần để giết chóc và hủy diệt. Con xin Ngài ban cho con đôi mắt tinh xảo để phát giác được sự hiện diện của kẻ thù; hãy ban cho con sự thông sáng để thấy và can đảm thuật lại những gì mình thấy cách thành tín. Hãy khiến cho giọng con giống như tiếng của chính Ngài để những con chiên đang bệnh sẽ nhận ra và bước theo Ngài.

Lạy Chúa Jêsus, con đến với Ngài và xin Ngài chuẩn bị phần thuộc linh cho con. Xin hãy đặt tay lên con. Hãy thánh hóa con với dầu của Nhà Tiên Tri Tân Ước. Hãy ngăn chặn để con không trở thành người sao chép tôn giáo và vì thế đánh mất sự kêu gọi tiên tri. Hãy cứu con khỏi mọi sự rủa sả vốn nằm đó che mất gương mặt của một người chăn hiện đại, lời nguyền của sự thỏa hiệp, sự bắt chước, của trình độ nghiệp vụ. Xin hãy cứu con khỏi sai lầm của việc đánh giá một Hội Thánh bằng độ lớn, sự nổi tiếng của Hội hay số dâng hàng năm. Xin hãy giúp con nhớ rằng con là một nhà tiên tri, chứ không phải một người sáng lập ra cái gì, cũng không phải một nhà quản lý tôn giáo, bèn là một tiên tri. Xin đừng bao giờ để con trở thành nô lệ của đám đông. Hãy chữa lành linh hồn con khỏi những tham vọng xác thịt và giải phóng con khỏi ham muốn nổi danh. Hãy cứu con khỏi sự ràng buộc vào vật chất. Xin đừng để con lãng phí các ngày của mình lăng xăng trong và quanh nhà. Hãy đặt để lòng kính sợ Ngài lên con, Chúa ôi, và thúc đẩy con vào sự cầu nguyện, nơi mà con có thể vật lộn với sự thống trị, những sức mạnh và các vua cầm quyền thế giới tối tăm này. Xin hãy giải phóng con khỏi thói ham ăn nhiều và ngủ dậy trễ. Hãy dạy con biết tự kỷ luật mình để trở thành một người lính giỏi của Đấng Christ.

Con chấp nhận công việc nặng nhọc và phần thưởng ít ỏi trong cuộc đời này. Con không cầu xin một chỗ dễ dàng nào cả. Con sẽ cố nhắm mắt trước những con đường rộng lớn có thể khiến cuộc sống dễ dàng hơn. Nếu những người khác tìm kiếm con đường bằng phẳng, con sẽ cố tìm kiếm và đi theo con đường chông gai mà không đoán xét họ quá khắc nghiệt. Con thực sự chờ đón sự chống đối và sẽ cố đương đầu với nó cách thầm lặng khi nó đến. Hay nếu, như thỉnh thoảng các tôi tớ Ngài vẫn rơi vào, khi nào đó con phải nhận những món quà từ dân sự tốt bụng của Ngài, xin hãy đứng bên cạnh con và cứu con khỏi ảnh hưởng xấu rất thường hay theo sau. Xin hãy dạy con sử dụng bất cứ gì con nhận lãnh được trong các trường hợp đó để con sẽ không làm tổn thương linh hồn mình hay làm giảm bớt sức mạnh thuộc linh của con. Và nếu trong ý muốn cho phép của Ngài, vinh dự đến với con từ Hội Thánh Ngài, thì xin đừng để con quên rằng ngay chính trong những giờ đó con không đáng giá chút nào với ân điển Ngài, và rằng nếu người khác biết con tường tận như con biết chính mình thì họ sẽ rút lại những vinh dự đó hay ban tặng cho những người khác xứng đáng nhận lãnh chúng hơn con.
Và bây giờ, hỡi Chúa của cả trời và đất, con hiến dâng trọn vẹn những ngày còn lại của con trên đất này cho Ngài; xin hãy cho chúng được nhiều hay ít, tùy vào ý muốn Ngài. Hãy để con đứng trước những người vĩ đại hay các người chăn hoặc trước người nghèo và thấp hèn; lựa chọn đó không phải của con, và xin đừng để con gây ảnh hưởng lên nó khi mà con có thể. Con là đầy tớ Ngài để làm theo ý muốn Ngài. Và ý muốn đó đối với con ngọt ngào hơn cả địa vị hay sự giàu sang, hoặc sự nổi tiếng và con lựa chọn nó trên hết mọi thứ trên đất cũng như trên thiên đàng.

Dầu con đã được lựa chọn thuộc về Ngài và được tôn cao bởi sự kêu gọi cao cả và thánh khiết, xin đừng bao giờ để cho con quên rằng con chỉ là một con người của đất cát và tro bụi, một con người với tất cả những thiếu sót và đam mê tự nhiên vốn đã đang tràn lan khắp nơi trong vòng chủng tộc loài người. Vì thế, con cầu xin Ngài, Đấng Cứu Chuộc con, hãy giải cứu con khỏi chính mình và khỏi tất cả những tổn thương con gây ra cho chính mình khi cố gắng trở thành một nguồn phước cho người khác. Hãy đầy dẫy con bởi quyền năng của Thánh Linh, và con sẽ ra đi với sức mạnh của Ngài mà nói về sự công bình của Ngài, và chỉ mình Ngài mà thôi. Con sẽ rao giảng khắp nơi sứ điệp giải cứu của tình yêu thương trong khi những sức mạnh tự nhiên của con tồn tại.

Rồi thì, ôi Chúa của con, khi con già yếu, kiệt sức và quá mệt mỏi để tiếp tục, xin hãy chuẩn bị cho con một chỗ ở trên nơi cao kia và hãy khiến con được ở chung nhóm với các thánh Ngài trong sự vinh hiển đời đời vô cùng. Amen.

 

Share This:

Cây cân giả

2,086 views

1. Bổn phận

 

– Cha mẹ & con cái:

 

Cha mẹ có bổn phận nuôi, dạy, cầu thay cho con cái.

 

Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo; Dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó.

(Châm ngôn 22:6)

 

Chớ tha sửa phạt trẻ thơ; Dầu đánh nó bằng roi vọt, nó chẳng chết đâu. Khi con đánh nó bằng roi vọt.

(Châm ngôn 23:13)

 

Sự ngu dại vốn buộc vào lòng con trẻ; Song roi răn phạt sẽ làm cho sự ấy lìa xa nó.

(Châm ngôn 22:15)

 

Người nào kiêng roi vọt ghét con trai mình; Song ai thương con ắt cần lo sửa trị nó.

(Châm ngôn 13:24)

 

Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con ta. Nếu nó phạm tội ác, tất ta sẽ sửa phạt nó bằng roi và thương vít loài người.

(2 Sa-mu-ên 7:14)

 

Con cái có bổn phận tôn kính, vâng phục, và chăm sóc cha mẹ (đã trình bày trong bài giảng Hãy hiếu kính cha mẹ).

 

– Vợ & chồng:

 

Chồng phải yêu thương vợ như Đấng Christ yêu thương và hy sinh cho Hội Thánh. Vợ phải vâng phục chồng như Hội Thánh vâng phục Đấng Christ.

 

Chồng phải làm hết bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền tự chủ về thân mình, bèn là chồng; chồng cũng vậy, không có quyền tự chủ về thân mình bèn là vợ.

(1 Cô-rinh-tô 7:3-4)

 

Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội thánh, Hội thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Cứu Chúa của Hội thánh.

Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh.

(Ê-phê-sô 5:23-25)

 

– Người chăn & chiên:

 

Người chăn hết lòng chăm sóc bầy chiên, làm gương cho bầy chiên và vì chiên mà phó sự sống mình. Chiên chia xẻ tài sản vật chất của mình cho người chăn.

 

Hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em; làm việc đó chẳng phải bởi ép tình, bèn là bởi vui lòng, chẳng phải vì lợi dơ bẩn, bèn là hết lòng mà làm, chẳng phải quản trị phần trách nhậm chia cho anh em, song để làm gương tốt cho cả bầy.

(1 Phi-e-rơ 5:2-3)

 

Người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình.

(Giăng 10:11)

 

Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy đó.

(Ga-la-ti 6:6)

 

2. Trách nhiệm

 

3. Tình cảm

 

Dùng cân gian và trái cân giả với Đức Chúa Trời

 

Ta có những cân gian và trái cân giả dối trong bao, thì Ta sao được tinh sạch?

(Mi-chê 6:11)

 

Con dân của Chúa cũng có thói quen sử dụng cân gian và trái cân giả với Chúa trong sự:

 

– dâng hiến

 

Mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra, không phải phàn nàn hay vì ép uổng; vì Đức Chúa Trời yêu kẻ thí của cách vui lòng.

(2 Cô-rinh-tô 9:7)

 

Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.

(Rô-ma 12:1)

– phục vụ

 

Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.

(1 Cô-rinh-tô 15:58)

 

Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật.

(2 Ti-mô-thê 2:15)

 

Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta,

(Cô-lô-se 3:23)

 

Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy. Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa.

(Ma-thi-ơ 25:40-45)

 

 

– hứa nguyện

 

Khi một người nào có hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va, hoặc phát thề buộc lấy lòng mình phải giữ một sự gì, thì chớ nên thất tín. Mọi lời ra khỏi miệng người, người phải làm theo.

(Dân Số Ký 30:3)

 

Khi ngươi hứa nguyện cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, thì chớ trì hoãn làm cho xong; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi hẳn sẽ đòi sự hoàn nguyện ấy; bằng chẳng làm cho xong, ngươi sẽ mang lấy tội. Nhưng nếu ngươi không hứa nguyện, thì không phạm tội. Khi môi ngươi đã hứa cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi một sự hứa nguyện lạc ý, thì khá cẩn thận làm trọn lời ra khỏi miệng mình đó.

(Phục Truyền Luật Lệ Ký 23:21-23)

 

Hãy dâng sự cảm tạ làm của lễ cho Đức Chúa Trời, Và trả sự hứa nguyện ngươi cho Đấng Chí cao.

(Thi Thiên 50:14)

 

Kết luận

 

Cách thức chúng ta cư xử với ngưòi khác và với Chúa sẽ được Đức Chúa Trời báo trả xứng đáng.

 

Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy.
(Ga-la-ti 6:7).

 

Mắt Ta chẳng đoái tiếc ngươi, Ta chẳng thương xót ngươi đâu. Ta sẽ tùy theo đường lối ngươi báo trả ngươi, sự gớm ghiếc ngươi sẽ ở giữa ngươi. Các ngươi sẽ biết rằng chính Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng đánh phạt.

(Ê-xê-chi-ên 7:9)

Share This:

A. W. Tozer: Chúa Phán với Người Quan Tâm

2,363 views

A. W. Tozer

Thánh Kinh được viết trong nước mắt và đào sâu vào đó sẽ tìm được những kho báu tuyệt diệu nhất. Đức Chúa Trời không có gì để nói với con người phù phiếm.

Chính Môi-se, một người đang run rẩy, được nghe Đức Chúa Trời phán trên núi, và cũng chính ông là người sau này đã giải cứu cả đất nước khi ông sấp mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời với một của lễ để xin Ngài xóa tên ông khỏi sách của Ngài vì lợi ích của dân I-sơ-ra-ên. Lần kiêng ăn cầu nguyện dài ngày của Đa-ni-ên đã đưa Gáp-ri-ên từ thiên đàng đến để nói với ông về bí mật của các thế kỷ. Khi Giăng, một người rất được yêu mến, khóc dầm dề vì không có ai xứng đáng để mở cuốn sách có bảy ấn, thì một trong số những trưởng lão đã an ủi ông bằng một tin vui rằng Sư Tử của chi phái Giu-đa đã chiến thắng.

Những người viết thánh thi thường viết trong nước mắt, các nhà tiên tri khó có thể che đậy lòng phiền muộn của mình, và Sứ Đồ Phao-lô trong một lá thư đầy sự vui mừng gởi cho người Phi-líp đã đổ nước mắt khi ông nghĩ đến những người là kẻ thù của thập giá Đấng Christ và kết cuộc của họ là sự hủy diệt. Những nhà lãnh đạo Cơ-đốc đã làm rung chuyển thế giới là những người có lòng sầu não, những người mà lời chứng của họ cho cả nhân loại xuất phát từ cõi lòng phiền muộn, nặng gánh lo âu: Không hề có chút sức mạnh nào trong bản thân những giọt nước mắt, nhưng những giọt nước mắt và sức mạnh nằm sát cạnh nhau trong Hội Thánh đầu tiên.

Thật không phải là một ý tưởng đáng để yên lòng khi nhận ra rằng các tác phẩm của những nhà tiên tri mòn mỏi vì buồn phiền thường được nghiền ngẫm bởi những người thích thú chỉ vì tò mò và những người chẳng bao giờ đổ một giọt nước mắt nào vì những tai ương của thế giới này. Họ có sự tò mò về thời gian biểu của những sự kiện trong tương lai, mà quên rằng mục đích lớn của lời tiên tri trong Thánh Kinh là để chuẩn bị chúng ta về phương diện đạo đức cũng như thuộc linh cho thì giờ sắp đến.

Ngày nay, giáo lý về sự trở lại của Đấng Christ đã bị xao lãng, ít nhất là trên lục địa Bắc Mỹ, và như những gì tôi nhận thấy, khiến cho trong hàng ngũ các Cơ-đốc nhân tin vào Thánh Kinh không còn một chút sức mạnh nào. Về vấn đề này, theo như điều tôi tin, có thể có vài yếu tố góp phần, nhưng cái chủ yếu là lẽ thật của những lời tiên tri đã phải chịu đựng sự rủi ro giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, khi mà những con người không có nước mắt đảm trách việc hướng dẫn chúng ta vào các tác phẩm của những nhà tiên tri thánh chứa chan nước mắt. Những đám đông khổng lồ và những của dâng to lớn bởi đó mà ra cho đến khi thực tế chứng minh rằng các giáo viên đã sai lầm ở quá nhiều điểm; rồi thì phản ứng nổ ra và lời tiên tri mất đi thiện ý nơi mọi người. Đây là một cú lừa tinh xảo của ma quỷ: nó thực hiện quá hiệu quả. Chúng ta nên và phải học biết rằng chúng ta không thể luận giải những điều thánh khiết một cách bất cẩn mà không vướng phải những hậu quả nghiêm trọng.

Những con người không có nước mắt cũng đã gây nên mối nguy hại khôn tả cho chúng ta trong một lĩnh vực khác: cầu nguyện cho người bệnh. Luôn luôn có những con người kính sợ, nghiêm túc khi cảm biết nhiệm vụ thánh khiết của họ là cầu nguyện cho người bệnh để họ được chữa lành theo ý muốn Đức Chúa Trời. Người ta nói về Spurgeon rằng những lời cầu nguyện của ông đã vực dậy nhiều người bệnh hơn bất cứ sự chữa trị nào của các bác sĩ ở Luân Đôn. Khi những người lãnh đạo không có nước mắt tóm lấy giáo lý, nó đã bị biến thành một cái vợt sinh lợi. Những con người dịu dàng, đầy sức thuyết phục đã dùng các phương pháp tối ưu của nghệ thuật bán hàng để tạo nên những của cải ấn tượng từ các chiến dịch của họ. Những nông trại lớn và những món đầu tư tài chính khổng lồ của họ chứng minh họ đã thành công như thế nào trong việc tách rời người bệnh và tiền bạc của mình. Và điều này được làm trong danh của Đấng từng trải sự buồn bực, Đấng không có chỗ gối đầu!

Cái gì được thực hiện mà không có tấm lòng là cái được thực hiện trong bóng tối bất luận việc nó có vẻ phù hợp với Thánh Kinh như thế nào đi nữa. Bởi luật đền bù công bình, tấm lòng của những người hay đùa giỡn với tôn giáo sẽ bị hủy diệt trong sự sáng chói lọi của lẽ thật mà anh ta chạm vào. Những con mắt không giọt lệ cuối cùng sẽ bị mù vì chính ánh sáng mà chúng nhìn vào. Chúng ta, những người thuộc về các Hội Thánh không mang tính nghi lễ, có khuynh hướng nhìn vào những Hội Thánh tiến hành một hình thức thờ phượng đã được cẩn thận lên chương trình với một thái độ khinh khỉnh, và chắc chắn phải có một cái gì đó tốt bên trong những buổi thờ phượng như thế, mà điều này có ít hoặc không có chút ý nghĩa nào đối với một người tham dự bình thường – điều này không phải là do nó được lên chương trình cẩn thận mà là vì chính bản chất của những người tham dự bình thường. Nhưng tôi đã quan sát và thấy rằng những bài giảng ứng khẩu quen thuộc của chúng ta, được nhà lãnh đạo làm dàn ý 20 phút trước đó, thường có khuynh hướng đi theo một trật tự rời rạc và mệt mỏi, gần như được tiêu chuẩn hóa rất thành công. Ít nhất những bài giảng mang tính lễ nghi cũng đẹp vậy; còn của chúng ta thì thường là xấu xí. Những bài giảng của họ đã được cẩn thận vạch ra từ hàng thế kỷ để nắm bắt cái vẻ đẹp càng nhiều càng tốt, và để duy trì một tinh thần kính sợ giữa vòng những người thờ phượng. Còn của chúng ta thường là những bài giảng tạm bợ, ứng khẩu, không có gì đáng lưu tâm. Cái gọi là quyền tự do thường không tự do chút nào, mà thay vào đó là tính lười biếng cẩu thả.

Lý thuyết là ở chỗ cho rằng nếu buổi nhóm không có chương trình thì Thánh Linh sẽ tự do hành động, và điều này là thật nếu tất cả những người thờ phượng đều là những người kính sợ Chúa và đầy dẫy Thánh Linh. Nhưng hầu hết đều không có trật tự, cũng chẳng có Thánh Linh, buổi nhóm chỉ là một buổi cầu nguyện thường lệ, ngoại trừ một số thay đổi nhỏ, chúng giống như nhau từ tuần này sang tuần khác, với một số ít bài hát mở đầu cũng không có gì nhiều, vả lại, từ lâu lắm rồi, nó đã mất đi tất cả mọi ý nghĩa bởi sự lập lại vô nghĩa.Trong phần lớn những buổi nhóm của chúng ta, hiếm khi có dấu hiệu của một ý tưởng tôn kính, không có biểu hiện của sự hiệp nhất trong Thân Thể, chỉ có chút ít cảm giác về Sự Hiện Diện Thánh, không có giây phút nào yên tĩnh, không có tính trang nghiêm, không có điều kỳ diệu, cũng không có sự kính sợ thánh. Nhưng thường lại có hoặc một người uể oải hay một người hoạt bát với những câu bông đùa bất khiết lên hướng dẫn hát, cũng như một trưởng ban nào đó lên thông báo từng “con số” cùng với những tiếng sột soạt phát ra từ cái máy tăng âm cũ kỹ trong một nỗ lực để gắn liền mọi thứ lại với nhau.

Cả gia đình Cơ Đốc đang cố gắng một cách tuyệt vọng trong nhu cầu khôi phục lại lòng ăn năn, khiêm nhường và nước mắt. Xin Chúa sớm gởi chúng đến.

A.W. Tozer

 

Share This:

Hãy giữ kẻo ngã

2,167 views

Những lý do khiến cho bị ngã

1. Yêu mến thế gian và những sự thuộc về thế gian

– Yêu mến thế gian
– Yêu người thân hơn yêu Chúa
– Yêu mến tội lỗi

Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy. Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra. Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời.
(1 Giăng 2:15-17)

2. Nghi ngờ

– Nghi ngờ sự chân thật của lời Chúa
– Nghi ngờ sự thành tín của Chúa
– Nghi ngờ quyền năng của Chúa

Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.
(Hêbơrơ 11:6)

3. Kiêu ngạo

– Xem mình là tôn trọng hơn người khác
– Xem mình là thánh khiết hơn người khác
– Xem mình là hiểu biết hơn người khác

Phàm ai có lòng kiêu ngạo lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va; Quả thật nó sẽ chẳng được khỏi bị phạt.
(Châm ngôn 16:5)

Kết luận

Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời.
(Galati 6:7-8)

Share This:

Khung cửa hẹp

2,269 views

1. Cửa rộng

 

Cửa rộng thường liên kết với đường rộng. Đường rộng thì dễ đi, cửa rộng thì dễ vào cho nên có nhiều người bước đi trên đường rộng để vào cửa rộng. Người ta có thể mang theo tất cả những gì mình ưa thích để đi trên đường rộng và vào cửa rộng.

 

Nhưng "cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất": "Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết." (Châm Ngôn 14:12).

 

Đường rộng tức là lối sống theo sự khôn ngoan của đời này, được trình bày qua các chủ nghĩa, triết lý, tôn giáo… Cửa rộng tức là cửa của hỏa ngục, cửa của sự chết!

 

2. Cửa hẹp

 

Cửa hẹp và đường chật đương nhiên là khó đi và khó vào. Người đi trên đường chật và vào cửa hẹp phải bỏ hết những gì có thể làm cản trở hành trình của mình. Rất ít người đi trên đường chật và vào cửa hẹp, bởi vì phải hết lòng tìm kiếm thì mới thấy được đường chật dẫn đến cửa hẹp: "Nhưng trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài." (Ma-thi-ơ 6:33).

 

"Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.": Tại đó sẽ có một đường cái, và một lối gọi là đường thánh. Kẻ nào ô uế sẽ không được đi qua; song nó sẽ dành cho những người được chuộc. Ai đi trong đường đó, dầu khờ dại cũng không lầm lạc. Trên đường đó không có sư tử, không có một thú dữ nào lên; chẳng ai gặp nó ở đó. Song những kẻ được chuộc sẽ bước đi đường ấy." (Ê-sai 35:8-9).

 

Đường chật tức là Đấng Christ, dẫn đến Đức Chúa Cha, là sự sống đời đời: "Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống, chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha" (Giăng 14:6). Cửa hẹp cũng chính là Đấng Christ: "Ta là cái cửa: nếu ai bởi Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi." (Giăng 10:9).

 

 

3. Điều kiện để vào cửa hẹp

 

– liều mình

– vác thập tự giá

 

"Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo Ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta." (Ma-thi-ơ 16:24, Mác 8:34).

 

Kết luận

 

"Hãy gắng sức vào cửa hẹp, vì, Ta nói cùng các ngươi, nhiều người sẽ tìm cách vào mà không vào được." (Lu-ca 13:24).

 

Gắng sức ở đây có nghĩa là thoát bỏ tất cả những gì thuộc về thế gian này làm vương vấn chúng ta, khiến chúng ta không thể bước đi trên con đường chật, không thể vào khung cửa hẹp: "Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta." (Hê-bơ-rơ 12:1).

Share This:

A. W. Tozer: Thập Giá Cũ và Mới

2,341 views

A. W. Tozer

Trong thời đại ngày nay đã có một thập giá mới xuất hiện cách âm thầm, không ai nhận biết trong vòng những nhà truyền giáo. Nó có vẻ vẫn giống thập giá cũ nhưng thực chất lại khác vì chỉ giống ở vỏ bề ngoài nhưng khác về bản chất sâu xa bên trong.

Thập giá mới này đã cho ra một triết lý mới của đời sống Cơ-đốc nhân, và triết lý mới đó dẫn tới một cách truyền giảng mới, nghĩa là giảng lời Chúa theo kiểu mới và nhóm lại với nhau theo kiểu mới. Ngôn ngữ để truyền giảng Phúc Âm mới này xem chừng vẫn là ngôn ngữ cũ nhưng nội dung của nó đã thay đổi và trọng tâm cũng khác xưa.

Thập giá cũ chẳng có gì chung với thế gian. Nó chấm dứt mọi điều thuộc về xác thịt kiêu ngạo của A-đam. Nó thi hành bản án đã tuyên của bộ luật ban hành tại Si-na-i. Còn thập giá mới không chống đối loài người; mà ngược lại, nó là một người bạn thân thiện và, nếu được hiểu đúng, nó là cội nguồn của vô số trò vui “sạch sẽ” cũng như những sở thích “vô tội.” Nó để cho A-đam sống mà không can thiệp chi cả. Ðộng cơ sống của anh ta không hề thay đổi; anh ta vẫn sống vì sở thích riêng của mình, chỉ có điều giờ đây anh thấy vui trong việc hát hợp xướng và xem những phim tôn giáo thay vì hát những bài hát xấu xa và nốc rượu mạnh. Tóm lại, cuộc đời vẫn lấy vui chơi thỏa thích là chính, mặc dù niềm vui cao cấp hơn về mặt đạo đức hay nói đúng hơn là về mặt trí tuệ.

Thập giá mới khuyến khích một phương cách truyền giảng khác lạ hoàn toàn. Người truyền đạo không còn giảng rằng phải từ bỏ đời sống cũ để nhận lãnh đời sống mới nữa. Không còn giảng rằng phải đối nghịch với đời sống cũ mà lại giảng hãy sống tương tự như cũ. Người truyền giảng tìm cách làm thế gian quan tâm qua việc trình bày rằng Cơ-đốc Giáo không hề đòi hỏi những điều làm người thế gian khó chịu, ngược lại Cơ Đốc giáo mang đến cùng những điều mà thế gian mang đến, chỉ là ở cấp bậc cao hơn. Tóm lại, ngày nay, thế gian mê đắm tội lỗi này yêu thích điều gì thì phúc âm cung cấp điều ấy, có điều sản phẩm tôn giáo chất lượng hơn mà thôi.

Thập giá mới không tiêu diệt tội nhân, nó chỉ chỉnh hướng anh ta. Nó thúc đẩy anh đi vào một con đường sống sạch sẽ hơn, vui vẻ hơn và giúp cứu vãn sự tự trọng của anh. Ðối với những người luôn muốn khẳng định mình, nó nói, “Hãy đến và khẳng định mình cho Ðấng Christ.” Ðối với những người ích kỷ, nó nói, “Hãy đến và khoe mình trong Chúa.” Ðối với những người tìm kiếm cảm giác mạnh, nó nói, “Hãy đến và tận hưởng cảm xúc mạnh mẽ tình ái hữu Cơ-đốc.” Sứ điệp Cơ-đốc chạy theo mốt hầu mong được công chúng chấp nhận.

Triết lý ẩn đằng sau điều này có thể chân thành, nhưng sự chân thành không cứu nó khỏi bị sai trật. Nó sai vì nó mù quáng. Nó đánh mất toàn bộ ý nghĩa của thập giá.

Thập giá cũ là một biểu tượng của sự chết. Nó biểu trưng cho sự kết thúc đột ngột và đau đớn của một con người. Trong thời kỳ La Mã Ðế Quốc, con người phải chia tay vĩnh biệt bạn bè trước khi mang thập giá mình ra đi vì hiểu rằng một khi đặt thập giá lên vai là một đi không trở lại. Anh đang bước ra để chấm dứt cuộc đời. Thập giá không thỏa hiệp, không phải để điều chỉnh mà là để tiêu diệt tất cả; nó giết chết con người, trọn vẹn và mãi mãi. Nó không chừa cho nạn nhân của nó bất cứ đường lui nào.Nó tra tấn anh ta dữ dội và tàn khốc. Sau khi nó hoàn tất công việc, con người chết hoàn toàn.

Chủng tộc A-đam đang ở dưới bản án tử hình. Không hề có sự thay thế nào và cũng chẳng có lối thoát nào. Ðức Chúa Trời không thể chấp nhận bất cứ bông trái nào của tội lỗi, bất luận chúng có vẻ vô tội ra sao hay đẹp đẽ trước mắt con người như thế nào. Chúa cứu một cá nhân bằng cách thanh toán chính anh ta và rồi khiến anh sống lại trong đời mới.

Truyền bá Phúc Âm mà vẽ ra con đường dễ chịu, trung dung giữa đường lối của Ðức Chúa Trời và đường lối con người là sai với quan điểm Kinh Thánh và nguy hại cho linh hồn của người nghe. Ðức tin của Ðấng Christ không chấp nhận đi song song với thế gian mà là dứt bỏ thế gian. Ðến với Ðấng Christ, chúng ta không mang theo đời sống cũ để nâng lên một tầm cao hơn; chúng ta phải quăng bỏ đời sống cũ ấy tại thập giá. Hột giống lúa mì phải rơi vào trong đất và chết đi.

Chúng ta, những người rao giảng Phúc Âm, không được phép nghĩ mình như nhân viên quan hệ công chúng, được sai đến để xây dựng một mối quan hệ dễ chịu giữa Đấng Christ và thế gian. Chúng ta không được phép tưởng rằng mình được ủy nhiệm để làm cho thương giới, báo giới, thể thao giới hay nền giáo dục hiện đại chấp nhận Đấng Christ. Chúng ta không phải là những nhà ngoại giao bèn là những tiên tri; và sứ điệp của chúng ta không phải là một sự thỏa hiệp, bèn là một tối hậu thư.

Ðức Chúa Trời ban sự sống, nhưng không phải là một sự sống cũ được cải thiện. Sự sống Ngài ban là một sự sống mới đi ra từ cái chết. Sự sống đó ở phía bên kia của thập giá. Bất kỳ ai muốn được nó phải trải qua sự trừng phạt. Phải từ bỏ chính mình và phải chịu bản án công bình của Ðức Chúa Trời.

Nhưng với một người, vốn đã bị lên án tử, bây giờ muốn tìm kiếm sự sống trong Đức Chúa Jesus Christ thì điều ấy nghĩa là gì? Phải vượt qua thập giá, phải chịu hình phạt…đó là cách nói thần học, nhưng làm thế nào chuyển lý thuyết thần học đó thành sự sống? Thật đơn giản, con người ấy hãy ăn năn và tin. Anh ta phải từ bỏ tội lỗi của mình và tiến đến từ bỏ chính mình. Không che đậy, không phòng thủ, không bào chữa bất cứ điều gì. Anh ta không được tìm phương mặc cả, thỏa thuận với Thiên Chúa mà phải cúi đầu trước đòn trách phạt lạnh lùng nghiêm khắc của Thiên Chúa và nhận biết rằng mình đáng chết.

Làm xong điều này, hãy để anh nhìn lên với một niềm tin đơn sơ nơi Cứu Chúa đã sống lại, và từ nơi Ngài sẽ tuôn tràn ra sự sống, sự tái sanh, sự tẩy sạch và quyền năng. Thập giá ngày trước đã giết chết cuộc sống của Jesus nơi trần thế thì bây giờ cũng kết liễu sự sống của tội nhân; quyền năng trước đó đã vực Đấng Christ từ cõi chết sống lại bây giờ cũng vực tội nhân từ kẻ chết vào thằng sự sống mới với Đấng Christ.

Nếu ai phản đối hoặc cho rằng điều tôi vừa trình bày đây chỉ là một góc nhìn hẹp hòi mang tính cá nhân đối với chân lý thì cho tôi tuyên với người ấy rằng Đức Chúa Trời đã đóng ấn chấp thuận của Ngài trên sứ điệp này từ thời Phao-lô cho đến tận ngày nay. Bất chấp những lời của tôi ở đây có lột tả được nó hay không thì sứ điệp này vẫn là nội dung của mọi sự rao giảng đã đưa đến sự sống và sức mạnh cho thế giới qua bao thế kỷ. Người truyền đạo dù là ở hệ phái nào, thần bí hay cải chánh hay phấn hưng, cũng đều đặt trọng tâm truyền giảng tại sứ điệp này và những dấu kỳ, phép lạ, việc quyền năng của Đức Thánh Linh đã làm chứng cho sự chấp thuận của Đức Chúa Trời.

Lẽ nào chúng ta, những kẻ thừa hưởng gia tài quyền năng, lại dám giả mạo chân lý nầy? Chúng ta, với những mẩu bút chì nhỏ bé của mình lại dám xóa đi bản thiết kế hay chỉnh sửa kiểu mẫu mà Chúa đã ban cho chúng ta trên núi? [1] Đức Chúa Trời cấm điều đó. Chúng ta hãy rao giảng về thập giá cũ và sẽ được chứng nghiệm quyền năng ngày trước.

 A.W. Tozer

[1] Ý tác giả muốn nói: Trên núi Gô-gô-tha, cái chết của Đấng Christ đã thiết lập ý nghĩa của thập tự giá trong đức tin của Cơ-đốc nhân.

 

THE OLD CROSS AND THE NEW

ALL UNANNOUNCED AND MOSTLY UNDETECTED there has come in modern times a new cross into popular evangelical circles. It is like the old cross, but different: the likenesses are superficial; the differences, fundamental.

From this new cross has sprung a new philosophy of the Christian life, and from that new philosophy has come a new evangelical technique—a new type of meeting and a new kind of preaching. This new evangelism employs the same language as the old, but its content is not the same and its emphasis not as before.

The old cross would have no truck with the world. For Adam’s proud flesh it meant the end of the journey. It carried into effect the sentence imposed by the law of Sinai. The new cross is not opposed to the human race; rather, it is a friendly pal and, if understood aright, it is the source of oceans of good clean fun and innocent enjoyment. It lets Adam live without interference. His life motivation is unchanged; he still lives for his own pleasure, only now he takes delight in singing choruses and watching religious movies instead of singing bawdy songs and drinking hard liquor. The accent is still on enjoyment, though the fun is now on a higher plane morally if not intellectually.

The new cross encourages a new and entirely different evangelistic approach. The evangelist does not demand abnegation of the old life before a new life can be received. He preaches not contrasts but similarities. He seeks to key into public interest by showing that Christianity makes no unpleasant demands; rather, it offers the same thing the world does, only on a higher level. Whatever the sin-mad world happens to be clamoring after at the moment is cleverly shown to be the very thing the gospel offers, only the religious product is better.

The new cross does not slay the sinner, it redirects him. It gears him into a cleaner and jollier way of living and saves his self-respect. To the self-assertive it says, “Come and assert yourself for Christ.” To the egotist it says, “Come and do your boasting in the Lord.” To the thrillseeker it says, “Come and enjoy the thrill of Christian fellowship.” The Christian message is slanted in the direction of the current vogue in order to make it acceptable to the public.

The philosophy back of this kind of thing may be sincere but its sincerity does not save it from being false. It is false because it is blind. It misses completely the whole meaning of the cross.

The old cross is a symbol of death. It stands for the abrupt, violent end of a human being. The man in Roman times who took up his cross and started down the road had already said good-by to his friends, He was not coming back. He was going out to have it ended. The cross made no compromise, modified nothing, spared nothing; it slew all of the man, completely and for good. It did not try to keep on good terms with its victim. It struck cruel and hard, and when it had finished its work, the man was no more.

The race of Adam is under death sentence. There is no commutation and no escape. God cannot approve any of the fruits of sin, however innocent they may appear or beautiful to the eyes of men. God salvages the individual by liquidating him and then raising him again to newness of life.

That evangelism which draws friendly parallels between the ways of God and the ways of men is false to the Bible and cruel to the souls of its hearers. The faith of Christ does not parallel the world, it intersects it. In coming to Christ we do not bring our old life up onto a higher plane; we leave it at the cross. The corn of wheat must fall into the ground and die.

We who preach the gospel must not think of ourselves as public relations agents sent to establish good will between Christ and the world. We must not imagine ourselves commissioned to make Christ acceptable to big business, the press, the world of sports or modern education. We are not diplomats but prophets, and our message is not a compromise but an ultimatum.

God offers life, but not an improved old life. The life He offers is life out of death. It stands always on the far side of the cross. Whoever would possess it must pass under the rod. He must repudiate himself and concur in God’s just sentence against him.

What does this mean to the individual, the condemned man who would find life in Christ Jesus? How can this theology be translated into life? Simply, he must repent and believe. He must forsake his sins and then go on to forsake himself. Let him cover nothing, defend nothing, excuse nothing. Let him not seek to make terms with God, but let him bow his head before the stroke of God’s stern displeasure and acknowledge himself worthy to die.

Having done this let him gaze with simple trust upon the risen Saviour, and from Him will come life and rebirth and cleansing and power. The cross that ended the earthly life of Jesus now puts an end to the sinner; and the power that raised Christ from the dead now raises him to a new life along with Christ.

To any who may object to this or count it merely a narrow and private view of truth, let me say God has set His hallmark of approval upon this message from Paul’s day to the present. Whether stated in these exact words or not, this has been the content of all preaching that has brought life and power to the world through the centuries. The mystics, the reformers, the revivalists have put their emphasis here, and signs and wonders and mighty operations of the Holy Ghost gave witness to God’s approval.

Dare we, the heirs of such a legacy of power, tamper with the truth? Dare we with our stubby pencils erase the lines of the blueprint or alter the pattern shown us in the Mount? May God forbid. Let us preach the old cross and we will know the old power.

 A.W. Tozer

 

 

Share This: