Sai Lầm Nghiêm Trọng Trong Một Số Bản Dịch Thánh Kinh Việt Ngữ

2,533 views

Tin Lành của Đức Chúa Trời đến Việt Nam vào năm 1911 qua mục vụ của các nhà truyền giáo thuộc Hội Phúc Âm Liên Hiệp (Christian and Missionary Alliance – viết tắt là C&MA). Năm 1926 bản dịch Việt ngữ toàn bộ Thánh Kinh đầu tiên được ấn hành và lưu dụng trong các Hội Thánh Việt Nam cho đến ngày nay. Bản dịch này do Giáo Sĩ Cadman khởi xướng với sự cộng tác chính của nhà văn Phan Khôi và thường được biết đến với tên gọi "Bản Dịch Phan Khôi" hoặc "Bản Dịch Cadman." Năm 1996, với sự yểm trợ của Thánh Kinh Hội Quốc Tế (International Bible Societies), Pastor Lê Cao Quý đã cho sửa đổi lỗi chính tả, thay thế một số từ ngữ cổ trong bản dịch này và ấn hành 50,000 cuốn tại Việt Nam. Tiếp theo đó, bản hiệu đính này được Thánh Kinh Hội Quốc Tế cho tái bản ở nước ngoài. Dầu vậy, từ ngữ và lối hành văn trong bản hiệu đính vẫn còn cổ điển, khó hiểu đối với người Việt hiện đại; nhiều chỗ dịch chưa sát ý với nguyên tác của Thánh Kinh. Bản Dịch Cadman/Phan Khôi vẫn được Thánh Kinh Hội Quốc Tế tiếp tục hiệu đính. Đọc Tiếp →

Share This:

Sự Mầu Nhiệm Của Tình Yêu Vợ Chồng Trong Chúa

2,676 views

Thánh Kinh: Ê-phê-sô 5:22-33

22 Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa,
23 vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội thánh, Hội thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Cứu Chúa của Hội thánh.
24 Ấy vậy, như Hội thánh phục dưới Đấng Christ, thì đờn bà cũng phải phục dưới quyền chồng mình trong mọi sự.
25 Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh,
26 để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch,
27 đặng tỏ ra hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài.
28 Cũng một thể ấy, chồng phải yêu vợ như chính thân mình. Ai yêu vợ mình thì yêu chính mình vậy.
29 Vì chẳng hề có người nào ghét chính thân mình, nhưng nuôi nấng săn sóc nó như Đấng Christ đối với Hội thánh,
30 vì chúng ta là các chi thể của thân Ngài.
31 Vậy nên người đờn ông phải lìa cha mẹ mà dính díu với vợ mình, hai người cùng nên một thịt.
32 Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và Hội thánh vậy.
33 Thế thì mỗi người trong anh em phải yêu vợ mình như mình, còn vợ thì phải kính chồng.”

Dẫn nhập

Lời của Chúa là Thánh Kinh cho chúng ta biết:Tình yêu giữa vợ chồng là một sự mầu nhiệm! Theo Thánh Kinh thì sự mầu nhiệm là sự vốn kín dấu, khó hiểu mà chỉ những ai được Đức Chúa Trời bày tỏ cho thì người ấy mới có thể nhận thức được [1]. Dầu vậy, mức độ nhận thức của mỗi người có thể khác nhau. Sự khác nhau ấy tùy thuộc vào tấm lòng yêu kính Chúa và vâng phục Chúa của mỗi người.

Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu sự mầu nhiệm của tình yêu vợ chồng được Đức Thánh Linh bày tỏ trong Ê-phê-sô 5:22-23.

Đọc Tiếp →

Share This:

Dâng Hiến

8,238 views

 

Kính thưa quý con dân tôi tớ Chúa:  

Người Chăn Huỳnh Christian Timothy  người thành lập điều hànhMục Vụ Sứ Mạng Của Tín Đồ Đấng Christ Người Việt” (Vietnamese Christian Mission Ministry – viết tắt VCMM). Đây mục vụ: cầu thay cho Hội Thánh dân tộc Việt Nam; rao giảng Tin Lành cho người Việt giảng dạy Lời Chúa cho con dân Chúa người Việt qua các phương tiện truyền thông; hiệu đính Thánh Kinh Việt ngữ Bản Dịch Phan Khôi (bấm vào đây để xem Bản Hiệu Đính 2012); thực hiện phiên dịch Thánh Kinh Việt ngữ Bản Dịch Ngôi Lời (bấm vào đây để xem  Bản Dịch Ngôi Lời ); đặc biệt biên soạn cuốn sách: “KTận Thế” trình bày tiến trình tận thế Theo Thánh Kinh” để giúp người Việt Nam, nhất những người sống trong Thời Đại Nạn, ý thức được Thời Kỳ Tận Thế theo sự trình bày của Thánh Kinh biết được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại. Mục Tử Huỳnh Christian Timothy đã hoàn tất công việc hiệu đính sách Khải Huyền, giảng 50 bài giảng chú giải sách Khải Huyền, đã phổ biến trên Internet thu vào CD để  phân phát cho người Việtkhắp nơi

 

Hiện nay, gia đình Người Chăn Huỳnh Christian Timothy đang sống tại một thành phố nhỏ khoảng 10,000 dân, thành phố Robinson, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Gia đình ông bà nhờ ơn Chúa thuê mướn một căn tiệm để bà cắt tóc, ông khai thuế làm phương tiện sống. Thu nhập trung bình mỗi tháng của ông bà là $1,500.00. Ông bà cùng với hai con sống trong một căn phòng phía sau căn tiệm.

Mục vụ hiện tại của ông bà là cùng nhau biên soạn sách “Kỳ Tận Thế,” phiên dịch Thánh Kinh Tân Ước Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời, biên soạn các sách Giải Kinh Tân Ước, chăm sóc, hướng dẫn con dân Chúa qua email và điện thoại, phụ trách các website trực thuộc www.timhieutinlanh.net. Ngoài ra, ông giảng Lời Chúa mỗi tuần qua Paltalk Chat Room, phòng: Tim Hieu Thanh Kinh (8:00 – 10:00 giờ sáng và 8:00 – 10:00 giờ tối mỗi Thứ Bảy, theo ngày và giờ tại Việt Nam).

Xin xem chi tiết tại đây: http://vietnamesechristianmission.org/node/4

Quý con dân Chúa có thể dự phần qua sự dâng hiến cho các mục vụ sau đây:

1. Quỹ Điều Hành
Bấm vào nối mạng sau đây để xem chi tiết: http://www.timhieutinlanh.net/?page_id=1798
Chi phí cho việc thuê mướn server, tên miền (domain names), điều hành các website, mua nhu liệu và cách sách tham khảo

2. Quỹ Truyền Giáo
Phát hành CD, DVD các bài giảng trong và ngoài Việt Nam, giới thiệu Tin Lành đến người chưa biết Chúa, nuôi dưỡng tâm linh con dân Chúa. Bấm vào nối mạng dưới đây để xem chi tiết: http://www.timhieutinlanh.net/?page_id=1791

3. Quỹ Phát Hành Văn Phẩm
Phát hành sách “Chân Giả Luận,” sách “Kỳ Tận Thế,” “Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012,” “Thánh Kinh Bản Dịch Ngôi Lời,” và các sách giải kinh, bồi linh. Bấm vào nối mạng dưới đây để xem chi tiết:
http://www.timhieutinlanh.net/?page_id=2085_id=1782

4. Quỹ Tiếp Trợ Gia Đình Người Chăn
Tiếp trợ cuộc sống vật chất của gia đình Người Chăn Huỳnh Christian Timothy.
Bấm vào nối mạng dưới đây để xem chi tiết:
http://www.timhieutinlanh.net/?page_id=2097

 

  • Quý con dân Chúa ở ngoài Hoa Kỳ muốn dâng hiến xin mua International Money Order chi trả bằng US Dollars, và gửi qua bưu điện là tốt nhấI.
  • Mọi dâng hiến bằng checksmoney orders, xin ghi tên và gửi về:

Timothy Christian Huynh
501 N Robinson Dr
Robinson TX 76706
USA

Nếu số tiền dâng từ $300 USD trở lên thì chuyển ngân qua Moneygram chỉ tốn lệ phí $9, ít hơn là lệ phí của Paypal. Tốt nhất là dâng hiến qua check và money order vì không tốn kém nhiều lệ phí.

  • Mọi dâng hiến bằng Credit Cards xin bấm vào nút Donate dưới đây:

Khi gửi tiền dâng hiến xin quý con dân Chúa email (tim@timhieutinlanh.net) cho biết là dâng vào mục vụ nào. Mọi sự giúp đỡ của quý ông bà anh chị em là sự đồng công với mục vụ của Mục Tử Huỳnh Christian Timothy và gia đình ông. Nguyện Cha Từ Ái và Thành Tín ban phước lại cho quý ông bà anh chị em.

Chân thành cảm tạ sự cầu thay và tiếp trợ tài chánh của quý vị. Nguyện sự bình an và ân điển của Ba Ngôi Thiên Chúa bao phủ quý vị.

Trong Danh Đấng Christ.

Huỳnh Christian Timothy
Vietnamese Christian Mission Ministry

Vietnamese Christian Mission Ministry là một tổ chức không vụ lợi tại Hoa Kỳ (a U.S. Non-Profit Corporation under section 501(c)(3) of the Internal Revenue Code) với Federal EIN: 20-3739003. Mọi dâng hiến qua VCMM đều được miễn thuế tại Hoa Kỳ.

 

 

Share This:

Đối Diện với Nghịch Cảnh

2,401 views

 

Thánh Kinh: I Phi-e-rơ 4:12-19

Vậy những kẻ chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy cứ làm lành mà phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín.
(I Phi-e-rơ 4:19)

 

Nhấp vào nút play  để nghe

 

 

Video

 


Người giảng: Huỳnh Christian Timothy

Đọc Tiếp →

Share This:

Thi Thiên 90:12

1,882 views
Nhấp vào nút play  để nghe

Đọc Tiếp →

Share This:

Những Kẻ Được Tái Sinh

2,541 views

 

Những Kẻ Được Tái Sinh – Phần 1

Những Kẻ Được Tái Sinh – Phần 2


 

Share This:

Những Kẻ Được Cứu Chuộc

2,143 views

Nhấp vào nút play ►để nghe

1. Sự cứu chuộc chỉ có trong Đấng Christ:

“Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống. Chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha.” (Giăng 14:6)

“Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12)

2. Chúng ta được cứu khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết:

“Vậy, anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi, trở nên tôi mọi của sự công bình rồi.” (Rô-ma 6:18)

“… Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài.” (Hê-bơ-rơ 9:28)

“Đây là ý muốn của Cha Ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn Ta, Ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt.” (Giăng 6:40)

“Đức Chúa Jesus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống, kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.” (Giăng 11:25)

3. Chúng ta được chuộc bởi huyết báu của Đấng Christ:

“Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch. Không đổ huyết thì không có sự tha thứ.” (Hê-bơ-rơ 9:22)

“Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội Thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 20:28)

“Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài.” (Ê-phê-sô 1:7)

“Vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít, đã định sẵn trước buổi sáng thế, và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em.” (I Phi-e-rơ 1:18-20)

4. Sự cứu chuộc bao gồm sự tha tội và sự làm cho sạch tội:

“Khi anh em đã chết bởi tội lỗi mình và sự xác thịt mình không chịu cắt bì, thì Đức Chúa Trời đã khiến anh em sống lại với Đấng Christ, vì đã tha thứ hết mọi tội chúng ta.” (Cô-lô-se 2:13)

“Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài, trong Con đó chúng ta có sự cứu chuộc, là sự tha tội.” (Cô-lô-se 1:13, 14)

 

“Ấy vì đó mà chính mình Đức Chúa Jêsus đã chịu khổ tại ngoài cửa thành để lấy huyết mình làm cho dân nên thánh.” (Hê-bơ-rơ 13:12)

“… Huyết của Đức Chúa Jesus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta.” (I Giăng1:7)

“Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng.” (Khải Huyền 1:6)

Kết luận

Một người đã được Đức Chúa Trời kêu gọi đến sự cứu chuộc, muốn được cứu chuộc thì phải:

(1) Hối cải, nghĩa là ăn năn và từ bỏ tội.

(2) Tin nhận sự chết chuộc tội của Đấng Christ.

(3) Vâng theo Lời Chúa dạy, khởi đầu với sự chịu báp-tem.

“Chúng nghe bấy nhiêu lời, trong lòng cảm động, bèn hỏi Phi-e-rơ và các sứ đồ khác rằng: Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi? Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh. Vì lời hứa thuộc về các ngươi, con cái các ngươi, và thuộc về hết thảy mọi người ở xa, tức là bao nhiêu người mà Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ gọi.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:37-39)

Huỳnh Christian Timothy
Ngày 16-11-2008

 

Share This:

Những Kẻ Được Lựa Chọn

2,736 views

Nhấp vào nút play ►để nghe

Những Kẻ Được Chọn – Phần 1

Những Kẻ Được Chọn – Phần 2

Đọc Tiếp →

Share This:

Việc Chúa Làm Ra

2,112 views

 

Nhấp vào nút play ►để nghe

1. Lựa chọn

“Hỡi anh em được Đức Chúa Trời yêu dấu, chúng tôi biết anh em là kẻ được lựa chọn. “ (I Tê-sa-lô-ni-ca 1:4)

“Vậy, hỡi anh em, hãy chú ý cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình. Làm điều đó anh em sẽ không hề vấp ngã.” (II Phi-e-rơ 1:10)


2. Cứu chuộc (được tha tội và làm cho sạch tội)

“Khi anh em đã chết bởi tội lỗi mình và sự xác thịt mình không chịu cắt bì, thì Đức Chúa Trời đã khiến anh em sống lại với Đấng Christ, vì đã tha thứ hết mọi tội chúng ta.” (Cô-lô-se 2:13)

“Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.” (I Giăng 1:9)

“Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài.” (Ê-phê-sô 1:7)

“Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài, trong Con đó chúng ta có sự cứu chuộc, là sự tha tội.” (Cô-lô-se 1:13, 14)


3. Tái sinh

“Nhưng từ khi lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, và tình thương yêu của Ngài đối với mọi người ta đã được bày ra, thì Ngài cứu chúng ta, không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài, bởi sự rửa về sự lại sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh.” (Tít 3:4, 5)

“Ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống.” (I Phi-e-rơ 1:3)

“Anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời.” (I Phi-e-rơ 1:23)


4. Thánh hóa

“… gởi cho Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta.” (I Cô-rinh-tô 1:2)

“Trước kia anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế; nhưng nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ, và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời chúng ta, thì anh em được rửa sạch, được nên thánh, được xưng công bình rồi.” (I Cô-rinh-tô 6:11)

“Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời.” (Ê-phê-sô 1:4)

“Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta.” (II Cô-rinh-tô 7:1)

“Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn, theo sự biết trước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, và được nên thánh bởi Đức Thánh Linh, đặng vâng phục Đức Chúa Jêsus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài: nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em!” (I Phi-e-rơ 1:1,2)


5. Nhận làm con nuôi

“Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy.” (Giăng 1:12, 13)

“Ta sẽ làm Chúa các ngươi, Các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy.” (II Cô-rinh-tô 6:18)

“Kẻ nào thắng sẽ được những sự ấy làm cơ nghiệp, ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con ta.” (Khải Huyền 21:7)


6. Ban cho sự sống đời đời

“Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)

“Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng. Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.” (Rô-ma 6:22, 23)

“Lời hứa mà chính Ngài đã hứa cùng chúng ta, ấy là sự sống đời đời.” (I Giăng 2:15)

“Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời.” (I Giăng 5:11, 13)


7. Ban cho cơ nghiệp và quyền đồng trị với Đấng Christ

“Hãy tạ ơn Đức Chúa Cha, Ngài đã khiến anh em có thể dự phần cơ nghiệp của các thánh trong sự sáng láng… vì biết rằng anh em sẽ bởi Chúa mà được cơ nghiệp làm phần thưởng. Hãy hầu việc Đấng Christ, tức là Chúa.” (Cô-lô-se 1:12, 3:24)

“Nhơn đó, Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình.” (Hê-bơ-rơ 9:15)

… và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jêsus Christ.” (Ê-phê-sô 2:6)

“… lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta.” (II Ti-mô-thê 2:12)

Khải Huyền 21
“1 Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa.
2 Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình.
3 Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng.
4 Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết ,cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhứt đã qua rồi.
5 Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. Đoạn, lại rằng: Hãy chép; vì những lời nầy đều trung tín và chơn thật.
6 Ngài lại phán cùng tôi rằng: Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, nghĩa là đầu tiên và cuối cùng. Kẻ nào khát, ta sẽ lấy nước suối sự sống mà ban cho nhưng không.
7 Kẻ nào thắng sẽ được những sự ấy làm cơ nghiệp, ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con ta.
8 Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.


Kết luận:

II Cô-rinh-tô 5
14 Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết,
15 lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình.
16 Bởi đó, từ rày về sau, chúng tôi không theo xác thịt mà nhận biết ai nữa; và, dẫu chúng tôi từng theo xác thịt mà nhận biết Đấng Christ, song cũng chẳng còn nhận biết Ngài cách ấy đâu.
17 Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.

Huỳnh Christian Timothy
Ngày 02-11-2008

 

 

Share This:

Ca-in và A-bên

2,193 views


Đây là bài học Thánh Kinh ngoài trời cho nên âm thanh đôi khi bị ảnh hưởng bởi các tiếng ồn.
Nhấp vào nút play  để nghe


Đọc Tiếp →

Share This:

Khải Huyền 1:5 – Đấng Yêu Thương Chúng Ta

2,100 views


Nhấp vào nút play ► để nghe

Đọc Tiếp →

Share This:

Khải Huyền 1:4-6 – Nguồn của Ân Điển và Bình An

2,539 views

Nhấp vào nút play ► để nghe

Phần 1

Phần 2

I. Đấng Hiện Có, Đã Có, và Còn Đến

Đây chính là ý nghĩa tên riêng của Đức Chúa Trời do Ngài mạc khải cho Môi-se trên núi Si-na-i (Xuất 3:14-15). Trong nguyên tác Cựu Ước, bốn phụ âm YHWH được dùng để ghi lại tên riêng của Đức Chúa Trời. Danh xưng này xuất hiện 6828 lần trong Cựu Ước, ngoài ra còn được viết tắt là “Yah” 50 lần. YHWH được phiên âm trong các bản dịch Anh ngữ là JEHOVAH hoặc YAHWEH, trong các bản dịch Việt ngữ là GIÊ-HÔ-VA hoặc GIA-VÊ. Nếu dịch sát nghĩa thì YHWH có nghĩa: “Ta Thực Hữu” mà sự thực hữu này tự có và còn đến mãi mãi. Tiếng Hán Việt dịch là “Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.” Có thể nói, trong ngôn ngữ của loài người, không còn một danh xưng nào vĩ đại hơn là danh xưng có ý nghĩa “Đấng Hiện Có, Đã Có, và Còn Đến”. Khắp thế gian, không một thần linh nào, không một giáo chủ tôn giáo nào dám xưng nhận danh xưng này! Người Y-sơ-ra-ên đã kính sợ sự cao cả, thiêng liêng, oai nghi của danh xưng này đến nỗi họ không dám phát thành âm. Ở đây, trong những dòng đầu tiên của sách Khải Huyền, Giăng đã ghi rõ ý nghĩa danh xưng của Đức Chúa Trời, bởi vì, kể từ giây phút ấy trở đi, danh xưng “Đấng Hiện Có, Đã Có, và Còn Đến” được mạc khải cho toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc!

Trong Nguyên Tác tiếng Hy-lạp của Thánh Kinh, Danh xưng Đức Chúa Trời khi không có mạo từ xác định đứng trước thì là danh xưng dùng chung cho cả Ba Ngôi Thiên Chúa, khi có mạo từ đứng trước thì được dùng để chỉ Đức Chúa Trời Ngôi Cha. (Tham khảo bài viết sau đây: http://thanhkinhthanhoc.net/tkth/?q=node/173). Trong nguyên tác, Giăng viết: ὁ ὢν ὁ ἦν ὁ ἐρχόμενος, dịch sát nghĩa là: “Đấng Hiện Có, Đấng Đã Có, Đấng Sẽ Có” để chỉ Đức Chúa Trời Ngôi Cha.

II. Bảy vị Thần đang ở trước Ngai của Ngài

Có bốn lần sách Khải Huyền đề cập đến “bảy vị thần:” 1:4; 3:1; 4:5; và 5:6). Chúng ta hãy liệt kê từng câu và để ý đến sự diễn đạt trong mỗi câu:

– 1:4 “bảy vị Thần đang ở trước Ngai của Ngài.

– 3:1 “Đấng có bảy vị Thần của Đức Chúa Trời.

– 4:5 “bảy ngọn đèn lửa đang cháy trước ngôi, là bảy vị Thần của Đức Chúa Trời.” (So sánh Xa-cha-ri 4:2).

– 5:6 “Chiên Con dường như đã bị giết, có bảy sừng và bảy mắt, là bảy vị Thần của Đức Chúa Trời sai đi vào khắp đất.” (So sánh Xa-cha-ri 4:10).

Nhiều nhà giải kinh cho rằng “bảy vị Thần” trong sách Khải Huyền là bảy vị thiên sứ đặc nhiệm của Đức Chúa Trời và là bảy vị thiên sứ phụ trách thổi bảy tiếng loa trong cơn đại nạn. Tuy nhiên, Ân điển và bình an không thể đến từ các thiên sứ. Sách Khải Huyền đề cập đến các thiên sứ rất nhiều lần nhưng không có lần nào gọi các thiên sứ là thần. Vì vậy, nhóm chữ “bảy vị Thần” được đặt ngang hàng với các danh xưng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con chính là một danh xưng của Đức Thánh Linh.

Khi chúng ta đọc Xa-cha-ri 4:2,10, chúng ta thấy hình ảnh của MỘT đèn BẢY ngọn. Điều này giải thích cho cách dùng chữ biểu tượng trong sách Khải Huyền. “Bảy vị Thần” là cách nói thậm xưng để diễn tả bảy phương diện trong công vụ của Đức Thánh Linh. Thánh Kinh bày tỏ cho chúng ta biết Thần (Spirit) của Đức Chúa Trời là Đức Thánh Linh. Nhiều nhà giải kinh cho rằng nhóm chữ “bảy vị Thần” trong sách Khải Huyền dùng để chỉ về bảy danh hiệu của Đức Thánh Linh được nêu ra trong Ê-sai 11:2:

1. Thần của Đức Giê-hô-va

2. Thần Khôn Ngoan

3. Thần Thông Sáng

4. Thần Mưu Toan

5. Thần Mạnh Sức

6. Thần Hiểu Biết

7. Thần Kính Sợ

Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng nhóm chữ “bảy vị Thần” trong sách Khải Huyền dùng để chỉ về bảy phương diện năng lực và công vụ của Đức Thánh Linh:

1. An ủi (Giăng 14:16)

“Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng An Ủi khác, để ở với các ngươi đời đời.”

2. Giảng Dạy (Giăng 14:26; 16:13-15)

“Nhưng Đấng An Ủi, tức là Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân Danh Ta sai xuống, Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều Ta đã phán cùng các ngươi.”

3. Hướng dẫn (Giăng 16:13a; Rô-ma 8:14)

“Lúc nào Thần Lẽ Thật sẽ đến, thì Ngài sẽ dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật…”

“Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắc dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời.”

4. Cáo trách (Giăng 16:8)

“Khi Ngài đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình, và về sự phán xét.”

5. Làm chứng (Rô-ma 8:16)

“Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.”

6. Cầu thay (Rô-ma 8:26-27)

“Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta.”

7. Ban ân tứ (1 Cô-rinh-tô 12:1-11)

“Vả, có các sự ban cho khác nhau nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh.” (c.4)

Ân điển và bình an đến với chúng ta từ Đức Chúa Trời Ngôi Cha nhưng Đức Thánh Linh là Đấng vận dụng và triển khai món quà vô giá đó thành thiết thực cho chúng ta qua bảy phương diện trong công vụ của Ngài. Nhóm chữ “đang ở trước Ngai” cho thấy sự sẵn sàng hành động của Đức Thánh Linh.

III. Jesus Christ, Chứng Nhân thành tín, được sinh đầu nhất từ trong kẻ chết, là Chúa của muôn vua trên đất

Nếu không có sự hy sinh của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá thì chúng ta không thể nào nhận được ân điển và bình an của Đức Chúa Trời. Chúng ta để ý đến việc Giăng dùng danh xưng Jesus Christ trong câu chúc phước. Ở những nơi khác, Giăng chỉ dùng danh Jesus khi nói đến Đức Chúa Con, nhưng ở đây, Giăng ghi rõ tên riêng Jesus và tước hiệu Christ của Ngài, kèm theo đó là ba danh hiệu khác nữa: Chứng nhân thành tín, được sinh đầu nhất từ trong kẻ chết, và Chúa của muôn vua trên đất.

1. Jesus: Danh Jesus trong Tân Ước tương đương với danh Giô-suê (Joshua) trong Cựu Ước và có nghĩa: “Đức Giê-hô-va là sự cứu rỗi”. Ý nghĩa của danh Jesus được thiên sứ của Đức Chúa Trời xác định khi báo tin cho Giô-sép: “Người sẽ sinh một trai, ngươi khá đặt tên là Jesus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội” (Ma-thi-ơ 1:21). Như vậy, danh xưng Jesus có thể dịch là “Đấng Cứu Thế”.

Chúng ta có thể nói: “Đức Chúa Jesus”, hoặc “Đấng Cứu Thế”; hay chúng ta có thể nói “Đức Chúa Jesus Christ”, hoặc “Chúa Cứu Thế Christ”; nhưng chúng ta không nói “Chúa Cứu Thế Jesus”. Nói “Chúa Cứu Thế Jesus” không khác gì nói “Chúa Cứu Thế Cứu Thế” hoặc “Chúa Jesus Jesus”, bởi vì “Cứu Thế” là dịch nghĩa của “Jesus”. Lại càng không thể dùng “Chúa Cứu Thế Giê-su” để dịch “Jesus Christ” bởi vì danh xưng Christ không có nghĩa là “Cứu Thế”. Trong nhiều bản dịch Thánh Kinh Việt ngữ gần đây, danh xưng “Jesus Christ” đã được dịch thành “Chúa Cứu Thế Giê-su”. Lý do các dịch giả đưa ra là: (1) Việt hóa danh xưng của Chúa. (2) Không có chữ tương đương trong Việt ngữ để dịch chữ Christ. (3) Danh xưng “Christ” khó phát âm đối với người Việt, còn nếu phiên âm thành “Cơ-đốc” hoặc “Ki-tô” thì người ngoại đọc cũng không hiểu những chữ được phiên âm đó có ý nghĩa gì.

Theo thiển ý, ba lý do nêu trên hoàn toàn không hợp lý: (1) Nếu Việt hóa danh xưng của Chúa bằng cách phiên âm Jesus thành Giê-su thì cũng có thể Việt hóa Christ thành Ki-tô, hoặc Cơ-rê (Công vụ 11:26), hoặc Cơ-rít, hoặc Cơ-đốc. (2) Không có chữ tương đương trong Việt ngữ để dịch chữ Christ, không phải là lý do để dịch chữ Christ thành “Cứu Thế”, nghĩa là dịch sai nghĩa. (3) Nếu đã phiên âm chữ Jesus thì không có lý do gì không phiên âm chữ Christ. Người ngoại cũng không biết Giê-su có nghĩa gì cho đến khi được giải thích. Nếu chúng ta có thể giải thích cho người ngoại biết Giê-su có nghĩa gì thì chúng ta cũng có thể giải thích cho người ngoại biết “Ki-tô”, “Cơ-rê”, “Cơ-rít”, hoặc “Cơ-đốc” có nghĩa gì.

Có nhiều dư luận cho rằng, tinh thần (spirit) bài bác danh xưng Christ trong các bản dịch Thánh Kinh gần đây trong những bản dịch Việt ngữ, lẫn Anh ngữ và một số các ngôn ngữ khác, cho thấy dường như Satan đang chuẩn bị dọn đường cho Anti-Christ của những ngày cuối cùng. Anti là chống lại, nghịch lại, hoặc thay thế. Anti-Christ là chống nghịch Đấng Christ hoặc thay thế Đấng Christ! Nếu gọi tinh thần bài bác danh xưng Christ trong các bản dịch Thánh Kinh là tinh thần Anti-Christ, thì cũng không phải là quá lời.

2) Christ: Danh xưng Christ trong Tân Ước tương đương với danh xưng Mê-si-a trong Cựu Ước, và có nghĩa là “Đấng Được Xức Dầu” (Anoited One). Danh xưng này xuất hiện khoảng 350 lần trong Tân Ước. Trong Cựu Ước, nghi thức xức dầu được thi hành trên những người được Đức Chúa Trời chọn và giao cho nhiệm vụ đặc biệt. Nghi thức xức dầu tượng trưng cho sự đầy dẫy Thánh Linh, đầy dẫy thẩm quyền (authority) và năng lực (power) của Đức Chúa Trời để làm tròn trách nhiệm mà Chúa đã giao phó. Cựu Ước ghi lại ba chức vụ được xức dầu là: tiên tri (1 Vua 19:16), thầy tế lễ (Xuất 29:1-9), vua (1 Sa-mu-ên 10:1; 2 Sa-mu-ên 2:4; 1 Vua 1:3). Trong lịch sử, ngoài Đức Chúa Jesus Christ, chưa hề có ai được xức dầu để cùng một lúc làm ba chức vụ: tiên tri, thầy tế lễ, và vua; vì thế, chỉ một mình Ngài mang danh hiệu Christ!

a) Tiên tri: Tiên tri là người nhận lãnh ý chỉ của Chúa và rao giảng ý chỉ của Chúa ra cho người khác. Môi se, trong Phục truyền 18:15 đã báo trước về chức vụ tiên tri của Chúa Jesus: “Từ giữa anh em ngươi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ lập lên một Đấng tiên tri như ta; các ngươi khá nghe theo Đấng ấy.”

b) Thầy Tế Lễ: Thầy Tế lễ là người dâng của lễ chuộc tội cho dân sự và cầu thay cho dân sự. Thánh Kinh trong Hê-bơ-rơ 9:11-12 cho chúng ta biết về chức vụ Thầy Tế lễ của Chúa Jesus: “Nhưng Đấng Christ đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau này. Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời này. Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.”

c) Vua: Đức Chúa Jesus được xức dầu để làm Vua trên muôn vua và Chúa trên muôn Chúa (Khải huyền 1:5; 17:14; 19: 16) “Chúng tranh chiến cùng Chiên Con, Chiên Con sẽ được thắng, vì là Chúa của các chúa, Vua của các vua.” – “Trên áo tơi và trên đùi Ngài có đề một danh là: Vua của các vua và Chúa của các chúa.”

Chính vì ý nghĩa trọng đại của danh xưng Christ mà Giăng đã ghi rõ ràng “Ân điển và bình an thuộc về anh chị em từ … Jesus Christ.” Nói cách khác, nếu Đức Chúa Jesus không được xức dầu để làm tiên tri, thầy tế lễ, và vua thì chúng ta sẽ không có được ân điển và bình an thiên thượng.

3. Chứng Nhân thành tín: Trong Giăng 18:37 Đức Chúa Jesus tự xác nhận Ngài là chứng nhân: “Vì sao Ta đã được sinh ra và vì sao Ta đã giáng thế? Ấy là để làm chứng cho Lẽ Thật.” Điều phải có nơi một chứng nhân là sự thành tín, nghĩa là trung thực với sự thật (3:14). Đức Chúa Jesus khẳng định Ngài là chứng nhân cho sự thật nhưng Ngài cũng xưng nhận mình chính là sự thật “Ta là Đường Đi, Lẽ Thật, và Sự Sống” (Giăng 14:6). Còn sự trung thực nào lớn hơn là tự Đức Chúa Trời làm chứng về Đức Chúa Trời? Giăng 10:30 “Ta với Cha là Một,” Giăng 12:45 “Còn ai thấy Ta, là thấy Đấng đã sai Ta đến,” Giăng 14:9 “Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha.”

Đức Chúa Jesus Christ đã làm chứng, “đã giải bày Cha cho chúng ta biết” (Giăng 1:18), nhờ đó, chúng ta biết được tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta, và biết được sự cứu rỗi mà Ngài đã sắm sẵn cho chúng ta.

4. Được sinh đầu nhất từ trong kẻ chết: Thánh Kinh xác định “Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu hụt sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23), và “Công giá của tội lỗi là sự chết!” (Rô-ma 6:23). Đó là sự thật về thân phận của mỗi một chúng ta. Tuy nhiên, “Sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23). Chính Đức Chúa Jesus khẳng định rằng “Ta là sự sống lại và sự sống; ai tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25). Sự kiện phục sinh của Đức Chúa Jesus đã chứng minh cho lời tuyên xưng của Ngài. Ngài cũng chính là NGƯỜI đầu tiên chết vì tội lỗi và sống lại từ trong kẻ chết để sống đời đời (Cô-lô-se 1:18), vì thế, những ai đồng chết trong Ngài cũng sẽ được đồng sống lại và sống trong Ngài (Rô-ma 6:5).

5. Chúa của muôn vua trên đất: Một trong những Danh xưng của Đức Chúa Jesus là “Vua của các vua và Chúa của các Chúa” (17:14; 19:16). Một ngày kia, Hội Thánh của Đấng Christ sẽ đồng trị với Ngài. Chúng ta sẽ là những vua cho Đức Chúa Trời (c.6; 20:6) trong Nước Trời, và Đấng Christ là Vua của chúng ta!

Kết luận

Ân điển và bình an thiên thượng đến từ chính Ba Ngôi Đức Chúa Trời, và là bản chất của Đức Chúa Trời. Chúng ta nhận được ân điển và bình an vì đó là ý chỉ của Đức Chúa Cha, được ban cho qua sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Con, được triển khai trong chúng ta qua bảy phương diện hành động của Đức Thánh Linh. Giá trị của ân điển và bình an từ thiên thượng thật vượt quá sự lãnh hội của chúng ta. Giá trị đó đã có, hiện có, và còn đến!

Kính lạy Ba Ngôi Đức Chúa Trời! Xin giúp cho chúng con hiểu biết sâu nhiệm ý nghĩa và quyền phép về ân điển và bình an mà Ngài đã ban cho chúng con. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Ngày 21-09-2008

 

Share This:

Khải Huyền 1:4 – Ân Điển và Bình An

2,364 views

Nhấp vào nút play ► để nghe

I. Bảy Hội Thánh tại A-si-a

Toàn bộ sách Khải Huyền là một bức thư gửi cho bảy Hội Thánh tại xứ A-si-a. Có hai điều chúng ta cần để ý: (1) Xứ A-si-a (Asia) không phải là toàn cõi Á châu nhưng chỉ là một tỉnh thuộc đế quốc La-mã thời bấy giờ, hiện nay là Thổ-nhỉ-kỳ. (2) Trong xứ A-si-a có nhiều Hội Thánh khác, ngoài bảy Hội Thánh được nêu tên trong sách Khải Huyền. Tuy nhiên, Giăng chỉ nhận được lệnh chép và gửi sách Khải Huyền cho bảy Hội Thánh được liệt kê trong 1:11. Thánh Kinh không nói vì lý do gì bảy Hội Thánh này được chọn để nhận mạc khải, nhưng xét qua tình trạng thuộc linh của các Hội Thánh này chúng ta có thể nhận thấy đây là bảy tình trạng thuộc linh điển hình trong các Hội Thánh của Chúa ở khắp nơi, trải qua các thời đại. Như vậy, có thể nói, sách Khải Huyền được viết chung cho các Hội Thánh nhưng được trao cho bảy Hội Thánh đại diện bảy tình trạng thuộc linh của mỗi Hội Thánh địa phương và của Hội Thánh chung trong mỗi thời đại. (Những ý tưởng này sẽ được triển khai thêm khi chúng ta đọc đến bức thư viết riêng cho mỗi Hội Thánh.) Và như vậy, có thể nói sách Khải Huyền được viết cho mỗi một tín đồ Đấng Christ, sống trong bất kỳ thời đại nào. Lời chúc phước của Giăng, cũng là lời chúc phước dành cho mỗi một chúng ta.

II. Ân điển và bình an

Giăng mở đầu bức thư chung bằng lời chúc phước: “Ân điển và bình an thuộc về anh chị em.” Lời chúc phước hạnh báo trước sứ điệp phước hạnh được trình bày trong thư. Thông thường, ân điển được định nghĩa là “ân huệ và phước hạnh một người nhận được trong khi người ấy không xứng đáng lãnh nhận”. Tuy nhiên, ân điển của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại vượt quá định nghĩa nói trên. Chẳng những chúng ta không xứng để nhận những ân huệ và phước hạnh Chúa ban cho chúng ta mà chúng ta còn đang ở trong tư thế thù nghịch, thiếu nợ Đức Chúa Trời khi ân điển được ban ra. Thí dụ sau đây có thể giúp cho chúng ta cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của ân điển đến từ Đức Chúa Trời.

Một tên trộm lẽn vào nhà một quan tòa đánh cắp một lọ cổ. Khi vừa ra khỏi nhà vị quan tòa thì tên trộm bị cảnh vệ bắt gặp. Trong khi chạy trốn, tên trộm đánh rơi chiếc lọ quý xuống đất làm cho chiếc lọ bị vỡ tan tành. Cảnh vệ bắt được tên trộm và giải đến trước mặt vị quan tòa. Dưới đây là sự đối đáp giữa quan tòa và tên trộm:

– Có phải anh ăn trộm chiếc lọ cổ của tôi?

– Thưa phải.

– Và, anh đã làm vỡ chiếc lọ?

– Dạ phải.

– Anh có biết là anh đã phạm pháp hay không?

– Thưa quan tòa tôi biết.

– Tại sao anh không làm ăn lương thiện mà đi ăn trộm?

– Thưa, tôi thất học, không biết nghề, lại nghèo túng nên không thể làm được việc gì, đành phải trộm cắp để qua ngày.

– Anh có biết là theo luật, tội ăn trộm sẽ bị phạt 2 tháng tù hoặc nộp phạt $2000 không?

– Thưa tôi biết là trộm cắp thì sẽ bị phạt.

– Ngoài ra, anh còn phải bồi thường những thiệt hại anh đã gây ra.

– Thưa quan tòa, tôi rất nghèo, không thể nộp phạt, cũng không thể bồi thường chiếc lọ đã vỡ, tôi đành chịu phạt tù vậy.

– Thôi được, tôi tha cho anh lần này. Anh về đi, và nhớ đừng bao giờ ăn trộm nữa.

Tên trộm vui mừng, tạ ơn quan tòa và tiến ra cửa. Nhưng khi ra đến cửa, tên trộm dừng bước, quay lại nhìn vị quan tòa:

– Thưa Ngài, Ngài quả thật là quá tốt đối với tôi, cho nên tôi không đành dối gạt Ngài. Tôi xin thú thật là, khi ra khỏi nơi đây, lập tức tôi sẽ tìm nhà khác để ăn trộm, bởi vì tôi không biết làm gì khác hơn là ăn trộm để sống qua ngày.

Vị quan tòa đưa tay, ra dấu gọi anh ta quay lại:

– Anh có chịu làm việc hay không?

– Thưa Ngài, như đã nói, tôi thất học và không biết nghề nghiệp gì hết.

– Anh bằng lòng làm việc bằng đôi tay và sức lực của mình để kiếm sống hay không?

– Thưa Ngài, không có ai chịu thuê mướn một tên thất học, vô nghề.

– Ngày mai anh hãy đến đây. Tôi thuê anh làm người giữ vườn. Người làm vườn của tôi sẽ dạy cho anh biết cách chăm sóc vườn.

Tên trộm ngạc nhiên, mừng rỡ, sung sướng, tạ ơn vị quan tòa nhân đức. Người cảnh vệ nói với vị quan tòa sau khi tên trộm bước ra khỏi cửa:

– Thưa Ngài, tôi khâm phục sự nhân đức của Ngài đối với tên trộm, nhưng Ngài đã vi phạm sự công chính của luật pháp khi tha cho tên trộm mà không phạt tù nó.

– Ồ! Ngày mai tôi sẽ xuất ra $2000 để nộp phạt thay cho tên trộm. Anh ta hoàn toàn tự do để làm lại cuộc đời!

Câu chuyện trên đây minh họa những lẽ thật về ân điển của Đức Chúa Trời như sau:

1) Vì lòng nhân từ, Đức Chúa Trời tha thứ tội lỗi của chúng ta. Tha thứ nghĩa là không kể chúng ta là có tội.

2) Vì lòng thương xót, Đức Chúa Trời làm sạch mọi tội lỗi của chúng ta. Làm sạch nghĩa là đem chúng ta ra khỏi quyền lực của tội lỗi, ban cho chúng ta một thân phận mới, được tái sinh, được làm con của Ngài, được Thánh Linh của Ngài ngự vào trong chúng ta, ban cho chúng ta quyền năng đắc thắng của Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời chỉ tha thứ mà không làm cho chúng ta sạch tội thì chúng ta không thể thoát vòng tôi mọi cho tội lỗi.

3) Để có thể tha thứ và làm chúng ta sạch tội, Đức Chúa Trời đã trả giá cho mọi tội lỗi của chúng ta. Đức Chúa Jesus Christ, Con Một yêu dấu của Ngài đã gánh chịu hình phạt sự phạm tội của chúng ta bằng cách chịu chết trên thập tự giá.

Để có thể đón nhận ân điển của Đức Chúa Trời, một người phải thật lòng ăn năn tội và xưng tội với Ngài. 1 Giăng 1:9 chép rằng: “Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín và công bình, tha tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.” Sự tha thứ tội lỗi của chúng ta là ân huệ của Đức Chúa Trời. Sự làm cho chúng ta sạch tội là phước hạnh đến từ Đức Chúa Trời. Ân huệ và phước hạnh đó chính là ân điển.

Ân điển sinh ra bình an!

Khi chúng ta được tha tội, được làm cho sạch tội, chúng ta được phục hòa với Đức Chúa Trời, được trở về làm con của Ngài. Đối diện với Đức Chúa Trời, chúng ta không còn lo lắng, sợ hãi. Tuy nhiên, như thế vẫn chưa diễn đạt hết ý nghĩa của sự bình an mà chúng ta có trong Chúa. Một lần nữa, chúng ta sẽ nhờ đến thí dụ về tên trộm nói trên để minh họa ý nghĩa của sự bình an.

Qua ngày hôm sau, tên trộm trở lại nhà vị quan tòa để nhận việc làm. Quan tòa mời anh ta vào văn phòng và ký vào một tờ cam kết với nội dung như sau:

1) Tất cả những hành vi sai trái của anh ta đối với vị quan tòa hoàn toàn được tha thứ và không bao giờ bị nhắc lại.

2) Hình phạt về tội lỗi của anh ta đã được vị quan tòa thay cho anh ta nộp phạt. Đối với pháp luật, anh ta hoàn toàn được tự do.

3) Để giúp cho anh ta không bao giờ phạm pháp nữa, quan tòa ký giấy cam kết rằng, anh ta được vĩnh viễn làm việc cho quan tòa, không thể bị sa thải vì bất kỳ lý do gì, ngoài trừ anh tự ý thôi việc hoặc phạm pháp.

Kể từ giây phút ký tên vào tờ cam kết đó, tên trộm thật sự trở thành một người lương thiện. Sự bình an tràn ngập trong lòng người lương thiện này. Anh không còn lo lắng, sợ hãi về quá khứ, hiện tại, lẫn tương lai. Anh biết chắc quá khứ của mình được bôi xóa, hiện tại được vững chắc và tương lai được bảo đảm. Sự bình an mà anh có đó chính là sự bình an của vị quan tòa.

Một thí dụ khác, có thể dùng để làm nỗi bật ý nghĩa sâu sa của sự bình an đến từ thiên thượng.

Bà mẹ dạy đứa con nhỏ không được chơi dao, chơi lửa. Một ngày kia, đứa nhỏ không vâng lời, chơi lửa và khiến cho nhà bị cháy. Trong cơn hỏa hoạn, bà mẹ và đứa con bị kẹt giữa biển lửa. Mặc dù tuyệt vọng nhưng bà mẹ vẫn ôm chặt lấy đứa con vào lòng, nằm phục trên nền nhà, lấy thân mình che chắn ngọn lửa lan tỏa chung quanh và những thanh gỗ rực lửa từ trên trần nhà rơi xuống, để chúng không chạm đến thân thể của con mình. Khi những người hàng xóm dập tắt được cơn hỏa hoạn, đem được hai mẹ con ra chỗ an toàn, thì người mẹ đã bị phỏng rất nặng. Từ đó, đứa con nhận biết rằng: mẹ nó sẽ không khước từ làm bất cứ điều gì, kể cả hy sinh mạng sống để giữ cho nó được bình an!

Sự bình an của Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jesus Christ ban cho mỗi người tin nhận Ngài là chính sự bình an của Ngài: “Ta ban sự bình an Ta cho các ngươi” (Giăng 14:27), và thậm chí Ngài đã hy sinh mọi vinh hiển và chính mạng sống của Ngài để chúng ta có thể nhận được sự bình an đó. Sự bình an đó không tạm bợ, giới hạn như “bình an của thế gian”. Sự bình an đó, tuôn chảy từ ân điển của Đức Chúa Trời, bao trùm từ vật chất đến tâm linh, ảnh hưởng cả quá khứ, hiện tại của chúng ta, và còn mãi cho đến đời đời trong sự giàu có vô lượng vô biên của ân điển Ngài.

Kết luận

Ân điển và bình an từ thiên thượng là một đặc ân và đặc quyền Đức Chúa Trời ban cho Hội Thánh của Ngài qua mỗi một tín đồ Đấng Christ. Để có thể nhận được ân điển và bình an đó, chúng ta chỉ cần ăn năn tội lỗi, xưng nhận tội mình với Đức Chúa Trời và tin nhận rằng Đức Chúa Jesus Christ đã phải chết treo thân trên thập tự giá để đền tội cho chúng ta. Ăn năn tội nghĩa là dứt khoác từ bỏ tội và đầu phục Đức Chúa Trời, vâng giữ mọi điều Chúa phán dạy được ghi chép lại trong Thánh Kinh.

Huỳnh Christian Timothy
Ngày 14-09-2008

 

Share This:

Khải Huyền 1:1-3 – Mạc Khải Cuối Cùng

2,677 views

Nhấp vào nút play ► để nghe

I. Tác giả sách Khải Huyền

1. Tác giả: Đức Chúa Trời.

2. Sứ giả truyền đạt: Thiên sứ của Đức Chúa Jesus Christ.

3. Người ghi chép: Sứ Đồ Giăng, một trong các tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, là người đã làm chứng về Lời của Đức Chúa Trời và về chứng cớ của Đức Chúa Jesus Christ trong sách Tin Lành Giăng.

II. Nguyên nhân và mục đích của sách Khải Huyền

1. Mạc khải đến từ Đức Chúa Trời: “Sự mạc khải của Đức Jesus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài…” (c. 1). Sự mạc khải được ghi lại trong sách Khải Huyền đến từ Đức Chúa Trời Ngôi Cha, và được bày tỏ bởi Đức Chúa Jesus Christ, là Đức Chúa Trời Ngôi Con. Sự mạc khải đó sẽ được thành toàn bởi Đức Chúa Trời Ngôi Thánh Linh, và kết quả của nó sẽ được bảo tồn bởi Ngài.

2. Mạc khải được ban cho các tôi tớ của Đấng Christ: “đặng tỏ ra cho các tôi tớ Ngài.” (c. 1) Đối tượng đón nhận sự mạc khải này là những tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ. Tất cả những ai tin nhận Đức Chúa Jesus Christ đều được “quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời” (Giăng 1:1:12) nhưng trong số các “con cái của Đức Chúa Trời” chỉ có một số người được Ngài kêu gọi làm “tôi tớ;” (xin xem Rô-ma 1:1; Phi-líp 1:1; Tít 1:1; Gia-cơ 1:1; II Phi-e-rơ 1:1; và Giu-đe 1:1). Theo các dẫn chứng của Thánh Kinh, chúng ta có thể hiểu danh từ “tôi tớ của Đức Chúa Trời” hoặc “tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ” trong thời đại Ân Điển dùng để chỉ những ai được biệt riêng làm công tác loan truyền Tin Lành, giảng dạy Lời Chúa, hoặc chăn bầy của Ngài.

Xét theo nghĩa rộng thực dụng, mỗi một con dân Chúa là một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, (Khải Huyền 1:6), được kêu gọi đi khắp thế gian để giảng Tin Lành, (Ma-thi-ơ 20:19, 20; Mác 16:15), cho nên, bất kỳ ai đáp lại lời kêu gọi đó đều là tôi tớ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ. Trách nhiệm của các tôi tớ Chúa là loan truyền Lời Chúa cho muôn dân và giảng dạy Lời Chúa cho bầy của Ngài nên mạc khải được tỏ ra cho họ. Ngày nay, hơn bao giờ hết, các tôi tớ Chúa sẽ thiếu sót và phạm tội nếu không tích cực giảng và dạy những lời tiên tri trong sách Khải Huyền, “vì thì giờ đã gần!”

3. Nội dung của sự mạc khải: “về những điều sắp phải xảy đến” (c. 1). Sự mạc khải được tỏ ra cho các tôi tớ của Chúa để họ biết trước những điều sắp phải xảy đến. Xin để ý đến chữ “sắp” và chữ “phải”. Khải Huyền 1:19 sẽ giải thích cho chữ “sắp” còn chữ “phải” nói lên sự chắc chắn ứng nghiệm của những lời tiên tri này. Khi đọc tiếp phần còn lại của sách Khải Huyền, chúng ta sẽ thấy những điều sắp phải xảy đến đó, sẽ xảy ra trong thế giới vật chất thuộc về thế gian, trên thiên đàng, và dưới hỏa ngục! Những điều sắp phải xảy đến đó, sẽ là câu trả lời tối hậu cho những ai thắc mắc “tại sao tội lỗi, bạo quyền, đau khổ, chiến tranh, dịch lệ, đói kém, thiên tai, chết chóc… xảy ra trong thế giới?” và “nếu có một Đức Chúa Trời thì Ngài đang ở đâu trước những nan đề của nhân loại?” Sự mạc khải trong sách Khải Huyền còn là mở đầu cho bản “khải hoàn ca” đời đời của mọi thánh đồ (Khải Huyền 21; 22:1-5).

4. Sự mạc khải mang phước hạnh đến cho những ai đọc, những ai nghe, và giữ những điều được mạc khải: “Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này, và giữ gìn những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần!” (c. 3)

Có hai thành phần được phước:

a) Người đọc: Có hai cách để giải thích về từ ngữ “người đọc.” Thuở xưa, những lời tiên tri này được ghi lại và sao chép bằng tay. Có thể lắm, Giăng đã gửi cho mỗi Hội Thánh của vùng Tiểu Á một bản sao. Khi Hội Thánh nhận được các lời tiên tri thì người giữ việc đọc Lời Chúa (một chức vụ trong các Hội Thánh thuở ban đầu) sẽ tuyên đọc trước Hội Thánh. Như vậy, “người đọc” được phước ở đây là người đọc các lời tiên tri trong Khải Huyền cho Hội Thánh nghe. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, những ai phổ biến, rao giảng những lời tiên tri trong Khải Huyền sẽ được phước!

Cách giải thích thứ hai, dựa trên ý nghĩa và cách dùng của động từ “đọc” trong nguyên tác, cho rằng bất cứ ai đọc các lời tiên tri này, cách cá nhân, đều được phước. Kinh nghiệm thực tế trong nếp sống đạo cho chúng ta thấy rằng, hễ ai có thành ý đọc Lời Chúa đều nhận được phước hạnh từ nơi Ngài, qua Lời của Ngài. Và, chỉ khi một người có lòng tìm đọc Lời Chúa, thì Đức Thánh Linh mới có cơ hội để ban phước cho người ấy qua sự tuôn đổ khôn ngoan thiên thượng để người ấy hiểu điều mình đọc.

b) Người nghe và giữ gìn những điều đã chép: Thành phần được phước thứ hai là những ai nghe và giữ gìn những lời tiên tri được ghi lại trong Khải Huyền. Lời Chúa nói rõ: chỉ những ai nghe và giữ gìn những lời tiên tri này mới được phước. Cũng có hai cách để giải thích về từ ngữ “nghe” và “giữ gìn”. Cách thứ nhất cho rằng chữ “nghe” ở đây chỉ về sự các tín đồ nghe đọc các lời tiên tri bởi người giữ việc đọc Lời Chúa trong Hội Thánh. Chữ “giữ gìn” có nghĩa là ghi nhớ trong trí những điều đã nghe đọc. Cách giải thích thứ hai cho rằng chữ “nghe” được dùng với nghĩa bóng là “tin theo, vâng theo, làm theo” (so sánh chữ nghe trong Giăng 10:3) chứ không phải nghe âm thanh mà thôi. Như vậy, “nghe các lời tiên tri này” nghĩa là nhận thức những gì được bày tỏ, tin những điều đó sẽ xảy đến, và làm theo mọi khuyến cáo trong đó. Từ ngữ “giữ gìn” trong nguyên tác là tēreō có nghĩa là “canh giữ” được dùng để chỉ sự canh gác, trông chừng đừng để cho bị biến đổi mất phẩm chất hoặc bị thiệt hại, mất mát. Như vậy, những ai hiểu, tin, làm theo và giữ gìn sự trung thực của những lời tiên tri trong sách Khải Huyền trong khi loan truyền lại cho người khác sẽ được phước (Xem Khải Huyền 22:18-19).

Kết luận

Chúng tôi tin rằng, sách Khải Huyền là mạc khải cuối cùng của Đức Chúa Trời dành cho toàn thể nhân loại, và sách Khải Huyền hoàn tất Thánh Kinh. Sau sách Khải Huyền không còn một sự mạc khải nào của Đức Chúa Trời ban chung cho loài người. Chúng tôi không bác bỏ những mạc khải Đức Chúa Trời dành riêng cho từng cá nhân để chỉ thị, dạy dỗ hoặc làm vững đức tin của cá nhân ấy.

Ngày nay, có nhiều sách do những người tự xưng là hầu việc Chúa viết và được in ra để tuyên truyền các mạc khải về hoả ngục và thiên đàng, như là một hình thức bổ sung cho sách Khải Huyền. Tất cả những sách đó có nhiều điểm không phù hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh. Những mạc khải được ghi lại trong các sách đó, nếu có thực, thì chắc chắn không phải đến từ Đức Chúa Trời. Chính Chúa Jesus đã cảnh cáo trước rằng, trong những ngày cuối cùng sẽ có nhiều kẻ giả mạo Đấng Christ và nhiều tiên tri giả sẽ dấy lên, làm nhiều phép lạ để lường gạt thiên hạ và thậm chí lường gạt ngay cả các tín đồ thật của Chúa (Ma-thi-ơ 7:15; 24:23). Chúng ta không cần bất cứ một mạc khải nào khác về thiên đàng và địa ngục ngoài những mạc khải đã được ghi lại trong Thánh Kinh.

Chúng ta, những thánh đồ của Chúa, cần ghi nhớ ý nghĩa của điều Chúa dạy trong Khải Huyền 1:3 – “đọc, nghe, và giữ gìn những điều đã chép trong sách Khải Huyền.” Riêng những thánh đồ đáp ơn kêu gọi, đứng vào chức vụ rao giảng và dạy dỗ Lời Chúa, cần phải rao giảng và dạy dỗ những lời tiên tri trong Khải Huyền một cách cấp bách và quyết chắc như tính cấp bách và chung cuộc của sự mạc khải!

Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này
và giữ gìn những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần!

(Khải Huyền 1:3)

Huỳnh Christian Timothy
Ngày 07-09-2008

 

Share This:

Tự Do Thật

2,308 views

Nhấp vào nút play  ►để nghe

Tự do của thế gian

Điều 1 trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế được chấp thuận bởi Cơ Quan Liên Hiệp Quốc vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Thủ Đô Ba-lê, Pháp Quốc, ghi như sau:

“Mọi người được sinh ra tự do và bình đẳng trong nhân phẩm và nhân quyền. Họ được phú cho lý trí và lương tâm và nên cư xử với nhau trong tinh thần huynh đệ.” (All human beings are born free and equal in dignity and rights. They are endowed with reason and conscience and should act towards one another in a spirit of brotherhood.)

Bên cạnh Luật Nhân Quyền Quốc Tế, các quốc gia cũng có các đạo luật riêng để bảo vệ quyền tự do của công dân. Phần lớn các quốc gia công nhận những quyền tự do căn bản của công dân như sau:

1. Quyền tự do hội họp và kết bạn.

2. Quyền tự do cư trú và di chuyển.

3. Quyền tự do tín ngưỡng và tư tưởng.

4. Quyền tự do ngôn luận và báo chí.

5. Quyền tự do giáo dục và hành nghề.

Hoa Kỳ được tuyên xưng là thành đồng của thế giới tự do, có nghĩa Hoa Kỳ là quốc gia tôn trọng quyền tự do của công dân nhất và cũng là quốc gia giúp các dân tộc khác bảo vệ quyền tự do của họ. Thế nhưng, có sống tại Hoa Kỳ mới biết quyền tự do đã bị lạm dụng như thế nào. Điển hình như:

Có những người “tự do” không đi làm, chỉ sống nhờ vào trợ cấp xã hội của chính phủ. Ngân quỹ trợ cấp xã hội là tiền đóng thuế của những người đi làm. Vì thế, những người lười biếng không chịu đi làm đã sống bám vào những người đi làm một cách bất công. Quốc gia Hoa Kỳ được thành lập bởi con dân của Chúa và thành lập trên nền tảng của Lời Chúa, thế nhưng, từ giữa thế kỷ 20 đến nay, di dân khắp nơi trên thế giới đã “tự do” du nhập thần tượng vào đất nước này, “tự do” thiết lập vô số những miếu thờ tà thần. Miếu thờ tà thần không phải chỉ là các đình, đền, chùa, miếu, thánh thất… mà các cơ sở thương mãi, và ngay cả nhà riêng của những di dân ngoại giáo cũng là những miếu thờ tà thần. Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cho phép phụ nữ “tự do” phá thai. Tiểu bang Nevada cho phép một số địa phương “tự do” mở ổ mãi dâm. Nhiều tiểu bang cho phép dân chúng tự do cờ bạc. Gần đây nhất, Tối Cao Pháp Viện của một số tiểu bang cho phép những người đồng tính “tự do” kết hôn với nhau và trong tháng qua có ít nhất 82 pastors đã về hưu thuộc Giáo Hội Giám Lý (Methodist) ở California công khai tuyên bố sẽ đứng ra làm lễ cưới cho những cặp đồng tính [1].

Về phương diện chính trị, kinh tế, và xã hội, có lẽ người dân Hoa Kỳ được hưởng tự do hơn các dân tộc khác nhưng về phương diện thuộc linh thì mỗi người trên thế gian này đều bị nô lệ cho lòng tham dục của chính mình, cho tà thần, cho tội lỗi và sự chết:

“Chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó.” (II Phi-e-rơ 2:19)

“Xưa kia, anh em chẳng biết Đức Chúa Trời chi hết, thì làm tôi các thần vốn không phải là thần.” (Ga-la-ti 4:8)

“Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi.” (Giăng 8:34)

“Anh em há chẳng biết rằng nếu anh em đã nộp mình làm tôi mọi đặng vâng phục kẻ nào, thì là tôi mọi của kẻ mình vâng phục, hoặc của tội lỗi đến sự chết, hoặc của sự vâng phục để được nên công bình hay sao?” (Rô-ma 6:16)

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma 3:23)

“Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét.” (Hê-bơ-rơ 9:27)

Thật ra, loài người không bao giờ được tự do kể từ khi tổ phụ của loài người là A-đam và Ê-va phạm tội không vâng phục Đức Chúa Trời.

“Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội.” (Rô-ma 5:13)

Phao-lô diễn tả sống động tình trạng nô-lệ của loài người trong Rô-ma 7:14-23 với lời đúc kết như sau:

“Nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi, tức là luật ở trong chi thể tôi vậy.” (Rô-ma 7:23)

Thế gian không bao giờ có tự do.

Tự do trong Đấng Christ

Tự do thật chỉ có trong Đức Chúa Jesus Christ.

“Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa.” (Lu-ca 4:19; Xem Ê-sai 61:1)

“Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do.” (Giăng 8:36)

“Vả, Chúa tức là Thánh Linh, Thánh Linh của Chúa ở đâu, thì sự tự do cũng ở đó.” (II Cô-rinh-tô 3:17)

“Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hãy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa… Hỡi anh em, anh em đã được gọi đến sự tự do, song chớ lấy sự tự do đó làm dịp cho anh em ăn ở theo tánh xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau.” (Ga-la-ti 5:1, 13)

1. Tự do đối với lòng tham dục của xác thịt:

“Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy?… Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta!” (Rô-ma 7:24, 25)

2. Tự do đối với giả thần: Khi một người đã tin nhận Đức Chúa Trời thì không còn thờ lạy các giả thần và không còn bị chế ngự bởi Satan:

“Hỡi các con cái bé mọn, phần các con, là thuộc về Đức Chúa Trời, đã thắng được họ rồi, vì Đấng ở trong các con là lớn hơn kẻ ở trong thế gian.”(I Giăng 4:4)

3. Tự do đối với tội lỗi và sự chết:

“Vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa. Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi.” (Rô-ma 6:6,7)

“Khi anh em đã chết bởi tội lỗi mình và sự xác thịt mình không chịu cắt bì, thì Đức Chúa Trời đã khiến anh em sống lại với Đấng Christ, vì đã tha thứ hết mọi tội chúng ta.” (Cô-lô-se 2:13)

“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.” (Giăng 5:24)

“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời Ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ.” (Giăng 8:51)

“Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết.” (I GIăng 3:14)

Kết luận

Lời phán của Đức Chúa Jesus Christ được ghi lại trong Giăng 8:32 là bí quyết để có được sự tự do thật:

“Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.”

Lẽ thật chính là Lời của Đức Chúa Trời:

“Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh. Lời Cha tức là lẽ thật.” (Giăng 17:17)

Lời của Đức Chúa Trời cũng chính là Đức Chúa Jesus Christ:

“Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời… Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha.” (Giăng 1:1, 14)

“Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.” (Giăng 14:6)

Biết lẽ thật chính là biết Đức Chúa Jesus. Chúng ta biết được Đức Chúa Jesus qua Thánh Kinh là Lời Chúa và bởi sự giảng dạy, dẫn dắt của Đức Thánh Linh:

“Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy.” (Giăng 5:39)

“Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi.” (Giăng 16:13, 14)

Tự do thật chỉ có trong Đức Chúa Jesus Christ!

Chú thích

[1] http://www.latimes.com/news/local/la-me-methodist17-2008jul17,0,484099.story

Huỳnh Christian Timothy
Ngày 10-08-2008

 

Share This:

Mão Triều Thiên

5,487 views

Nhấp vào nút play  ►để nghe

Phần 1

 

Phần 2

 

Phần 3

 

Mão

Chữ mão dùng cho năm loại mão kể trên, (được dịch là crown trong tiếng Anh,) trong nguyên tác tiếng Hy-lạp của Thánh Kinh là στέφανος (stephanos), phát âm là /stef’-an-os/. Chữ này có nghĩa là:

1. Mũ lễ để tỏ ra người đội nó thuộc về hoàng gia hoặc vọng tộc (gia đình của vua hoặc gia đình có danh tiếng).

2. Mũ lễ để tỏ ra người đội nó nắm giữ quyền cai trị, như mão của vua, quan…

3. Vòng hoa danh dự đội trên đầu được ban thưởng cho những người thắng giải trong các cuộc tranh tài thể thao hoặc những công dân lập thành tích xuất sắc trong khi thi hành bổn phận.

Cả ba ý nghĩa này đều có thể áp dụng cho năm loại mão Chúa ban cho con dân của Chúa. Người đội mão tỏ ra mình là con cái của Đức Chúa Trời, tức là thuộc về hoàng gia, vọng tộc của Đức Chúa Trời, được đồng trị với Đấng Christ, được khen thưởng vì những công khó đã lập nên trong lúc còn ở trong thân thể xác thịt. Đức Chúa Trời là Đấng giàu có vô hạn cho nên sự ban thưởng của Ngài cũng là vô hạn. Ngoài sự sống đời đời ban cho những ai tin nhận Đấng Christ, Đức Chúa Trời còn có những phần thưởng để thưởng cho mỗi người tùy theo công việc họ làm. Như vậy, năm loại mão nói trên tức là những phần thưởng phước hạnh đời đời do Đức Chúa Trời ban cho những con dân ngay lành và trung tín của Ngài.

Chúng ta không biết năm loại mão trên đây có hình thức như thế nào nhưng dựa vào một số ghi chép trong Thánh Kinh về mão trong Nước Trời chúng ta có thể cho rằng những loại mão này được làm bằng vàng:

“Chung quanh ngôi lại có hai mươi bốn ngôi; trên những ngôi ấy tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão ngồi, mặc áo trắng và đầu đội mão triều thiên vàng.” (Khải Huyền 4:4)

“Tôi nhìn xem, thấy một đám mây trắng; có kẻ giống như một con người ngồi trên mây, đầu đội mão triều thiên vàng, tay cầm lưỡi liềm bén.” (Khải Huyền 14:4)

Vàng là kim loại quý hiếm, được dùng làm các vật dụng trong đền thờ Đức Chúa Trời: lư hương bằng vàng, hòm giao ước bọc bằng vàng, bình đựng ma-na bằng vàng (Hê-bơ-rơ 9:4). Thành Giê-ru-sa-lem trên trời có tường bằng vàng ròng và đường đi cũng được lát bằng vàng ròng (Khải Huyền 21:18, 21). Vàng còn được dùng làm biểu tượng cho phẩm chất quý giá và chân thật của thành quả trong sự phục vụ Chúa của chúng ta (I Cô-rinh-tô 3:12). Nếu việc làm của chúng ta được Chúa ví như vàng thì phần thưởng cho việc làm đó là mão làm bằng vàng là điều hợp lý.

Mão Của Sự Sống

“Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.”

(Gia-cơ 1:12)

“Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mão triều thiên của sự sống.”

(Khải Huyền 2:10)

Mão của sự sống khác với sự sống đời đời Chúa ban cho bất kỳ người nào tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Tất cả những người được vào Nước Trời đều có sự sống đời đời mà không cần phải làm gì hết ngoại trừ tin nhận Đấng Christ, nghĩa là thật lòng từ bỏ tội và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua cái chết của Đấng Christ trên thập tự giá. Nhưng để có mão của sự sống thì một người phải “chịu nổi sự thử thách” nghĩa là phải “giữ trung tín cho đến chết.” Sự sống đời đời là ân điển, tức là ơn thương xót của Đức Chúa Trời ban cho những ai tin nhận Đấng Christ. Mão của sự sống là phần thưởng của Đức Chúa Trời ban cho những ai trung tín giữ vững đức tin trong mọi nghịch cảnh, mọi thử thách. Muốn nhận được mão sự sống một người phải chịu khổ vì danh Chúa đến nổi sẵn sàng hy sinh mọi phương tiện sống và chính mạng sống của mình.

Sự sống đời đời trở thành nội tại tính của người tin nhận Đấng Christ nhưng mão của sự sống trở thành ngoại tại tính của người trung tín với Chúa trong mọi sự thử thách. Phải chăng, những người được Chúa ban cho mão của sự sống là những người được ban cho sự hiểu biết những mầu nhiệm của sự sống và được đồng trị với Đấng Christ về phương diện điều hành các nguyên tắc bí ẩn của sự sống?

Mão Của Sự Không Hay Hư Nát

“Hết thảy những người đua tranh, tự mình chịu lấy mọi sự kiêng kỵ, họ chịu vậy để được mão triều thiên hay hư nát. Nhưng chúng ta chịu vậy để được mão triều thiên không hay hư nát.”

(I Cô-rinh-tô 9:25)

Trong nền văn hóa La-mã và Hy-lạp, những người thắng giải trong các cuộc giác đấu hoặc các cuộc thi tài về thể thao hoặc những công dân có hành động dũng cảm, liều mình cứu sống một công dân khác, được tặng cho một mão hoa là loại mão kết bằng lá và hoa (thường là lá ô-li-ve, lá nguyệt quế, hoặc lá thông). Những mão này dĩ nhiên là héo úa, phai tàn theo thời gian. Thế nhưng, những người tranh tài thể thao đã phải bỏ nhiều công sức tập luyện lâu dài, chịu nhiều sự kiêng cử để có thể nắm phần chiến thắng; những người liều mình cứu giúp người khác đương nhiên chấp nhận sự nguy hiểm cho chính mạng sống của mình.

Trong Chúa, những người “tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình” (Lu-ca 9:23; Ma-thi-ơ 16:24; Mác 8:34) đi theo Chúa, những người vì Danh Chúa mà “chịu khổ như một người lính giỏi” (II Ti-mô-thê 2:3), những người không còn yêu thế gian và những sự thuộc về thế gian (I Giăng 2:15) nhưng yêunhững sự ở trên Trời (Cô-lô-se 3:1, 2), là những người sẽ nhận lãnh mão của sự không hay hư nát. Trong cõi đời đời, đương nhiên tất cả mọi sự đều là không hay hư nát. Phải chăng, những người được Chúa ban cho mão của sự không hay hư nát là những người được ban cho sự hiểu biết về huyền nhiệm của sự vĩnh cửu và được đồng trị với Đấng Christ về phương diện điều hành các nguyên tắc bí ẩn của sự vĩnh cửu?

Mão Của Sự Công Bình

“Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, những cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài.”

(II Ti-mô-thê 4:8)

Công bình là thuộc tính của Đức Chúa Trời. Sự công bình đi đôi với sự phán xét. Tất cả muôn loài thọ tạo đều phải ứng hầu trước mặt Đức Chúa Trời để chịu sự phán xét bởi Ngài. Tuy nhiên, hễ ai tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ thì được Ngài kể là người công bình. Người được Chúa kể là công bình thì không còn bị phán xét về tội lỗi (Rô-ma 8:1). Chẳng những vậy, Đức Chúa Trời ban cho con dân của Ngài quyền phán xét các thiên sứ và thế gian, tức là phán xét những thiên sứ phạm tội và những người không tin nhận sự cứu rỗi của Ngài:

“Anh em há chẳng biết các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian sao? Ví bằng thế gian sẽ bị anh em xét đoán, thì anh em há chẳng đáng xét đoán việc nhỏ mọn hơn sao? Anh em chẳng biết chúng ta sẽ xét đoán các thiên sứ sao? Huống chi việc đời nầy!” (I Cô-rinh-tô 6:2, 3)

Phải chăng quyền phán xét ấy được thể hiện qua mão của sự công bình, là mão Chúa ban cho những người “đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin” (II Ti-mô-thê 4:7) tức là những người yêu mến sự hiện đến của Đấng Christ? Lời Chúa dạy: “chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật” (I Giăng 3:18) cho nên ai yêu mến sự hiện đến của Chúa thì phải tỏ ra bằng việc làm và lẽ thật. Việc làm và lẽ thật của người yêu mến Chúa là:

1. Đánh trận cùng ma quỷ và thắng trận tốt lành:

“Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy” (Ê-phê-sô 6:12)

2. Hoàn tất cuộc chạy thuộc linh: nghĩa là tận dụng thời gian để sống cho Chúa, sống vì Chúa, sống phục vụ Chúa:

“Nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi-líp 3:14)

3. Giữ vững đức tin (II Ti-mô-thê 4:7)

Mão Của Sự Vui Mừng

“For what is our hope, or joy, or crown of rejoicing? Are not even ye in the presence of our Lord Jesus Christ at his coming?”

“Vì sự trông cậy, vui mừng và mão của sự vui mừng chúng tôi là gì, há chằng phải là anh em cũng được đứng trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta trong khi Ngài đến sao?”

(I Tê-sa-lô-ni-ca 2:19)

Trong bản dịch Việt ngữ của Phan Khôi, câu Thánh Kinh trên được dịch là: “Vì sự trông cậy, vui mừng và mão triều thiên vinh hiển của chúng tôi là gì, há chằng phải là anh em cũng được đứng trước mặt Đức Chúa Jêsus chúng ta trong khi Ngài đến sao?” Trong nguyên tác của Thánh Kinh không phải là “mão triều thiên vinh hiển” mà là “mão của sự vui mừng.” Phân tích câu này chúng ta nhận thấy có những điểm sau đây:

1. Phao-lô là người rao giảng Tin Lành và ông xưng nhận rằng khi Đấng Christ đến mà những người đã nhận biết Chúa qua sự giảng dạy của ông vẫn đứng vững trong đức tin thì chính sự kiện đó là niềm hy vọng, là nỗi vui mừng của những người hầu việc Chúa như ông.

2. Chẳng những người hầu việc Chúa vui mừng khi thấy người nghe đạo đứng vững trong đức tin mà trong ngày Chúa đến người hầu việc Chúa còn được nhận lãnh mão của sự vui mừng.

Phải chăng mão của sự vui mừng là sự thông hiểu về niềm vui của chính Đức Chúa Trời khi có một tội nhân ăn năn tội và quyền đồng trị với Đấng Christ về phương diện điều hành các nguyên tắc thể hiện sự vui mừng trong cõi đời đời? Bên cạnh sự ban thưởng mão của sự vui mừng, “những kẻ dắt đem nhiều người về sự công bình sẽ sáng láng như các ngôi sao đời đời mãi mãi.” (Đa-ni-ên 12:3)

Mão Của Sự Vinh Hiển

“Hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em; làm việc đó chẳng phải bởi ép tình, bèn là bởi vui lòng, chẳng phải vì lợi dơ bẩn, bèn là hết lòng mà làm, chẳng phải quản trị phần trách nhiệm chia cho anh em, song để làm gương tốt cho cả bầy. Khi Đấng làm đầu các kẻ chăn chiên hiện ra, anh em sẽ được mão triều thiên vinh hiển, chẳng hề tàn héo.”

(I Phi-e-rơ 5:2-4)

Sứ đồ Phi-e-rơ là người đầu tiên được Chúa giao cho nhiệm vụ chăn giữ chiên của Ngài (Giăng 21:15, 16, 17) cho nên không lạ gì khi ông viết về sự ban thưởng dành cho những người trung tín trong chức vụ chăn bầy. Trong Hội Thánh thuở ban đầu, các Hội Thánh địa phương được chăm sóc bởi các trưởng lão là những người tin kính Chúa và hội đủ những tiêu chuẩn được ghi rõ trong I Ti-mô-thê 3:1-7:

“Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội Thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 20:28)

Người mang thiên chức chăn bầy không nhất thiết phải là các trưởng lão trong Hội Thánh mà còn là người cha, người chồng trong gia đình chăm sóc vợ con; người bà, người mẹ chăm sóc con cháu mồ côi cha; người anh, người chị chăm sóc bầy em; và người chăm sóc những người yếu kém đức tin hơn mình trong Hội Thánh.

Mão vinh hiển của người chăn bầy có lẽ là mão cao trọng nhất vì phải chăng người được ban thưởng mão vinh hiển là người thấu hiểu sự vinh hiển của Đức Chúa Trời tức là sự chiếu sáng của thuộc tính Ngài: Tình Yêu, Thánh Khiết, và Công Chính? Và phải chăng, những người được ban cho mão vinh hiển đồng trị với Chúa trong việc ban phát sự vinh hiển từ Đức Chúa Trời cho những người được cứu?

Thánh Kinh ghi rõ mức độ sự vinh hiển của mọi vật khác nhau như sau:

“Lại cũng có hình thể thuộc về trời, hình thể thuộc về đất, nhưng vinh quang của hình thể thuộc về trời với vinh quang của hình thể thuộc về đất thì khác nhau. Vinh quang của mặt trời khác, vinh quang của mặt trăng khác, vinh quang của ngôi sao khác; vinh quang của ngôi sao nầy với vinh quang của ngôi sao kia cũng khác.” (I Cô-rinh-tô 15:40, 41)

Vì thế, chúng ta có thể tin rằng sự vinh hiển của mỗi người trong Nước Trời sẽ khác nhau, tùy thuộc vào lòng yêu kính, vâng phục Chúa, và thành quả của công tác hầu việc Chúa của mỗi người trong lúc còn sống trong xác thịt này.

Những người chăn tận tụy, trung tín với thiên chức phải chịu nhiều thử thách, tủi nhục, thiệt thòi… lại còn phải nêu gương sáng trong nếp sống đạo cho bầy chiên thì thật là xứng đáng để đón nhận phần thưởng cao nhất.

Kết luận

Có sự sống khác với có hiểu biết về sự sống và được nắm quyền cai trị sự sống. Được sống đời đời khác với có hiểu biết về sự đời đời và được nắm quyền cai trị sự đời đời. Được đối xử công bình khác với có sự hiểu biết về luật pháp và được nắm quyền phán xét theo luật pháp. Có niềm vui khác với sự hiểu biết nỗi vui mừng của Đức Chúa Trời và được nắm giữ các nguyên tắc biểu hiện sự vui mừng. Có vinh hiển khác với có sự hiểu biết về sự vinh hiển và được nắm giữ các nguyên tắc thể hiện sự vinh hiển. Nói một cách cụ thể, những điều ấy cũng tương tự như có điện trong nhà để sử dụng khác với có sự hiểu biết về điện và nắm quyền điều hành các nguyên tắc phân phối điện, sử dụng điện.

Cảm tạ sự nhân từ thương xót của Chúa vì Ngài đã ban cho mỗi chúng ta có cơ hội để nhận sự ban thưởng của Ngài bằng cách đã sắm sẵn cho chúng ta việc lành để làm:

“Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.” (Ê-phê-sô 2:10)

Lời Chúa phán rất tỏ tường rằng:

“Nầy, Ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với Ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.” (Khải Huyền 22:12)

Cho nên, chắc chắn rằng mỗi con dân của Chúa sẽ nhận được phần thưởng Chúa ban cho tùy thuộc vào sự trung tín của mỗi người.

Huỳnh Christian Timothy
20/07/2008

 

Share This:

Chó & Heo

2,257 views

Nhấp vào nút play  ►để nghe

 

Share This:

Thưởng và Phạt

2,326 views

Nhấp vào nút play  ►để nghe

I. Sự phán xét những người không tin nhận Chúa

Thánh Kinh chép:

“Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét.” (Hê-bơ-rơ 9:27)

Bởi vì:

“Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không. Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng. Chúng nó có chơn nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu. Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn, Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an. Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó… vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma 3:10-18; 23)

Đây là sự phán xét chung cuộc dành cho tất cả những người không ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Mỗi người sẽ bị phán xét tùy theo từng hành vi, cử chỉ, lời nói, và tư tưởng tốt hay xấu mà người đó đã có trong suốt thời gian sống trong thân thể xác thịt này. Tốt là thánh khiết, đúng theo tiêu chuẩn đạo đức của Chúa đã được ghi chép trong lương tâm và Thánh Kinh. Xấu là tội lỗi, nghịch lại tiêu chuẩn thánh khiết của Chúa. Đối với Chúa, lòng ham muốn bất chính, tư tưởng tội hoặc lời nói tội đều bị phán xét:

“Các ngươi có nghe lời phán rằng: Ngươi chớ phạm tội tà dâm. Song ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đờn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi.” (Ma-thi-ơ 5:27, 28)

“Người lành do nơi đã chứa điều thiện mà phát ra điều thiện; nhưng kẻ dữ do nơi đã chứa điều ác mà phát ra điều ác. Vả, Ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt.” (Ma-thi-ơ 12:35-37)

“Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn.” (I Ti-mô-thê 6:10)

“Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy. Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra.” (I Giăng 2:15, 16)

Thánh Kinh mô tả về sự phán xét chung cuộc như sau:

“Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa.Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.Biển đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm.Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.” (Khải Huyền 20:11-15)

“Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.” (Khải Huyền 21:8)

“Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài.” (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9)

II Sự phán xét những người tin nhận Chúa

Sự phán xét những người tin nhận Chúa hoàn toàn khác biệt với sự phán xét những người không tin nhận Chúa. Những người tin nhận Chúa không bị phán xét về mọi hành vi tội lỗi của họ nếu họ thật lòng ăn năn và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Chris. Thánh Kinh khẳng định điều đó:

“Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ; vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Jêsus Christ buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết.” (Rô-ma 8:1, 2)

“Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta. Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta. Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.” (I Giăng 1:7-9)

Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết.” (I Giăng 3:14)

Sự phán xét những người tin nhận Chúa là phán xét về nếp sống đạo của họ. Sự phán xét này được chính Đấng Christ nêu rõ trong các ngụ ngôn sau đây:

  • Ngụ ngôn về tiệc cưới (Ma-thi-ơ 22:1-14): Sự phán xét những người tin Chúa nhưng nương cậy vào sự công nghĩa của cá nhân, nương cậy vào việc làm công đức thay vì nương cậy vào sự công nghĩa của Đấng Christ.

  • Ngụ ngôn về đầy tớ không trung tín (Ma-thi-ơ 24:45-51); Ngụ ngôn về quản gia bất trung (Lu-ca 12:42-46): Sự phán xét những tôi tớ bất trung của Đức Chúa Trời.

  • Ngụ ngôn về các ta-lâng (Ma-thi-ơ 25:14-30); Ngụ ngôn về các nén bạc (Lu-ca 19:11-27): Sự phán xét những người tin Chúa nhưng không trung tín trong việc sử dụng các ân tứ và phương tiện Chúa ban để góp phần rao giảng Tin Lành và làm vinh hiển Danh Chúa.

Sự phán xét những người tin nhận Chúa đưa đến hai kết quả: Kết quả khen thưởng cho những người có nếp sống kính sợ Chúa và vâng phục Ngài. Kết quả hình phạt cho những người không kính sợ Chúa, sống theo ý riêng. Điều đáng chú ý ở đây là hình phạt của những người tin Chúa nhưng sống theo ý riêng chính là hình phạt của những người không tin Chúa:

“Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.” (Ma-thi-ơ 22:13)

“Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.” (Ma-thi-ơ 24:51)

“Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy quăng nó ra ngoài là chỗ tối tăm, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.” (Ma-thi-ơ 25:30)

Nơi có khóc lóc và nghiến răng chính là hỏa ngục:

“Con người sẽ sai các thiên sứ Ngài thâu mọi gương xấu và những kẻ làm ác khỏi nước Ngài, và quăng những người đó vào lò lửa, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.” (Ma-thi-ơ 13:41, 42)

“Đến ngày tận thế cũng như vầy: các thiên sứ sẽ đến và chia kẻ ác với người công bình ra, ném những kẻ ác vào lò lửa; ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.” (Ma-thi-ơ 13:49, 50)

“Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.” (Khải Huyền 20:14, 15)

Kết luận

Tôi xin dùng lời Chúa trong II Cô-rinh-tô 5:9,10 để kết luận:

“Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa. Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt.”

Huỳnh Christian Timothy
06/07/2008

 

Share This:

Giê-rê-mi 1:18

1,831 views

Nhấp vào nút play  ►để nghe

 

1. Nầy, ngày nay, Ta lập ngươi lên làm thành vững bền, làm cột bằng sắt, làm tường bằng đồng, nghịch cùng cả đất nầy:

Một thành vững bền là một thành có khả năng nội tại để chống cự những cuộc tấn cống của kẻ thù. Đức Chúa Trời đã khiến cho Giê-rê-mi trở nên nhẫn nại, chịu đựng tất cả những cuộc tấn công đến từ những kẻ thù nghịch ông. Một cột bằng sắt cung cấp sự chống đỡ tốt nhất cho mái nhà để bảo vệ người và tài sản khỏi bị thiệt hại bởi các yếu tố thời tiết. Đức Chúa Trời đã khiến cho ý chí của Giê-rê-mi mạnh mẽ đến nỗi không điều chi có thể nghiền nát đức tin của ông. Người công bình sẽ sống bởi đức tin (Rô-ma 1:17; Ha-ba-cúc 2:4). Đức tin bảo vệ chúng ta khỏi bất kỳ điều gì có thể làm cho chúng ta bị tổn hại nhưng chúng ta cần phải có một ý chí kiên cường, quyết ở trong Đức Chúa Trời cho dù bất cứ điều gì xảy ra. Tường bằng đồng là tường được đúc bằng đồng và vào thời đó không một vũ khí nào có thể công phá loại tường như vậy. Đức Chúa Trời đã khiến cho mục vụ của Giê-rê-mi trở thành bất khả bại. Với tất cả những trang bị đó, Giê-rê-mi được Chúa sai đứng lên nói nghịch cùng cả đất.

2. Nghịch cùng các vua Giu-đa, các quan trưởng nó, các thầy tế lễ, và dân trong đất:

Nghịch cùng cả đất là nghịch cùng tất cả mọi người sống trong toàn xứ. Các vua của Giu-đa và các quan trưởng nó là những nhà cai trị về phương diện chính trị. Các thầy tế lễ là những người lãnh đạo về phương diện thuộc linh. Dân trong đất là mỗi một công dân của vương quốc. Nói nghịch cùng họ là:

  • Xét nghiệm nếp sống của họ:

“Ta đã lập ngươi làm kẻ thử và đồn lũy giữa dân Ta, đặng ngươi nhận biết và dò xem đường lối nó.” (Giê-rê-mi 6:27)

  • Công bố tội lỗi của họ:

“Ta sẽ rao sự xét đoán Ta nghịch cùng chúng nó, vì điều ác chúng nó đã làm; bởi chưng chúng nó đã lìa bỏ Ta, đốt hương cho các thần khác, và thờ lạy việc tay mình làm ra.” (Giê-rê-mi 1:16)

“Có nước nào thay đổi thần của mình, mặc dầu ấy chẳng phải là thần không? Nhưng dân Ta đã đổi vinh hiển mình lấy vật vô ích! Hỡi các từng trời, hãy lấy làm lạ về sự đó; hãy kinh hãi gớm ghê, hãy rất tiêu điều, Đức Giê-hô-va phán. Dân Ta đã làm hai điều ác: chúng nó đã lìa bỏ Ta, là nguồn nước sống, mà tự đào lấy hồ, thật, hồ nứt ra, không chứa nước được.” (Giê-rê-mi 2:11-13)

Ngày hôm nay, chúng ta ngồi đây và đọc những lời Đức Chúa Trời đã phán cùng Giê-rê-mi, chúng ta có cảm nhận rằng Đức Chúa Trời đang phán trong lòng của chúng ta, kêu gọi chúng ta nói nghịch cùng đất nước này không?

Các vua và quan của đất nước này đã lấy đi sự trưng bày các điều răn của Đức Chúa Trời, quyền cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, và quyền đọc Lời Chúa trong những nơi công cộng. Các vua và quan của đất nước này đã làm ra những đạo luật cho phép giết hại trẻ em trong lòng mẹ và hợp pháp hóa hôn nhân giữa những người đồng tính luyến ái.

Các thầy tế lễ của đất nước này, tức là các Cơ-đốc nhân, yêu mến thế gian, theo đuổi thế gian, sống như thế gian, và có mùi của thế gian. Chỉ cần mở TV lên là chúng ta có thể thấy vô số những người gọi là “Nhà Truyền Giảng Tin Lành” giảng đủ thể loại của một “tin lành khác” (Ga-la-ti 1:6, 7) 24 tiếng đồng hồ một ngày, bảy ngày một tuần, đến hàng tỉ người khắp nơi trên thế giới! Hàng chục ngàn người, tuần này sang tuần khác, ngồi trong những nơi gọi là “Đại Hội Thánh” (mega churches) để uống cạn lời giảng của những người nói trên, đặt lòng tin của họ vào các thần của đời này, vào sự giàu có, thịnh vượng của thế gian! Có bao nhiêu người trong số những người gọi là Cơ-đốc nhân có thể tỏ ra cho thế gian thấy được chứng tích của một Cơ-đốc nhân, tức là lòng yêu thương lẫn nhau như Đấng Christ đã yêu thương chúng ta (Giăng 13:35)? Dân của đất nước này đã lìa bỏ Đức Chúa Trời, “đốt hương cho các thần khác, và thờ lạy việc tay mình làm ra” (Giê-rê-mi 1:16).

Nếu chúng ta cảm nhận rằng Giê-rê-mi 1:18 là tiếng của Đức Chúa Trời gọi chúng ta đứng lên nói nghịch cùng cả đất Hoa Kỳ này thì chúng ta hãy tự xét nghiệm chính mình trước. Hãy tra xét lòng mình, xưng nhận mọi tội lỗi, và tiếp nhận sự tha thứ của Chúa.

Chúng ta có thật lòng cầu thay cho sự cứu rỗi của dân sự? Chúng ta có thật lòng “dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời” (Rô-ma 12:1)? Chúng ta có thật lòng “phó chính mình… cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình” (Rô-ma 6:13)? Ít ra, chúng ta chưa thành tín trong chức thầy tế lễ mà chúng ta đã nhận được qua sự đổ huyết của Đấng Christ (Khải Huyền 1:6; tham khảo Xuất Ê-díp-tô Ký 29:21). Ít ra, chúng ta chưa thành tín trong chức vụ tiên tri của Đức Chúa Trời, cảnh báo dân sự về sự hư mất của những người không tiếp nhận Chúa (Giăng 3:36). Ít ra, chúng ta chưa thành tín trong chức vụ vua mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta khi chúng ta để cho xác thịt của chúng ta tiếp tục cai trị một phần nào đó trong đời sống của chúng ta (I Cô-rinh-tô 9:27).

Chúng ta hãy nói nghịch cùng vua, quan, thầy tế lễ trong mỗi một chúng ta. Chúng ta hãy phục hòa với Đức Chúa Trời trước khi chúng ta nói nghịch cùng cả đất này. Tôi tin rằng đó là tiếng gọi của Đức Chúa Trời đang kêu gọi Hội Thánh trong thời điểm đặc biệt này vì ngày Đấng Christ trở lại đang đến với chúng ta.

Huỳnh Christian Timothy
29/06/2008

 

Share This:

Ngày Tận Thế Theo Thánh Kinh

2,352 views

Nhấp vào nút play  ►để nghe

I. Ý nghĩa của sự tận thế theo Thánh Kinh

“Kẻ nghịch thù gieo cỏ ấy, là ma quỉ; mùa gặt, là ngày tận thế; con gặt, là các thiên sứ. Còn người ta nhổ cỏ lùng mà đốt trong lửa thể nào, thì ngày tận thế cũng sẽ như vậy… Đến ngày tận thế cũng như vầy: các thiên sứ sẽ đến và chia kẻ ác với người công bình ra.” (Ma-thi-ơ 13:39, 40, 49)

“Ngài đương ngồi trên núi ô-li-ve, môn đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế.” (Ma-thi-ơ 24:3)

“Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.” (Ma-thi-ơ 28:20)

Theo nguyên tác, chữ “tận thế” trong các câu Thánh Kinh trên đây có nghĩa là sự hoàn toàn chấm dứt một thời đại:

– Sunteleia [soon-tel’-i-ah] = sự chấm dứt toàn diện.

– Aiōn [ahee-ohn’] = thời đại, theo nghĩa đen = thế gian, theo nghĩa bóng.

Thời đại là một khoảng thời gian trong lịch sử của loài người mà trong khoảng thời gian đó Đức Chúa Trời bày tỏ thánh ý của Ngài cho nhân loại và chờ đợi sự đáp ứng của nhân loại. Hầu hết những lời tiên tri về sự tận thế trong Thánh Kinh đều nói về sự kết thúc thời đại của chúng ta. Sự kết thúc đó xảy ra bởi sự tái lâm của Đấng Christ để tiêu diệt Antichrist và tất cả những người không tin nhận Chúa trước khi thiết lập Vương Quốc Ngàn Năm Bình An của Ngài. Chỉ có một ngoại lệ được ghi lại trong II Phi-e-rơ 3:7-13 là sự tận thế chỉ về sự tiêu diệt toàn thể vũ trụ để lập nên trời mới đất mới. Sự tận thế này xảy ra vào cuối thời đại của Vương Quốc Ngàn năm Bình An:

“7 Nhưng trời đất thời bây giờ cũng là bởi lời ấy mà còn lại, và để dành cho lửa; lửa sẽ đốt nó đi trong ngày phán xét và hủy phá kẻ ác.

8 Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày.

9 Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn.

10 Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chất bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả.

11 Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tôn kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào,

12 trong khi chờ đợi trông mong cho ngày Đức Chúa Trời mau đến, là ngày các từng trời sẽ bị đốt mà tiêu tán, các thể chất sẽ bị thiêu mà tan chảy đi!

13 Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở.”

Sự hủy phá kẻ ác bao gồm sự Đấng Christ tiêu diệt những người tội lỗi vào cuối Thời Đại Ngàn Năm Bình An, sự Đấng Christ ném Satan vào hỏa ngục, và sự tất cả những người không tin nhận Chúa trong mọi thời đại chịu sự phán xét trước Ngai Trắng Lớn của Đấng Christ trước khi bị ném vào hỏa ngục chung với Satan cùng các quỷ sứ của nó cho đến đời đời. Những điều đó được ghi chép rõ trong Khải Huyền 19:7-15.

“7 Khi hạn ngàn năm mãn rồi, quỷ Sa-tan sẽ được thả,

8 và nó ra khỏi ngục mình đặng dỗ dành dân ở bốn phương trên đất, dân Gót và dân Ma-gót; nó nhóm chúng lại để chiến tranh, đông như cát bờ biển.

9 Chúng nó lên khắp các vùng rộng trên mặt đất, vây dinh thánh đồ và thành yêu dấu. Nhưng có lửa từ trên trời rơi xuống thiêu diệt chúng nó.

10 Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời.

11 Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa.

12 Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.

13 Biển đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm.

14 Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.

15 Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.”

II. Các Thời Đại

Hầu hết các nhà giải kinh và các nhà thần học dựa vào Thánh Kinh chia lịch sử loài người ra thành bảy thời đại. Các thời đại có độ dài ngắn khác nhau. Mỗi thời đại đều kết thúc bởi sự phán xét của Đức Chúa Trời trên toàn thể nhân loại. Từ khi loài người được dựng nên cho đến ngày hôm nay, năm thời đại đã qua đi và chúng ta đang sống trong những ngày cuối cùng của thời đại thứ sáu.

1. Thời đại thứ nhất: Thời Đại Vô Tội. Khởi đầu với sự dựng nên loài người và kết thúc với Sự Sa Ngã. Trong thời đại này loài người hoàn toàn vô tội cho đến khi cố ý phạm tội không vâng lời Chúa.

2. Thời đại thứ nhì: Thời Đại Lương Tâm. Khởi đầu với sự loài người bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen và kết thúc với Cơn Nước Lụt. Trong thời đại này Đức Chúa Trời để cho loài người sống theo lương tâm.

3. Thời đại thứ ba: Thời Đại Chính Quyền. Khởi đầu với sự gia đình Nô-ê ra khỏi tàu và kết thúc khi Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ram. Trong thời đại này Đức Chúa Trời để cho loài người tự cai trị lẫn nhau.

4. Thời đại thứ tư: Thời Đại Lời Hứa. Khởi đầu với sự Áp-ram đáp lại sự kêu gọi của Chúa và kết thúc khi Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se. Trong thời đại này Đức Chúa Trời ban lời hứa cho những người đáp lại sự kêu gọi của Ngài.

5. Thời đại thứ năm: Thời Đại Luật Pháp. Khởi đầu với sự Môi-se dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập và kết thúc với sự chết của Đức Chúa Jesus Christ. Trong thời đại này Đức Chúa Trời ban luật pháp cho nhân loại qua dân tộc Y-sơ-ra-ên.

6. Thời đại thứ sáu: Thời Đại Ân Điển, là thời đại mà chúng ta đang sống. Khởi đầu với Sự Phục Sinh của Đấng Christ và kéo dài cho đến khi Đấng Christ tái lâm.

7. Thời đại thứ bảy: Thời Đại Nước Trời Trên Đất, còn gọi là Thời Đại Ngàn Năm Bình An. Khởi đầu với sự Đấng Christ diệt hết những người không tin nhận sự cứu rỗi của Chúa, ném Antichrist và tiên tri giả của Antichrist vào hoả ngục, nhốt Satan vào vực sâu. Thời đại này sẽ kết thúc với sự hủy diệt toàn thể vũ trụ (II Phi-e-rơ 3:10; Khải Huyền 20:11) để lập lại trời mới đất mới (Khải Huyền 21:1). Sau đó, những người thuộc về Chúa sống đời đời với Ngài trong trời mới đất mới, những người chối bỏ Chúa sống đời đời trong hỏa ngục.

II. Sự Chúa đến và tận thế

Sự Chúa trở lại để đem Hội Thánh của Ngài ra khỏi thế gian và sự tận thế là hai sự kiện khác nhau. Xưa nay, các nhà giải kinh cho rằng Đức Chúa Jesus đến thế gian hai lần. Lần thứ nhất để làm sinh tế chuộc tội nhân loại và lần thứ hai để tiêu diệt tội lỗi và thiết lập Nước Trời trên đất. Tuy nhiên, Thánh Kinh cho chúng ta biết Đức Chúa Jesus đến thế gian ba lần:

1. Đức Chúa Jesus đến thế gian lần thứ nhất để làm sinh tế chuộc tội cho nhân loại:

“Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp.” (Ga-la-ti 4:4)

“Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy…” (I Ti-mô-thê 1:15)

2. Đức Chúa Jesu đến thế gian lần thứ hai để đem Hội Thánh về thiên đàng với Ngài:

“Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin Ta nữa. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, Ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đã đi, và sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó.” (Giăng 14:1-3)

“Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.” (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16, 17)

3. Đức Chúa Jesus đến thế gian lần thứ ba để thiết lập Nước Trời trên đất:

“Vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa… Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động. Khi ấy, điềm Con Người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con Người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống. Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia.” (Ma-thi-ơ 24:21, 29-31)

“11 Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chơn Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu.

12 Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được.

13 Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời.

14 Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài.

15 Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng.

16 Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa.

17 Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời,

18 hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dũng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn.

19 Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài.

20 Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt cho thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đương sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng.

21 Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê.” (Khải Huyền 19)

Kết luận

Sự tận thế theo Thánh Kinh bao gồm sự kiện kết thúc Thời Đại Ân Điển để mở đầu cho Thời Đại Ngàn Năm Bình An đồng thời sự kiện Chúa tiêu diệt cả trời đất sau Thời Đại Ngàn Năm Bình An để dựng nên trời mới và đất mới. Cả hai sự kiện tận thế đều không ảnh hưởng trực tiếp đến Hội Thánh của Chúa vì trước đó Hội Thánh sẽ được cất ra khỏi thế gian để ở cùng Chúa luôn luôn.

Sự tận thế để kết thúc Thời Đại Ân Điển là một tiến trình kinh hoàng kéo dài đến bảy năm như đã được báo trước trong Ma-thi-ơ 24 và trình bày chi tiết từng biến cố một trong Khải Huyền 6-19. Sự tận thế này có thể ảnh hưởng sâu đậm đến rất nhiều người đang sống trong thời hiện tại, là những người không tin nhận Chúa và những người đã tin nhận Chúa nhưng chưa dứt khoác với tội lỗi, vẫn còn yêu mến thế gian, sống theo thế gian. Họ sẽ bị bỏ lại trong ngày Chúa giáng lâm lần thứ hai để cất Hội Thánh ra khỏi thế gian. Ngày ấy, có thể sẽ xảy đến trong thời đại của chúng ta!

Huỳnh Christian Timothy
22/06/2008

 

Share This: