A. W. Tozer: Trách Nhiệm Của Cấp Lãnh Ðạo

1,960 views
Tác Giả: A. W. Tozer

Lịch sử của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa chỉ ra một lẽ thật được thấy rõ ràng trong toàn bộ lịch sử, đó là: người dân đang là hoặc sẽ trở nên giống như những người lãnh đạo họ. Các vị vua dẫn đầu về đạo đức cho thần dân mình.

Công chúng không bao giờ có thể tự hành động cách ồ ạt. Không có một người lãnh đạo thì giống như không có đầu, mà thân thể không đầu là một thân thể bất lực.

Lúc nào cũng vậy, phải có ai đó dẫn đầu. Ngay cả bọn du thủ du thực tham gia vào vụ cướp hay mưu sát cũng không phải là một mớ vô tổ chức như vẻ ngoài của nó. Đâu đó đằng sau sự bạo lực là một người lãnh đạo mà ý tưởng của người đó chỉ đơn giản là được thi hành.

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Cơ Ðốc Giáo Ăn Liền

2,111 views

A. W. Tozer

Thật chẳng có gì ngạc nhiên khi những quốc gia trên thế giới bào chế những sản phẩm như trà uống liền, cà phê uống liền, và mì ăn liền. Và rồi thì thế giới cũng cho ra đời một tôn phẩm cao siêu: “Cơ-đốc Giáo Ăn Liền.” Nếu những sản phẩm ăn liền đó đã không xuất xứ từ Hoa Kỳ, thì có một điều không thể phủ nhận được, là chính trào lưu chính thống Mỹ đã đem Cơ-đốc Giáo Ăn Liềnđến cho các Hội Thánh Tin Lành.

Chúng ta bỏ qua một bên Công Giáo La-mã và chủ nghĩa tự do trong những bộ dạng trá hình khác nhau của nó, và hướng sự chú ý lên hình thể của những người Tin Lành, ngay lập tức chúng ta sẽ thấy con dân của Ðấng Christ phải chịu đựng như thế nào ngay chính trong căn nhà của người bạn thân là Hội Thánh. Thiên tài trên nước Mỹ chú ý đến việc làm cho mọi kết quả đạt được nhanh chóng và dễ dàng và không cần quan tâm nhiều đến chất lượng hay tính lâu dài. Ðiều nầy đã sản sinh ra một loại vi khuẩn đầu độc toàn bộ cơ cấu trong Hội Thánh tại Hoa Kỳ từ điều hành, hành chánh, giảng dạy, tổ chức, quy chế, chăm sóc, và những hệ thống khác nữa, và đã gây ảnh hưởng rộng khắp trên thế giới qua những công cuộc truyền giáo.

Đọc Tiếp →

Share This:

Điều Răn: Lấy Danh Chúa Làm Chơi

2,342 views

Lấy danh Chúa làm chơi!

Đừng làm ô danh thánh Ta, thì Ta sẽ được tôn thánh giữa dân Israel: Ta là Đức Giêhôva làm cho các ngươi nên thánh!

Lêviký 22:32

Đức Chúa Jesus dạy chúng ta rằng, mỗi khi cầu nguyện hãy nhân danh Ngài thì lời cầu nguyện của chúng ta sẽ được nhậm: “Các ngươi nhơn danh Ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, Ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh nơi Con. Nếu các ngươi nhơn danh Ta xin điều chi, Ta sẽ làm cho. (Giăng 14:13, 14).

Sứ đồ Phao-lô cũng dạy rằng hễ ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu (Rôma 10:13). Đối với người chưa tin, được cứu là được cứu khỏi hình phạt đời đời trong hoả ngục; còn đối với người đã tin Chúa, được cứu là được cứu khỏi ảnh hưởng của các đồn lũy của tội lỗi, hay cứu khỏi sự đe dọa tính mạng, khỏi bệnh tật, khỏi sự cám dỗ của ma quỉ, v.v. Danh Chúa Jesus do đó là sức mạnh thuộc linh của chúng ta để chống cự với thế lực bóng tối. Cầu nguyện, kêu cầu trong danh Chúa Jesus tức là kêu gào chính Thiên Chúa Ngôi Hai để Ngài đứng trong vị trí của chúng ta mà cầu thay cho chúng ta với Chúa Cha. Do vậy Cơ Đốc nhân thường chấm dứt lời cầu nguyện của mình bằng câu “nhân danh Chúa Jesus, Amen.” Gọi danh Thiên Chúa là một hành động nghiêm trọng nhất một người có thể làm trong đời này và đời sau.
Đọc Tiếp →

Share This:

Thơ: Xin Một Mùa Xuân Trên Quê Hương

1,867 views

Xuân đã về trên quê hương tôi
Quê hương, ngàn dậm cách xa rồi!
Mỗi độ xuân về, tôi vẫn cứ…
Chạnh lòng thương nhớ mãi không thôi!

Thương nhớ ngày xưa nơi quê hương
Dân tôi chân đất, mộng bình thường…
Cuộc sống khó nghèo, tuy vất vả
Nhưng lòng không thiếu nghĩa yêu thương!

Có những mùa xuân không đủ ăn
Ao khô, vườn cháy, ruộng khô cằn…
Xóm dưới, làng trên cùng chia chác
Vài miếng khoai mì… cho có ăn!

Có những mùa xuân lửa chiến chinh
Kéo về thiêu đốt mộng thanh bình
Nhà tan, cửa nát, người phơi xác…
Làng xóm, màu tang phủ trắng tinh!

Ôi! Những mùa xuân trên quê hương
Dân tôi, dù mộng rất bình thường…
Cơm vẫn thiếu ăn, đời vẫn khổ
Mùa xuân nào cũng chỉ thê lương!

Xin một mùa xuân trên quê hương
Dân tôi tiếp nhận nước thiên đường
Tin Lành Cứu Rỗi, đời thôi khổ
Bởi Chúa Nhân Từ luôn xót thương!

Huỳnh Christian Timothy

 

Share This:

Thơ: Có Những Mùa Xuân…

2,280 views

Có những mùa xuân của tuổi thơ,
Nao nức, hồn nhiên, cố đợi chờ…
Tiếng pháo giao thừa bên bếp ấm
Rồi ngủ quên, cười, trong giấc mơ!

Có những mùa xuân giữa chiến tranh
Rừng sâu ôm súng giữ quê lành,
Tiếng súng ngăn thù thay tiếng pháo,
Giữ nước quên mình, quên tuổi xanh!

Có những mùa xuân giữa ngục tù
Đời buồn như sắc lá mùa thu!
Những mùa xuân lắng nghe lòng chết
Nước mất, nhà tan… điệu hát ru!

Có những mùa xuân đời tỵ nạn
Mùa xuân, băng tuyết vẫn chưa tan.
Nghe lòng lạnh buốt thèm hơi ấm
Khói bánh chưng vờn bên mái tranh!

Biết mấy mùa xuân đã trôi qua
Làm thân lữ thứ biệt quê nhà
Cô đơn, mòn mỏi, hồn khô lệ…
Đời nghĩa gì đâu? Một xác hoa!

Mãi đến hôm nay cuối cuộc đời
Nghe lời Chúa gọi, mãnh hồn côi…
Tìm về nương náu Ngôi Ơn Phước
Tội lỗi một đời, Cha xóa bôi.

Từ nay, Thánh Sủng ngập tâm linh
Đời vui đã thấy được bình minh…
Mùa xuân ơn phước, xuân vô tận
Tạ Chúa Muôn Đời, xuân tái sinh!

Huỳnh Christian Timothy

 

Share This:

Giới Thiệu Tác Phẩm: Người Thiên Quốc

1,743 views

"Người Của Thiên Quốc" (Nguyên tác Anh ngữ: "The Heavenly Man") là một chi tiết lịch sử sống động trong vòng ba thập niên qua của Hội Thánh Chúa tại Trung Quốc, qua cuộc đời của một tôi tớ Chúa, anh Yun!

Chúng tôi đọc cuốn sách này qua bản Anh Ngữ và đã không cầm được nước mắt trước những thương khó mà Hội Thánh Chúa nói chung và các tôi tớ Chúa nói riêng, tại Trung Quốc, đã dự phần với Đấng Christ. Cuốn sách này, cùng với cuốn "Hoa Huệ Giữa Chông Gai" là những bài học thuộc linh quý giá, là những bản anh hùng ca đức tin, là chứng tích về tình yêu và quyền năng, phép lạ của Tin Lành cứu rỗi… dành cho con dân Chúa của thời đại hôm nay.

Cảm tạ Chúa đã cho Hội Thánh Việt Nam được hưởng ơn phước nếm trải phước hạnh được học hỏi những bài học thuộc linh quý giá khi Ngài sắm sẵn người dịch thuật hai tác phẩm nói trên. Trong thời gian sắp tới, www.tinlanhvietnam.net sẽ đăng tải tác phẩm "Hoa Huệ Giữa Chông Gai". Riêng về tác phẩm "Người Của Thiên Quốc" xin bạn đọc liên lạc với dịch giả ở cuối bài này để mua sách.  [ Xem tiếp ]

Trong phần giới thiệu này, chúng tôi xin đăng lời giới thiệu của dịch giả và ba chương trong tác phẩm.

Đôi lời của dịch giả Hoàng-Đức-Thành
về cuốn sách "Người Của Thiên Quốc"

Được dịch từ sách "The Heavenly Man" của tác giả Paul Hattaway
(Có giấy phép của Tác giả)

Sau khi đọc vài trang đầu của cuốn sách The Heavenly Man ‘Người của Thiên quốc’ tôi cảm thấy rất xúc động khi thấy một cậu bé người Trung Hoa tên Yun mong ước chỉ được nhìn thấy cuốn Kinh Thánh thôi, em nài nỉ mẹ đến mức độ mẹ em phải dẫn em đến một Mục sư đã ở tù ra vì phong trào Cách mạng văn hóa bên Trung quốc bắt bớ tất cả những nguời theo Chúa. Bà hy vọng là ông hãy còn cuốn Kinh thánh để em được nhìn thấy. Nhưng em không được toại nguyện, lần thứ hai em lần mò đến một minh mà còn được vị Muc sư căn dặn phải nhịn ăn cầu nguyện và khóc với Chúa ngày đêm mới được. Em kiêng ăn, em cầu nguyện, em khóc và em nằm mơ, em kể cho cha mẹ em nghe, cha mẹ tưởng em nhịn đói hóa điên. Nhưng em vẫn kiên trì kiêng ăn cầu nguyện. Cuối cùng em đã được Chúa sai người mang đến ban cho em cuốn Kinh Thánh như trong giấc mơ của em.

Nguyên mấy trang đầu đã khiến tôi muốn dịch cuốn sách này để chia xẻ với các anh chị em trong Chúa. Khi dịch, càng đi sâu vào cuốn sách nước mắt tôi không sao ngưng chẩy vì có nhiều đoạn lúc Yun lớn lên, em đã chịu nhiều cay đắng khổ cực khi em trở thành một nhà truyền giáo rất đắc lực cho Chúa.

Yun đã bị tù ba lần hầu hết là thời gian anh hầu việc Chúa. Anh bị hành hạ đau đớn khổ sở, anh nhịn ăn, nhịn uống 74 ngày trong tù, anh lại càng bị đánh đập nhiều hơn. Anh chịu đựng được là nhờ những Lời Chúa anh thuc lòng trong Kinh thánh. Họ đánh anh thậm chí què luôn cả hai chân không đi được. Nhưng Chúa vẫn yêu thương anh và dùng anh, Chúa đã cứu anh trốn tù bằng những phép lạ. Chúa cũng cho anh xuất khỏi Trung quốc cũng qua phép lạ để anh tiếp tục sứ mạng rao truyền Danh Chúa, cứu vớt linh hồn lạc lõng trở về. Ra khỏi Trung quốc mà anh vẫn phải vô tù, theo anh đó là ý Chúa muốn vì anh chưa làm xong nhiệm vụ. Không những vậy anh còn gánh nặng gia đình gồm vợ và hai con sống trốn tránh rất cực khổ khi vắng anh và sau này tìm cách vượt biên để xum họp gia đình với anh tại Đức quốc.

Theo tác giả Paul Hattaway, đây là một câu chuyện có thật, càng đọc tôi càng thấy Lời Chúa do tác giả dẫn chứng thật là sâu-sắc và là ngọn đèn soi sáng cho những con cái Chúa hầu việc Ngài trong lúc gặp hoạn nạn khổ đau. Chúa luôn luôn lúc nào cũng ở cùng chúng ta.

Xin kính mời quí vị hãy đọc cuốn sách này để biết thêm về vị trí của mình trong bước đường theo Chúa.

Chương Một

Những Buổi Ban Đầu Khiêm Tốn

Tên tôi là Liu Zhenying, những bạn Cơ đốc của tôi thường gọi tôi là anh Yun.

Vào một buổi sáng mùa thu năm 1999, tôi thức dậy trong thành phố Bergen thuộc miền tây nước Thụy điển. Lòng tôi thấy rộn ràng và hồi hộp sôi sục trong tôi. Tôi đã nói chuyện tại những Hội Thánh suốt xứ Scandinavia, làm chứng về những Hội Thánh Tư gia bên Trung quốc và mời những Cơ đốc nhân đến với chúng tôi vì chúng tôi truyền rao Phúc âm cho khắp nước Trung Hoa và cả những quốc gia ngoài nữa. Những người tôi mời, họ hỏi tôi là nếu tôi muốn đến thăm mộ cô Marie Monsen, mt nữ Giáo sĩ Lutheran nổi tiếng tại Trung quốc, cô là người đã được Chúa sử dụng một cách mãnh liệt để phấn hưng các Hội Thánh ở nhiều nơi trong xứ sở tôi từ năm 1901 đến 1932. Mục vụ truyền giáo của cô đặc biệt nhằm vào phía nam tỉnh Henan, nơi mà tôi từ đó đến.

Cô Monsen là một mẫu người nhỏ nhắn, nhưng là rất to lớn, một vĩ nhân trong vương quốc của Chúa. Hi Thánh Trung quốc chẳng những đã bị chấn động bởi lời giảng của cô mà lại còn bị thách thức mãnh liệt bởi nếp sống của cô. Cô hoàn toàn dâng hiến đời mình và đầu phục Chúa Jê-sus mt cách cương quyết. Cô để lại cho chúng tôi một tấm gương sáng về sự chịu đựng và thương khó khi hầu việc Chúa.

Chúa sử dụng Marie Monsen bằng một cách đầy quyền năng, do đó nhiều phép lạ, dấu kỳ và những việc lạ lùng đã xẩy đến trong mục vụ của cô. Cô trở về Thụy điển năm 1932 để phụng dưỡng cha mẹ già và kể từ đó công việc hầu việc Chúa của cô tại Trung quốc coi như hoàn tất. Cô không bao giờ còn trở lại Trung Hoa nữa, nhưng để lại một đức tin bất khuất, lòng sốt sắng không thể dập tắt được và sự cần thiết trong việc thay đổi lòng người để được hoàn toàn giao phó những gì Đấng Christ mong muốn vẫn còn sống mãi trong các Hi Thánh Trung Hoa cho tới ngày nay.

Bây giờ thì tôi có một đặc quyền lớn là viếng thăm mộ của cô ngay tại xứ sở của cô. Tôi tự hỏi không biết có người Cơ đốc Trung Hoa nào đã bao giờ được hưởng thụ đặc quyền mà tôi sắp thụ hưởng không? Khi cô đến phần đất Trung Hoa của chúng tôi, lúc đó chỉ có vài người tin Chúa và Hi Thán
h rất yếu ớt. Ngày nay có hàng triệu tín đồ. Thay mặt cho họ tôi tỏ lời cảm tạ Chúa cho cuc đời của cô.

Xe của chúng tôi leo lên nghĩa địa, bên cạnh ngọn đồi trong thung lũng chật hẹp với con sông chảy qua. Chúng tôi đi b xung quanh vài phút hy vọng thấy tên của cô trên một trong hàng trăm tấm mộ bia. Không tài nào kiếm thấy mộ cô Monsen, chúng tôi bèn đến văn phòng để hỏi. Người quản nhiệm tại đó cũng không quen với tên của cô nên phải lật sách coi trong danh sách những người chết đã chôn ở đây. Sau khi lật những trang giấy ông ta nói với chúng tôi rằng thật là khó khăn mới kiếm thấy rằng ‘Marie Monsen thực sự đã chôn cất tại đây vào năm 1962. Nhưng mộ của cô không được ai chăm sóc nhiều năm qua, do đó ngày nay chỉ là mt khu đất trống mà không có mộ bia.

Theo phong tục người Trung Hoa việc tưởng nhớ những người quá cố rất được thịnh hành trong nhiều thế hệ nay, do đó tôi không bao giờ ngờ được rằng sự việc đó lại xẩy ra. Những tín hữu địa phương cắt nghĩa rằng họ đã tưởng nhớ tới cô bằng nhiều cách, tỉ như in sách nói về tiểu sử của cô sau khi cô chết. Nhưng đối với tôi việc không làm dấu tích gì mộ của cô là một sỉ nhục mà cần phải sửa đổi lại cho đúng.

Tôi thật đau lòng. Với tấm lòng nặng trĩu tôi nghiêm nghị nói với những Cơ đốc nhân Thụy điển đi cùng với tôi: ‘Các anh chị phải vinh danh người phụ nữ trong Chúa này! Tôi để cho qúy vị hai năm nữa để xây cất một ngôi m và mộ bia tưởng nhớ đến Marie Monsen, nếu qúy vị không làm, tôi sẽ dàn xếp với những anh chị em Cơ đốc khác đi bộ suốt từ bên Trung Hoa đến Thụy điển để xây! Có rất nhiều anh em tại Trung Hoa rất khéo léo về việc đẽo đá vì họ ở trong tù nhiều năm, lao động trong tù vì Tin Lành của Chúa. Nếu qúy vị hờ hững họ sẽ rất sẵn lòng để làm việc đó.’

* * *

Tôi sanh năm 1958, trong năm nhuận của Trung quốc – là ngưòi con thứ tư trong số năm người con trong gia đình. Tôi ra đời trong một làng cổ xưa sống theo cổ truyền chuyên về nghề nông có tên là Liu LaoZhuang trong Phường Nanyang, ở về phía nam tỉnh Henan Trung quốc.

Henan gồm có khoảng 100 triệu linh hồn – là một tỉnh Trung quốc rất đông dân cư. Mặc dù vậy dường như cũng có nhiều nơi bỏ hoang nơi tôi lớn lên – có nhiều đồi để trèo, nhiều cây để leo. Mặc dù đời sống khó khăn, nhưng tôi cũng vẫn còn nhớ thời gian vui đùa khi tôi còn là đứa trẻ.

Tất cả 600 người trong làng tôi đều là tá điền, và họ còn làm cho tới ngày giờ này. Không thay đổi gì nhiều lắm. Chúng tôi phần lớn trồng khoai, bắp và lúa mạch. Chúng tôi cũng trồng bắp cải và nhiều loại củ.

Nhà của chúng tôi theo kiến trúc rất đơn giản gồm đất sét khô. Mái thì lợp bằng rơm dạ. Nước mưa thường chảy qua những lỗ hổng trên mái, về mùa đông thì gió lạnh không bao giờ quên thổi qua những kẽ hở của tường. Khi nhiệt độ hạ xuống dưới độ đông lạnh thì chúng tôi đốt những vỏ khô của bắp còn lại để cho ấm. Chúng tôi không thể cung cấp than được.

Thường thì vào mùa hè, trời nóng và ẩm thấp chúng tôi không thể nào chịu nổi khi ngủ bên trong nhà với lối thoáng khí nghèo nàn. Chúng tôi kéo giường ra ngoài và cả gia đình chúng tôi cùng với một số gia đình trong làng ngủ với gió mát ngoài trời.

‘Henan’ có nghĩa là ‘phía Nam con sông’ Con sông tên Mầu vàng đã phân xé phần đất phía Bắc của tỉnh. Nó thường lụt ti và đã mang bệnh hoạn đến từ nhiều thế kỷ nay cho những người sống dọc theo bờ sông. Chúng tôi biết như vậy vì chúng tôi lớn lên tại đó, nhưng đối với chúng tôi miền Bắc Henan rng có cả triệu dặm xa.

Làng của chúng tôi được qui tụ trong những trái đồi ở phần phía Nam của tỉnh, an toàn khi bị ngập lụt và ngoài vòng ảnh hưởng. Chúng tôi chỉ quan tâm đến mùa gặt tới. Đời sống của chúng tôi hoàn toàn xoay quanh chu kỳ của việc cầy sới, trồng trọt, tưới nước và gặt hái. Cha tôi thường nói chịu khổ để có đủ thực phẩm mà ăn. Cho nên các bàn tay đều phải sử dụng ngoài đồng, dù tôi còn nhỏ tôi cũng bị gọi ra ngoài đó để giúp anh và chị tôi. Bởi vậy cho nên, tôi không có cơ hi đến trường học nhiều.

So với vùng khác của Trung Hoa ai sanh tại Henan thì có tiếng là bướng bỉnh như lừa. Có lẽ vậy mà tính bướng bỉnh này đã ngăn cản những người tại Henan tin nhận Chúa khi những Giáo sĩ Tin lành đến tỉnh này lần đầu tiên vào năm 1884. Có nhiều nhà Truyền giáo hầu việc tại Henan mà không thấy kết quả gì. Vào năm 1922 sau gần bốn mươi năm cố gắng truyền giảng mà chỉ có 12,400 tín hữu Tin lành cho toàn tỉnh bộ. Những kẻ chấp nhận tin vào tôn giáo ‘con quỉ ngoại bang’ thì trông rất nực cười và bị dân chúng tẩy chay. Thường thường sự chống đối tràn ra đến độ họ dùng cả đến những từ ngữ hung bạo. Những Cơ đốc nhân bị đánh đập. Có cả vài người bị giết vì đức tin. Ngay cả những Giáo sĩ cũng vậy, phải đối diện với hình phạt
đó. Nhiều người gán cho những Giáo sĩ là công cụ của đế quốc thực dân, được gởi từ những nước của họ đến để thu hút lòng dân chúng Trung Hoa ngõ hầu chính quyền họ sẽ xâm chiếm đất đai, cướp nguyên liệu thiên nhiên. Sự lăng nhục những người ngoại quốc đã lên đến cực điểm vào năm 1990 khi có một hi bí mật được gọi là ‘Những người đô vật’ xúi dục toàn dân tẩy chay những người ngoại quốc.

Đa số trốn thoát khỏi ngoại trừ có nhiều Giáo sĩ sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh tại ni địa Trung quốc, xa hẳn với nơi an toàn như những thành phố lớn ven biển. Những tên đô vật tàn nhẫn tàn sát hơn 150 Giáo sĩ và cả ngàn người Trung Hoa mới tin nhận Chúa.
Những linh hồn can đảm này đã đến để cứu vớt quốc gia chúng tôi, mang tình yêu của Chúa Jê-sus Christ đến cho chúng tôi họ đã hy sinh và bị thảm sát. Họ đã đến để đồng công với Đấng Christ nâng cao mức sống của chúng tôi bằng việc xây cất nhà thương, viện mồ côi và trường học. Vậy mà chúng tôi đã trả ơn họ bằng sự tàn sát.

Hậu qủa có người tưởng là với biến cố năm 1900 đủ để làm cho những nhà Truyền giáo sợ hãi mà sẽ chẳng bao giờ đến nữa.

Nhưng họ đã lầm.

Vào ngày 1 tháng chín năm 1901, mt chiếc tầu lớn đậu ở bến cảng Shanghai. Một người đàn bà trẻ độc thân từ Thụy điển đã đặt chân lên đất Trung Hoa lần đầu tiên tên là Marie Monsen cô là một trong những làn sóng mới các Giáo sĩ đã thông biết sự tàn sát năm trước đây đã hiến dâng mình hầu việc Chúa truyền giáo toàn thời gian cho nước Trung Hoa.

Monsen ở tại Trung quốc hơn ba chục năm. Thời gian mà cô sống ở khu vực chúng tôi, Nanyang, cô đã khuyến khích và huấn luyện cho mt nhóm tín hữu Trung Hoa bừng dậy lên.
Marie Monsen khác với những Giáo sĩ khác. Cô dường như không quan tâm đến việc đề cao những người lãnh đạo các Hi Thánh. Cô thường nói với họ rằng ‘Quí vị là những người ích kỷ! quí vị chỉ nhận ti với Chúa Jê-sus Christ bằng đầu môi chót lưỡi trong khi đó lòng quí vị chưa thực sự hứa hẹn với Ngài! Hối cải việc đó thì quá mun để thoát khỏi sự phán xét của Chúa!’ Cô đã mang lửa từ bàn thờ Chúa đến.

Cô Monsen nói với những Cơ đốc nhân là học biết về sự tái sanh như vậy chưa đủ, họ phải tái sanh tận gốc rễ để được vào vương quốc của Chúa. Với lời dạy dỗ như vậy cô đã nhấn mạnh gt bỏ sự hiểu biết qua lý trí đối với Chúa mà họ phải có trong ni tâm mt cuc sống đầy dãy Thánh linh. Những tấm lòng đã hối cải vì ti lỗi và lửa phục hưng đã thổi qua các làng trung tâm Trung quốc bất cứ nơi nào cô đặt chân tới.

Vào năm 1940 một Giáo sĩ phương Tây khác đến giảng về Lời Chúa cho mẹ tôi, lúc đó bà mới hai mươi tuổi. Mặc dù bà không hoàn toàn hiểu nhưng bà rất có thiện cảm với những gì bà nghe. Đặc biệt là bà thích hát thánh ca và nghe những chuyện trong Kinh thánh mà những nhà truyền giáo chia xẻ trong nhóm nhỏ khi họ đi thăm viếng miền quê. Chẳng bao lâu mẹ tôi đến nhóm với Hội Thánh và trao trọn cuc đời cho Chúa Jê-sus Christ.

Trung quốc trở thành mt nước Cng sản vào năm 1949, trong vòng vài năm sau tất cả các Giáo sĩ đều bị trục xuất, các nhà thờ đóng cửa, và hàng ngàn vị Mục sư Trung Hoa bị nhốt tù. Nhiều người mất mạng. Mẹ tôi trông thấy những Giáo sĩ rời khỏi Nanyang trước năm 1950. Bà không bao giờ quên những giọt nước mắt trên má họ khi họ phải ra bến cảng dưới sự dẫn độ của những người lính có võ trang. Mục vụ của họ đã chấm dứt một cách tức tưởi.

Chỉ có một thành phố tại Trung quốc là Wenzhou ở tỉnh Zheuiang có 49 Mục sư bị nhốt tù khổ sai gần biên giới Liên sô vào năm 1950. Nhiều người bị kết án trên mười hai năm về ti đã rao giảng Tin Lành. Trong số 49 Mục sư chỉ có mt người sống sót và trở về nhà còn 48 người kia đều chết trong tù.

Khu vực nhà tôi ở Nanyang, những tín đồ bị đóng đinh lên tường của nhà thờ vì đã không từ chối Đấng Christ. Những người khác thì bị xích vào xe và ngựa kéo lết đi cho tới chết.
Có mt vị Mục sư bị trói và ct vào một sợi dây thừng dài. Chức quyền giận điên lên vì người của Chúa này không chịu từ chối đức tin nên họ đã dùng chiếc cần của xe cần trục kéo ông lên cao. Trước hàng trăm nhân chứng đến buộc tội gian là ‘chống đối cách mạng’, vị Mục sư được hỏi lần cuối cùng rằng ông có chịu từ chối không. Ông la lớn lên trả lời: ‘Không! tôi sẽ không bao giờ từ chối Chúa của tôi là Đấng đã cứu tôi!’ Chiếc dây thừng được thả xuống và vị Mục sư bị dập nát dưới mặt đất.

Sau khi khám xét, những tên hành hạ đó đã khám phá thấy vị Mục sư chưa chết hẳn nên chúng dựng ông dậy kéo ông lên cao lần thứ hai thả dây xuống để kết liễu đời ông. Trong cuộc đời này vị Mục sư đã chết nhưng ông sống trên Thiên đàng với phần thưởng của một người đã trung kiên cho tới chết.
< br />Cuộc đời không có gì là khó khăn đối với những Cơ đốc nhân. Chủ tịch Mao đã đề xướng ra một kinh nghiệm mà ông ta gọi là ‘Một bước nhẩy vọt’ cái đó đã kéo theo một đống người chết đói tại Trung Hoa. Thực sự bước nhảy vọt đó đã kéo tổ quốc họ thụt lùi. Ở trong tỉnh tôi tại Henan có vào khoảng tám triệu người chết đói.

Trong thời kỳ khó khăn đó có Hội Thánh bé nhỏ còn non nớt được mọc rải rác ở phố tôi ở là Nanyang. Họ như những con chiên không có người chăn. Mẹ tôi cũng phải rời khỏi Hội Thánh. Qua những thế hệ sau, vì hoàn toàn đói khát về sự thông công với các tín hữu và không có Lời Chúa. Mẹ tôi quên hầu hết những gì bà đã học khi bà còn trẻ. Sự tương giao với Chúa đã trở nên ngụi lạnh.

* * *

Vào ngày 1 tháng Chín năm 2001 – đúng một trăm năm kể từ ngày mà cô Marie Monsen lần đầu tiên đến Trung quốc để truyền giáo – có trên ba trăm Cơ đốc nhân người Thụy điển đến tụ tập tại nghĩa địa Bergen để cầu nguyện và làm mt buổi lễ hiến dâng. Một mộ bia mới được đặt lên để tưởng nhớ cô Monsen đã trả giá cho việc đóng góp của bà vào các Hi Thánh và những cá nhân người Cơ đốc.

Hình cô Monsen và tên cô bằng tiếng Trung Hoa được xuất hiện trên mộ bia như sau:

Marie Monsen 1878 -1962
Giáo sĩ tại Trung Quốc 1901-1932

Chương Hai

Người Đói Khát Được No Bụng

‘Hỡi các cù lao, hãy nghe ta! Hỡi các dân xa lạ hãy ghé tai! Đức Giê-hô-va đã gọi ta từ trong bụng mẹ đã nói đến danh ta từ lòng dạ mẹ ta.’ (Ê-sai 49:1)

Chúa đã gọi tôi theo Ngài lúc tôi mới 16 tuổi. Năm đó là năm 1974, và cuộc Cách mạng văn hóa vẫn còn dữ di khắp Trung Hoa.

Lúc đó cha tôi bị đau. Ông bị xuyễn rất nặng, nó làm cho ông bị ung thư phổi. Ung thư đó đã lây ra bao tử của ông. Bác sĩ cho hay ông không thể cứu được nữa và sẽ chết, và nói với mẹ tôi: ‘Không còn hy vọng gì cho chồng bà nữa, hãy về lo sửa soạn chôn cất.’

Mỗi đêm cha tôi nằm trên giường rất khó thở. Vì là người mê tín dị đoan nên cha tôi đã nhờ những người hàng xóm kiếm cho mt thầy phù thủy đến để tống khứ ma quỉ khỏi ông, vì ông tin rằng bệnh hoạn của ông là do kết quả của sự tức giận của ma quỉ.

Bệnh hoạn của cha tôi đã làm cho chúng tôi hết cả tiền của và sức lực. Bởi vì sự nghèo đói của chúng tôi mà tôi không được đến trường học cho tới khi tôi lên chín, rồi thì tôi phải nghỉ học lúc mười sáu tuổi vì bệnh ung thư của cha tôi. Anh chị tôi và tôi buc phải đi xin thức ăn tại hàng xóm và bạn bè để sống.

Cha tôi trước kia là Đại úy trong Quân đi Quốc gia, ông đã chiến đấu chống Cộng sản, những người ở làng khác và những ngươi bị hành hạ rât ghét ông trong cuc cách mạng văn hóa. Cha tôi đã giết rất nhiều người trong chiến trận và chính ông cũng súyt chết. Ông bị tất cả mười hai vết sẹo đạn bắn vào chân ông.

Khi tôi mới sanh, cha tôi đặt tên tôi là ‘Zhenying’ tên này có nghĩa là ‘Anh hùng của đơn vị đồn trú’
Cha tôi có tiếng là hay sợ sệt. Hàng xóm tránh né ông vì tính nết hung dữ của ông. Khi Đi Phòng vệ Đỏ đến để buc ti ông trong thời cách mạng văn hóa, ông phải chịu đựng nhiều cuc tra tấn đánh đập. Ông đã can đảm từ chối nhận ti và không trả lời khi hỏi đến việc ông đã giết bao nhiêu người. Ông cứng đầu thà là bị đánh hay là bị giết chứ không muốn nói cho chúng biết những gì chúng muốn nghe.

Có hai phương diện của cha tôi. Hầu hết mọi người đều biết cha tôi cực kỳ cứng rắn và nóng tính. Điều đó là đúng. Ông đã răn dạy các con hai điều chính yếu: thứ nhất là phải tàn bạo và cứng rắn với kẻ khác, thứ hai là luôn luôn phải làm việc tích cực.

Nhưng tôi cũng còn nhớ về mặt hòa nhã của ông. Ông luôn luôn che chở vợ con từ những hãm hại bên ngoài. Nói chung là tôi rất gần với cha tôi. Tôi hy vọng cha tôi sức khỏe khá hơn, nhưng trường hợp còn tồi tệ hơn. Mẹ tôi ở trong thế nặng nề, đối diện với những viễn tượng nản chí phải mt mình nuôi nấng năm đứa con. Bà không biết những gì sẽ xảy đến cho chúng tôi nếu cha tôi chết. Mọi sự đều vô vọng đến nỗi bà dự định tự vận.

Có một đêm khi mẹ tôi nằm trên giường, hoàn toàn thức giấc. Bất chợt bà nghe thấy rõ ràng tiếng nói dịu dàng đầy thương xót nói rằng: ‘Chúa Jê-sus yêu con.’ Bà quì gối xuống sàn và nước mắt trào ra hối lỗi và trao trọn vẹn cuc đời bà cho Chúa Jê-sus Christ. Giống như người con hoang đàng, mẹ tôi đã trở về nhà với Chúa. Ngay lập tức bà gọi hết mọi người trong gia đình đến và cầu nguyện với Chúa Jê-sus. Bà nói với chúng tôi ‘Chúa Jê-sus là nguồn hy vọng duy nhất của cha con.’ Tất cả mọi chúng tôi dâng cả đời sống cho Chúa khi chúng t
ôi biết sự việc đó xảy ra. Chúng tôi, mọi người đặt tay lên cha tôi trong đêm và lớn tiếng cầu nguyện: ‘Lạy Chúa Jê-sus, xin Ngài chữa lành cho cha con! Chúa Jê-sus ơi xin Ngài chữa cho cha con!’

Ngay sáng sớm hôm sau cha tôi thấy khỏe hẳn lại! Đây là lần đầu tiên trong những tháng dài ông ăn đã thấy ngon miệng. Trong vòng một tuần lễ cha tôi bình phục hoàn toàn và không còn dấu vết gì là bị ung thư! Thật là một phép lạ vĩ đại từ nơi Chúa.

Chúng tôi đã kinh nghiệm được sự phấn hưng từ nơi Chúa trong gia đình và đời sống của chúng tôi đã thay đổi mt cách mạnh mẽ. Thật đó là mt thời gian tác đng mạnh trong ngày hôm đó vì gần 30 năm sau khi Chúa Jê-sus chữa lành bệnh cho cha tôi, tất cả năm người con của ông vẫn còn theo Chúa.

Cha mẹ tôi rất đi ơn Chúa về những điều Ngài đã làm và cha mẹ tôi đã tức thì làm chứng tin vui này cho mọi người trong làng. Vào những ngày đó tụ họp là bất hợp pháp, nhưng cha mẹ tôi nghĩ ra mt chương trình là sai chúng tôi đi mời họ hàng bè bạn đến nhà chúng tôi.

Mọi người đến nhà chúng tôi cũng không biết lý do gì được mời đến. Nhiều người đoán chắc là cha tôi chết, do đó họ đã mặc quần áo chỉnh tề để dự đám tang! Họ rất ngạc nhiên là thấy cha tôi ra chào đón họ ở ngoài cửa, trông b thật khỏe mạnh! Khi tất cả họ hàng và bạn bè đã đến đông đủ, cha mẹ tôi mới mời họ vô trong nhà. Khóa cửa và che cửa sổ lại rồi cha mẹ tôi mới giải thích rằng cha tôi hoàn toàn được chữa lành bởi sự cầu nguyện với Chúa Jê-sus. Tất cả họ hàng bạn bè đều quì gối xuống sàn nhà và vui mừng tiếp nhận Chúa Jê-sus là Chúa là Chủ của họ.

Những giây phút đó thật là lý thú. Không những tôi tiếp nhận Chúa Jê-sus là Cứu Chúa của đời sống tôi nhưng tôi cũng còn trở nên một người thực sự muốn hầu việc Ngài với tất cả tấm lòng.

Mẹ tôi chưa bao giờ học đọc và viết chữ, nhưng bà đã trở nên mt người giảng lời Chúa trong làng. Bà đã hướng dẫn một Hi Thánh nhỏ trong nhà chúng tôi. Mặc dù còn nhỏ tôi không thể nhớ nhiều lời Chúa nhưng mẹ tôi luôn luôn cổ vũ chúng tôi hướng về Chúa Jê-sus. Khi mà chúng tôi lớn tiếng kêu cầu Chúa thì Chúa Jê-sus giúp đỡ chúng tôi với lòng thương xót của Ngài. Nhìn trở lại những ngày đó mới đây, tôi rất đỗi ngạc nhiên sao Chúa đã sử dụng mẹ tôi mặc dù bà vô học và chẳng biết gì cả. Chí hướng trong lòng bà hoàn toàn trao cho Chúa Jê-sus. Có mt vài giới lãnh đạo các Hội Thánh Tư gia tại Trung quốc gặp Chúa lần đầu tiên cũng do lời giảng của mẹ tôi.

Lúc đầu tôi thực sự không biết Chúa Jê-sus là ai, nhưng khi nhìn thấy Chúa chữa lành bệnh cho cha tôi và giải phóng gia đình tôi. Tôi hiến dâng cuc đời tôi một cách tin tưởng cho Chúa, Đấng đã chũa lành cho cha tôi và cứu tôi. Trong thời gian ấy, tôi thường hỏi mẹ tôi Chúa Jê-sus thực sự là ai. Bà trả lời :’Chúa Jê-sus là Con của Đức Chúa Trời, Ngài đã chết trên thập tự giá vì chúng ta, gánh lấy hết ti-lỗi và bệnh tật của chúng ta. Ngài đã ghi tất cả những điều dạy dỗ của Ngài trong Kinh thánh.’

Tôi hỏi rằng có những lời nào của Chúa Jê-sus còn lại để tôi có thể đọc được không. Bà trả lời: ‘Không, tất cả những lời ấy đã bị mất rồi. Không có gì còn lại qua lời của Ngài. Đó là vì trong thời kỳ cách mạng văn hóa Kinh thánh không còn thấy nữa.’

Kể từ ngày đó tôi thiết tha mong muốn có mt cuốn Kinh thánh của riêng tôi. Tôi hỏi mẹ tôi và các bạn Cơ đốc rằng cuốn Kinh thánh hình thù nó giống ra sao, nhưng chẳng ai biết cả. Có một người đã trông thấy một khúc Thánh kinh viết tay và các tờ bài hát nhưng chưa bao giờ được thấy nguyên cuốn Kinh thánh. Chỉ có một vài Cơ đốc nhân già cả có thể nhớ lại đã nhìn thấy Kinh thánh nhiều năm trước đây. Lời của Chúa thật là hiếm hoi trong ni địa.Tôi thật thèm khát có được một cuốn Kinh thánh. Nhìn thấy sự thất vọng của tôi, mẹ tôi nhớ lại có mt ông cụ già sống ở làng bên.

Ông đã là một Mục sư trước ngày cách mạng văn hóa.
Hai mẹ con tôi bắt đầu đi b thật xa đến được nhà ông. Khi thấy ông, mẹ tôi nói với ông lòng khao khát của chúng tôi:

‘Chúng tôi mong chờ hoài để được nhìn thấy cuốn Kinh thánh, cụ có cuốn nào không?’

Tức thì ông nhìn chúng tôi một cách sợ hãi. Ông già này đã bị gần 20 năm trong tù vì đức tin của ông. Ông nhìn tôi và nhìn thấy tôi còn trẻ và nghèo nàn, với b quần áo rách tả tơi đi chân không. Ông già cảm thấy thương hại nhưng cũng vẫn không muốn cho tôi thấy cuốn Kinh thánh của ông.

Tôi không trách cứ gì ông bởi vì trong những n
gày ấy tại Trung quốc Kinh thánh rất hiếm. Không ai được phép đọc bất cứ sách nào ngoại trừ cuốn sách nhỏ màu đỏ của Mao. Nếu thấy ai đọc Kinh thánh thì Kinh thánh sẽ bị đốt và người có cuốn Kinh thánh với cả gia đình sẽ bị đánh đập tàn nhẫn ngay trước mặt làng xóm.

Vị Mục sư cao niên chỉ vẻn vẹn nói với tôi: ‘Cuốn Kinh thánh là mt cuốn sách Thánh, nếu cháu muốn có một cuốn thì cháu cần phải cầu nguyện với Chúa ở trên Thiên đàng. Thì Ngài sẽ cung cấp cho cháu cuốn sách Thánh ấy. Chúa là thành tín. Ngài luôn luôn nhậm lời khi ai tìm kiếm Ngài với tất cả tấm lòng.

Tôi hoàn toàn tin tưởng ở lời của vị Mục sư này.

Khi tôi trở về nhà, tôi vác một hòn đá vào trong phòng tôi và quì lên đó cầu nguyện vào mỗi chiều tối. Tôi chỉ cầu nguyện có mt điều đơn giản: ‘Chúa ơi, Chúa làm ơn cho con cuốn Kinh thánh, A-men.’ Lúc đó tôi không biết cách cầu nguyện ra làm sao, nhưng tôi cứ tiếp tục hơn một tháng.

Không có gì xảy ra cả. Kinh thánh cũng không thấy xuất hiện.

Tôi trở lại nhà của vị Mục sư đó nữa. Lần này tôi đi một mình. Tôi nói với cụ: ‘Cháu đã cầu nguyện Chúa theo như lời cụ dạy, nhưng cháu vẫn chưa nhận được cuốn Kinh thánh mà cháu rất cần. Cụ ơi, cụ làm ơn cho cháu thấy cuốn Kinh thánh ra sao đi, chỉ liếc mắt nhìn thôi cháu cũng mãn nguyện rồi! Cháu cũng không cần sờ vào cuốn đó nữa. Cụ cứ giữ lấy nó. Cháu cũng hả lòng khi được nhìn thấy cuốn sách đó. Nếu cháu có thể chép được một vài câu thì cháu sẽ sung sướng khi về nhà.’

Vị Mục sư này nhìn thấy lòng áy náy của tôi. Cụ lại nói với tôi thêm nữa: ‘Nếu cháu thực lòng, thì từ nay cháu khỏi cần quì gối cầu nguyện với Chúa nữa, nhưng cháu phải kiêng ăn và khóc với Chúa. Cháu càng khóc nhiều chừng nào thì cháu sẽ có cuốn Kinh thánh sớm chừng đó.’

Tôi trở về nhà, mổi sáng và mỗi chiều tôi chẳng ăn uống gì. Mỗi buổi chiều tôi chỉ húp có chút ít cháo hoặc ăn chút cơm. Tôi kêu gào khóc lóc như đứa trẻ đối với Cha nó trên Thiên đàng là muốn được đầy lời dạy dỗ của Cha. Một trăm ngày sau, tôi cầu nguyện xin mt cuốn Kinh thánh cho tới chừng tôi không thể chịu đựng nổi được nữa. Cha mẹ tôi tin chắc là tôi đã mất trí.

Nhìn lại những năm trước gần đây, tôi có thể nói rằng đây là những kinh nghiệm khó khăn nhất mà tôi đã từng chịu đựng.

Rồi thì bỗng nhiên mt buổi sáng lúc 4 giờ, sau nhiều tháng xin Chúa trả lời những lời cầu nguyện của tôi, tôi đã được nhìn thấy một khải tượng từ nơi Chúa trong lúc tôi quì gối bên cạnh giường. Trong khải tượng ấy tôi thấy tôi đang leo lên mt ngọn đồi, cố đẩy mt chiếc xe phía trước tôi. Tôi hướng về một làng nơi này tôi dự định xin thức ăn cho gia đình tôi. Tôi cố sức vật ln vì đói và yếu và đã chịu đựng khi kiêng ăn. Chiếc xe gần như tụt xuống đè lên tôi.

Lúc đó tôi thấy có ba người đang đi tới xuống đồi hướng nghịch về phía tôi. Có một người lớn tuổi thật tốt, ông để b râu quai nón dài đang đẩy mt xe đầy bánh bao nóng hổi. Hai người kia đi cặp hai bên xe. Khi ông già đó nhìn thấy tôi, ông rất thương hại tôi và để tỏ lòng thương xót, ông hỏi tôi: ‘Cháu có đói không?’ Tôi trả lời: ‘Thưa có, cháu chẳng có gì để ăn cả. Cháu đang đi xin thức ăn cho gia đình cháu.’Tôi khóc vì gia đình quá nghèo. Vì cha tôi bị bệnh, chúng tôi đã bán hết mọi thứ đáng giá để mua thuốc cho cha tôi. Chúng tôi còn chút ít tiền để sống, và cũng đã nhiều năm nay chúng tôi đã buc phải đi xin thức ăn từ các bạn bè và hàng xóm. Khi mà ông già đó hỏi tôi, tôi có đói không, tôi không thể đừng được mà bật lên tiếng khóc. Tôi chưa bao giờ thấy mt tình yêu chân thật và lòng trắc ẩn của bất kỳ người nào trước đây như vậy.

Trong khải thị đó, ông già cầm một bao đỏ có bánh từ trong chiếc xe ra và bảo hai người hầu cận trao cho tôi. Ông nói: ‘Cháu phải ăn ngay đi.’

Tôi liền mở bao ra và nhìn thấy một chiếc bánh bao còn nóng hổi bên trong. Khi tôi bỏ chiếc bánh vô miệng, bất chợt nó trở thành cuốn Kinh thánh! tôi thấy tôi bất thình lình qùy xuống với cuốn Kinh thánh và lớn tiếng cảm tạ ơn Chúa. ‘Chúa ơi, Danh Chúa đáng tôn thờ! Chúa không coi thường lời cầu nguyện của con. Chúa đã cho phép con có được cuốn Kinh thánh này. Con muốn hầu việc Chúa suốt cuc đời còn lại của con.’

Tôi thức dậy bắt đầu đi kiếm cuốn Kinh thánh trong nhà. Mọi người trong nhà đều ngủ cả. Khải thị tôi thấy thật là rõ rệt khi tôi thể hiện thì nó chỉ là mt giấc mộng, tôi thật là đau khổ, tôi khóc thật là lớn. Cha mẹ tôi vi chạy ùa vô phòng tôi để xem việc gì đã xẩy ra
. Cha mẹ tôi cho rằng tôi phát khùng vì tôi đã nhịn ăn để cầu nguyện . Tôi kể lại cho cha mẹ tôi về khải thị đó của tôi, nhưng khi tôi càng chia xẻ thì cha mẹ tôi lại càng cho tôi là điên khùng! Mẹ tôi nói: ‘Trời chưa sáng, chưa có ai đến nhà mình. Cửa còn khóa kỹ.’

Cha tôi ôm chặt lấy tôi. Với nước mắt trào ra, ông khóc với Chúa. ‘Chúa kính yêu ơi, xin Chúa thương xót con của con. Xin Chúa đừng để cho con của con mất trí. Con sẵn lòng bị bệnh trở lại nếu việc đó làm cho con của con khỏi mất trí. Xin Chúa háy cho con của con mt cuốn Kinh thánh!’

Cha tôi, mẹ tôi và tôi quì xuống tay trong tay và cùng khóc.

Bất thình lình tôi nghe thấy tiếng gõ cửa yếu ớt. Một tiếng nói êm dịu gọi tên tôi. Tôi vi chạy đến và hỏi qua cửa khóa: ‘Ông mang bánh đến cho tôi hả?’ Tiếng nói êm dịu trả lời: ‘Vâng, tôi mang đến mt bữa tiệc bánh cho cậu.’ Tức thì tôi nhận ra ngay tiếng nói đó y như tiếng nói tôi đã nghe trong khải tượng.

Tôi vi mở cửa ra thì đứng xững trước mặt tôi là cũng hai người hầu cận mà tôi đã thấy trong khải thị. Một người cầm mt túi đỏ trong tay. Tim tôi đập mạnh khi tôi mở túi ra và cầm lên trong tay cuốn Kinh thánh của chính tôi!

Hai người vi vã rời khỏi trong đêm tối tĩnh mịch.

Tôi ôm ghì cuốn Kinh thánh mới này của tôi vào lòng và qùy xuống ngay ngoài cửa. Tôi lại tạ ơn Chúa nữa và nhiều nữa. Tôi hứa với Chúa Jê-sus rằng kể từ nay về sau tôi sẽ nghiền gẫm lời Chúa như là đứa trẻ đang đói. Sau này tôi khám phá ra được tên của hai người này. Một là anh Wang và người kia là anh Sung. Họ từ một làng xa. Họ nói với tôi về một Giáo sĩ mà tôi chưa bao giờ được gặp mặt. Ông này đau khổ khủng khiếp trong thời gian cách mạng văn hóa và suýt chết khi bị chúng hành hạ.

Khoảng trước ba tháng ngày tôi nhận được cuốn Kinh thánh của tôi thì vị Giáo sĩ này nhận được khải thị từ Chúa. Chúa cho ông thấy mt cậu bé mà ông phải trao cho cuốn Kinh thánh ông đã dấu kín. Trong sự mặc khải đó ông thấy nhà của chúng tôi và cả nơi ở của chúng tôi trong làng nữa.

Giống như nhiều Cơ đốc nhân vào thời đó, ông cụ ấy đã đặt cuốn Kinh thánh của cụ vô trong chiếc hp và chôn thật sâu xuống đất, hy vọng rằng mt ngày nào đó sẽ đến, ông có thể đào lên và còn đọc lại được. Mặc dù với khải thị ông thấy nhưng cũng phải đợi vài tháng ông mới quyết định thi hành điều Chúa đã bảo ông làm. Ông yêu cầu hai Cơ đốc nhân khác trao cuốn đó cho tôi. Và rồi họ phải đi bộ suốt đêm mới tới nhà tôi. Sau đó tôi cầu nguyện với Chúa Jê-sus với lời cầu nguyện trung tín. Tôi hoàn toàn tin vào Lời Chúa trong Kinh thánh, tôi luôn luôn mang theo cuốn Kinh thánh, ngay cả khi tôi đi ngủ, tôi để nó trên ngực tôi. Tôi ghiền gẫm lời dạy dỗ trong đó như đứa trẻ đang cơn đói.

Đây là món quà đầu tiên tôi chưa bao giờ nhận được từ nơi Chúa khi cầu nguyện.

* * *

Deling: Vào khoảng thời gian đó Chúa sửa soạn cho chồng tôi anh Yun mt cuc sống hầu việc Chúa bằng lời Ngài . Anh cũng kêu gọi tôi cùng anh và hướng dẫn tôi làm cng sự viên của anh. Tôi sanh năm 1962 tại quận Nanyang thuc tỉnh Hen, trong mt làng có tên là Yenzhang. Làng của anh Yun ở cách tôi khoảng vài dậm.

Gia đình tôi thì thật là nghèo. Với bẩy anh chị em, chúng tôi khó mà có quần áo để mặc, thực phẩm để ăn.

Khi nghĩ lại thời thơ ấu, tôi nhớ là thời hạnh phúc hòa với sự vật ln để sống. Đồng rung của chúng tôi ở cách nhà khoảng mt dậm, do đó chúng tôi phải cuốc b đi và về hàng ngày, vác theo những dụng cụ nặng nề và đồ dùng cho nông trường. Chúng tôi cũng phải dắt trâu bò tới đó đi và về hàng ngày.

Chúng tôi là trẻ nít nên được giao cho việc vặt là vác bông gòn hái được mang về nhà bằng những rổ nặng, treo tòng teng trên gánh. Chúng tôi trượt té trong bùn. Đôi khi mất cả tiếng đồng hồ mới vác được về tới nhà. Đó là mt công việc nặng nề gãy sống lưng.

Đời sống tôi bị chi phối bởi sự chống trọi với bệnh loãng máu. Nếu tôi bị đứt thịt, máu sẽ không ngưng chảy trong khoảng thời gian khá lâu. Dường như tôi cứ phải băng bó chân tay bằng những miếng rẻ rách để ngăn chặn máu chảy.

Mẹ tôi thì vì bị áp lực lạ lùng đè lên bà nên bị bệnh tâm thần. Ban ngày thì có vẻ tỉnh táo nhưng về đêm chúng tôi nghe thấy bà nói mt mình, khi cười khi khóc. Đôi khi bà nói chuyện với bức tường như nói với một người nào vậy.

Sau khi mẹ tôi tin Chúa, sự bình an của Chúa dần dần chiếm hữu, bà phục hồi và tỉnh táo lại. Đây là mt bằng chứng mạnh mẽ cho gia đình và hàng xóm chúng tôi.

Lúc đầu tôi tin Chúa qua một sự đau đớn về thể xác rất dữ dội. Người hàng xóm t&ocir
c;i là một bà Cơ đốc nhân, bà hứa với tôi một câu rất đơn giản là: ‘Nếu tôi tin Chúa Jê-sus thì Ngài sẽ chữa lành cho’ Khi tôi 18 tuổi tôi trao cuc đời tôi cho Chúa Jê-sus Christ.

Ngay tối hôm đầu tiên với tư cách là mt tín hữu tôi đã dự một buổi nhóm đầu tiên tại Hội Thánh. Nhân viên An ninh công cng đến, chúng tôi đều phải chạy trốn trong đêm tối. Đây là việc khởi đầu giới thiệu về những gì khi tôi theo Chúa!

Vài ngày sau tôi được nhận phép báp-têm, tôi nhận được mt khải thị rõ rệt của Chúa khi tôi đang ngủ. Có một người dẫn tôi đến mt cái ao trong đó chứa nước thật trong như pha lê. Tôi được bảo phải rửa tay và chân bởi vì tôi đã hoàn toàn bị thương vì bệnh tật của tôi. Trong khải tượng, tôi thấy tôi nhúng tay và chân đầy sẹo vô nước và tôi thấy sao da thịt tôi được lành và mới. Sáng ngày hôm sau khi tôi tỉnh dậy tôi thấy da của tôi giống như da của đứa trẻ mới sanh! Việc gì đã xẩy đến cho tôi trong khải thị mà bây giờ lại xẩy đến trong lúc tôi đang ngủ!

Tôi bây giờ không còn khổ sở vì bệnh loãng máu của tôi nữa.

Bởi vì phép lạ vĩ đại mà Chúa đã thể hiện trên tôi. Trong khi đó cuc sống của chúng tôi vẫn còn bị khó khăn vì phải đương đầu với sự khủng bố hàng ngày. Nhưng tôi hứa với Chúa là tôi quyết theo Chúa Jê-sus bằng mọi giá.

Có hai người đàn bà còn trẻ đã tin nhận Chúa cùng lúc với tôi. Chúng tôi cùng nhóm họp với nhau. Họ thì sống phía bên kia của quận nên chúng tôi phải đi b tới hơn một tiếng mới tới đó. Sau buổi nhóm tôi phải đi bộ một mình về nhà. Như thế thật là nguy hiểm bởi vì trời thì tối và có những tên côn đồ và chó dữ ở ngoài đường vào ban đêm.

Chúa đã làm phép lạ vĩ đại để che chở và giúp tôi những buổi sáng sớm trong ngày ấy. Nhiều đêm khi tôi đi bộ về nhà tôi nhìn thấy ánh sáng cách xa tôi khoảng mười thước, dường như có người đang cầm đèn dẫn lối tôi đi. Trong đêm tối như vậy tôi thường hay bị lạc đường, lúc đó tôi thấy ánh sáng, giống như ngôi sao chỉ đường cho tôi quay trở lại đi đúng đường. Ánh sáng không có chiếu liên tục. Nó chỉ bật lên khi tôi đi ln đường.

Vì những kinh nghiệm đó nên đức tin của tôi lớn mạnh rất nhanh……

[Xem tiếp: Cuộc Vượt Ngục Lạ Lùng]

 

Share This:

Người Thiên Quốc: Cuộc Vượt Ngục Lạ Lùng

1,740 views

Chương Hai Mươi Hai

Cuộc Vượt Ngục Lạ Lùng

Hãy chờ dậy và đứng lên’ (Công vụ các Sứ đồ 26:16)

Đây là một điểm thấp nhất trong đời tôi là tôi đã cay đắng than phiền Chúa.

Tôi đã 39 tuổi rồi mà không thấy tương lai hy vọng gì cho tôi cả. Tôi nói với Chúa: ‘Khi con còn trẻ, Chúa gọi con để đi rao truyền Tin Lành cho Chúa ở phương Tây và phương Nam. Bây giờ con làm sao có thể làm được? Con ngồi ở đây trong tù với đôi chân gẫy và cam chịu mục nát ở chỗ này cho đến ngày con chết. Con cũng không bao giờ được gặp gia đình con nữa. Chúa đã đánh lừa con!’

Có rất nhiều tin đồn những gì sẽ xảy đến cho tôi nữa. Ngay cả bên ngoài, những tín hữu biết rằng việc bắt bớ tôi rất là nghiêm trọng vì đó là lệnh từ chính quyền trung ương. Và bây giờ, anh Xu lại đề nghị với tôi là tôi phải tìm cách trốn! Tôi biết anh Xu là người của Chúa, anh thường nghe tiếng phán của Chúa rất gần, do đó tôi trịnh trọng trả lời với anh rằng: Chân tôi bị nát rồi và tôi bị khóa cứng trong sà-lim tôi với cửa sắt. Tôi cũng không thể đi được nữa! làm sao tôi trốn? Chân anh không sao cả. Tại sao anh không trốn đi?’  [ Xem tiếp ]  

Vào một buổi chiều ngày 4 tháng Năm năm 1997, cũng giống như buổi chiều của sáu tuần trước, tôi cúi xuống cầm lấy chân lê lết của tôi. Cơn đau ê ẩm suốt cả thân người tôi khi tôi chống đôi chân lên tường. Tôi cảm thấy như vậy dễ chịu giảm cơn đau. Bằng cách sảng khoái làm cho máu dồn đi nơi khác khỏi chân tôi, nó sẽ trở nên tê bại và tôi có thể ngủ ngon suốt đêm.

Sáng sớm ngày hôm sau, đang lúc trong tình trạng nản chí mất hy vọng thì Chúa khuyến khích tôi với lời hứa trong sách Hê-bơ-rơ 10:35: ‘Vậy chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho.’ Tôi tỉnh dậy với lời đó trong trí tôi.

Vi nhà tù từ từ khơi động đời sống tôi, tôi bắt đầu đọc sách Giê-rê-mi. Chúa cho thấy sự liên hệ đến vết thương của tôi và hoàn cảnh của tôi trong lối sống cá nhân cực kỳ mạnh mẽ. Dường như là điều mà Chúa Thánh Linh nói trực tiếp với tôi qua những lời: ‘Mắt ta rơi lụy đêm ngày chẳng thôi: vì gái đồng trinh của dân ta bị tồi tàn, bị thương rất là đau đớn… Vậy thì Ngài bỏ hết Giu-đa sao? Lòng Ngài đã gớm ghét Si-ôn sao? Làm sao Ngài đã đánh chúng tôi, không phương chữa lành?Đương đợi sự bình an mà chẳng có sự lành, đương trông kỳ lành bịnh, mà gặp sự kinh hãi.’ (Giê-rê-mi 14:17, 19, 21).

Tôi cảm thấy giống hệt Giê-rê-mi. Tôi bị áp đảo mà dường như Chúa đã bỏ mặc tôi để cho tôi mục nát trong tù mãi mãi. Tôi khóc với Chúa bằng những lời của Giê-rê-mi: ‘Chúa ơi, tại sao Ngài làm con đau đớn mà không chữa lành được cho con? Con mong muốn sự bình an mà chẳng thấy gì tốt đến với con cả. Chúa ơi, xin Ngài đừng khinh miệt con.’

Tôi đọc tiếp: ‘Hỡi mẹ tôi ơi, khốn nạn cho tôi! Mẹ đã sanh ra tôi làm người mắc phải sự tranh đua cãi lẩy trong cả đất! Tôi vốn không cho ai vay mượn, cũng chẳng vay mượn ai; dầu vậy, mọi người nguyền rủa tôi.’ (Giê-rê-mi 15:10)

Lại lần nữa những lời dường như lật qua trang giấy đi vào trí óc tôi. Đó là giờ phút thiêng liêng như chính Chúa đầy quyền năng đã ngự xuống xà-lim tôi và nói chuyện với tôi mặt đối mặt.

Trong người tôi quá đau đớn và tất cả như bắt đầu tuôn ra truớc mặt Chúa. Tôi khóc nức nở: ‘Chúa Jê-sus ơi, giống như Giê-rê-mi nói, mọi người muốn chống con và rủa sả con. Con không thể’chịu đựng nổi nữa. Con đã tới cuối cùng của con rồi.’

Tôi khóc thảm thiết đến nỗi mắt tôi sưng húp đầy nước mắt. Chúa an ủi tôi giống như người cha yêu quí đang ôm đứa con vô lòng. Chúa yên lòng tôi theo câu sau: ‘Đức Giê-hô-va phán: Thật ta sẽ bổ sức cho ngươi được phuớc. Trong khi gặp tai vạ hoạn nạn, thật ta sẽ khiến kẻ thù nghịch đến cầu xin ngươi.’ (Giê-rê-mi 15:11)

Từ tận đáy lòng tôi, tôi khóc với Chúa qua sách Giê-rê-mi 15:16-18: ‘Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì tôi được xưng bằng danh Ngài! Tôi chẳng ngồi trong đám hội kẻ vui chơi mừng rỡ, nhưng tôi ngồi một mình vì tay Ngài ; vì Ngài đã làm cho tôi đầy sự giận. Cớ sao sự đau đớn của tôi cứ còn hoài? Cớ sao vết thương của tôi không chữa được và nó không chịu khỏi? Ngài đối với tôi hẳn như cái khe giả dối, cái suối tắt mạch hay sao?’

Nhiều lúc tôi hỏi Chúa tại sao con cứ bị đau như vậy. Con không thể chịu đựng được nữa. Lòng con thấy chán nản rồi và con sẵn sàng bỏ cuộc.

Lời Chúa lại đến với tôi với những lời cảnh cáo nghiêm trọng và lời hứa: ‘Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu ngươi trở lại thì ta sẽ lại đem ngươi đứng trước mặt ta; nếu ngươi làm cho sự quí lìa khỏi sự hèn, thì ngươi sẽ như những người chẳng trở về cùng chúng nó.Ta sẽ khiến ngươi làm tượng đồng vững bền cho dân này, họ sẽ đánh với ngươi, nhưng không thắng ngươi được, vì ta ở cùng ngươi đặng cứu ngươi và giải thoát ngươi. Đức Giê-hô-va phán vậy. Ta sẽ rút ngươi ra khỏi tay kẻ ác, sẽ chuộc ngươi khỏi tay kẻ bạo tàn.’ (Giê-rê-mi 15:19-21)

Ngay khi tôi đọc được những câu này, khải tượng mạnh mẽ bất chợt đến với tôi mặc dù tôi đang thức.

Tôi thấy vợ tôi Deling ngồi bên cạnh tôi. Nàng vừa mới được thả ra khỏi tù và lấy ra một ít thuốc. Vợ tôi yêu mến chăm sóc vết thương cho tôi. Tôi cảm thấy được khích lệ và hỏi nàng: ‘Em được thả rồi hả?’

Vợ tôi trả lời: ‘Tại sao anh không mở cái cửa sắt kia ra?’

Trước khi tôi có thể trả lời thì nàng đi ra khỏi phòng và khải thị của tôi chấm dứt.

Chúa nói với tôi: ‘Đây là thì giờ của sự cứu rỗi của con.’

Ngay tức thì tôi biết liền đây là một khải thị từ Chúa và rằng tôi phải vượt ngục.

Xà-lim đơn độc của tôi cùng chung tường với sà-lim của anh Xu và một vài tín đồ khác. Chúng tôi đã có những hiệu báo với nhau trước rằng nếu một trong chúng tôi bị nguy kịch cần cầu nguyện gấp th&
igrave; chúng tôi sẽ gõ hai tiếng vào tường.

Anh Xu nghe thấy tiếng gõ của tôi.

Tôi gọi tên gác. Hắn đến cửa tôi và hỏi tôi muốn gì. Tôi nói với hắn tôi cần đi vệ sinh ngay bây giờ.’

Vì đây là công việc của anh Xu là cỗng tôi, nên tên gác mở cửa của anh và ra lệnh cho anh cõng tôi đến nhà tắm.

Mỗi khi tù nhân được phép ra khỏi xà-lim thì chiếc cổng sắt ở hành lang phải khóa lại, như vậy tù nhân không có cơ hội trốn. Phòng chứa cầu thang dẫn xuống tới sàn cuối cùng ở phía bên kia của chiếc cổng. Chúng tôi cũng vẫn bị hoàn toàn nhốt bên trong. Chiếc cổng mở cho người từ bên ngoài vào cũng không mở được từ phía bên trong.

Mỗi từng trong nhà tù đều được bảo vệ bởi một chiếc cổng bằng sắt. Thường thì có hai người gác cổng đứng canh hai bên cổng, do đó để ra ngoài sân nhà tù tôi phải đi qua ba chiếc cổng sắt qua ba từng lầu, và qua sáu người gác.

Anh Xu đến cửa tôi. Ngay khi anh vừa nhìn thấy tôi là anh ra lệnh cho tôi: ‘Anh phải vượt ngục!’, rồi anh trở lại sà-lim của anh, và thâu lượm bàn chải đánh răng và khăn tắm để người gác tưởng rằng anh sửa soạn dùng nhà tắm.

Khi anh Xu trở lại, anh lại nghiêm nghị ra lệnh: ‘Yun, anh phải vượt ngục!’

Tôi chỉ mặc bộ quần áo lót thôi, càng lẹ càng tốt, tôi cởi quần dài ra. Tôi viết câu Kinh Thánh gốc của Giăng và I Phi-e-rơ vô giấy đi cầu dài để chứng tỏ nó là dây nịt của lẽ thật, quấn theo lời Chúa chung quanh hông tôi. Tôi cầu nguyện: ‘Chúa ơi, Chúa đã chỉ cho con thấy rằng con phải rời khỏi nhà tù này. Bây giờ con vâng lời Chúa và con sẽ cố gắng vượt ngục. Nhưng nếu những người gác bắn con xin Chúa nhận linh hồn con vào nơi ở trên thiên đàng của Ngài.’

Bây giờ là đã hơn sáu tuần lễ kể từ khi chân tôi bị dập nát. Dù chỉ đè nặng một chút lên chân cũng đau nhức vô cùng. Nhưng tôi tin tưởng rằng Chúa đã nói với tôi trong ba cách khác nhau mà tôi có thể vượt ngục được là: qua lời Ngài, qua khải thị mà tôi nhận được sáng nay và qua lời anh Xu.

Tôi được biết rằng khi Chúa phán với chúng ta làm điều gì thì không có thì giờ để bàn cãi hoặc lý lẽ, mặc dù hoàn cảnh nào ngay trước mặt. Khi chúng ta chắc rằng Chúa đã bảo chúng ta hành động như tôi trong hoàn cảnh này, hãy nhắm mắt vâng lời theo tiếng gọi. Không vâng lời Chúa với ngụ ý rằng mình khôn hơn Chúa và mình biết cách sống tốt hơn Ngài.

Lúc đó là đúng trước tám giờ sáng ngày 5 tháng Năm năm 1997. Theo ý nghĩ tự nhiên thì thời gian này là lúc xấu nhất để trốn tù! Thường thì vào lúc đó có rất nhiều hoạt động trong tù, với những người gác vào vị trí.

Tôi bước ra khỏi sà-lim của tôi và hướng thẳng tới cửa sắt khóa ở hành lang. Trí óc tôì chỉ nhằm vào việc vâng lời Chúa. Tôi nhìn thẳng phía trước và cầu nguyện qua hơi thở mỗi bước tôi đi.

Người gác bấm vào nút khi hắn muốn mở hoặc đóng cổng, hắn ngồi ở đỉnh tầng thứ ba phòng cầu thang. Không thể nào nhìn thấy phía bên kia cổng, bởi vì cổng làm bằng sắt và chỉ có một cái cửa sổ nhỏ được che bằng miếng vải mầu đen. Vào đúng lúc tôi bước tới cổng, một tôi tớ Chúa anh Musheng đang đi trở về sà-lim của anh và cái cổng mở ra cho anh. Sáng hôm đó anh được lệnh quét sân nhà tù. Khi Musheng đi ngang qua tôi, tôi nói với anh: ‘Khoan đã, đừng đóng cổng vội.’ Tôi bước qua một cách dễ dàng! Thời điểm Chúa sắp xếp thật là hoàn hảo!

Khi chúng tôi qua ngang nhau, Musheng thầm thì hỏi tôi: ‘Anh Yun, anh rời khỏi đây à? Anh không sợ chết à? Rồi với bộ mặt kinh ngạc của anh, anh trở về xà-lim anh.

Cũng có một người gác đi cùng Musbeng dẫn anh trở về xà-lim, nhưng đúng lúc hắn mở cửa cho Musheng thì tiếng điện thoại reo trong văn phòng tại hành lang, người gác vội quay trở lại chạy đến trả lời điện thoại.

Tôi thấy có cái chổi để dựa vào tường ở phòng cầu thang. Tôi lượm lấy và tiếp tục bước đi với nó xuống cầu thang lầu hai. Một tên gác có súng đang ngồi tại bàn giấy hướng mặt về cổng thứ hai. Cổng đó đôi khi để ngỏ. Bởi vì người gác trong phiên mình được chỉ định canh cổng ngày và đêm, không sợ có chuyện gì xảy ra khi để cổng ngỏ. Vào lúc đó Chúa Thánh Linh nói với tôi: ‘Đi ngay! Chúa của Phi-e-rơ là Chúa của con!’.

Không biết làm sao dường như Chúa làm mù tên gác. Hắn nhìn thẳng vào tôi, vậy mà mắt hắn không biết một chút gì sự có mặt của tôi. Tôi đợi hắn nói điều gì, nhưng hắn nhìn qua tôi như tôi là người vô hình!

Hắn chẳng nói lấy một lời.

Tôi tiếp tục qua hắn và không quay nhìn trở lại. Tôi biết tôi có thể bị bắn phía sau bất kỳ lúc nào. Tôi tiếp tục lẳng lặng xin Chúa là tôi đã sẵn sàng để Chúa tiếp nhận linh hồn tôi, tôi luôn nghĩ đến phút cuối c&ugrav
e;ng của đời tôi trên thế gian này.

Tôi tiếp tục đi xuống cầu thang, nhưng không có ai chặn tôi lại và chẳng có tên gác nào nói với tôi một lời!

Khi tôi tới cổng chính dẫn ra ngoài sân, tôi khám phá thấy cổng đã mở! Thật là lạ lùng, luôn luôn cổng này là một cái cổng an toàn nhất. Thường thường có hai người gác tại cổng tầng thứ nhất, một người bên trong và một người bên ngoài, nhưng không biết vì lý do nào mà không có ai gác và cổng chỉ khép hờ!

Tim tôi đập thình thịch! Bây giờ tôi đang đứng ngoài đường phố bên ngoài trại tù Zhengzhou số một về an ninh! Sau
này tôi được cho biết là chưa bao giờ có ai trốn thoát khỏi trại tù
này trước đây.

Ngay lập tức có một chiếc xe taxi mầu vàng chạy sà ngay cạnh tôi và người tài xế khoảng hơn 20 tuổi mở cửa phía bên hành khách cho tôi. Anh hỏi: ‘Anh muốn tôi chở tới đâu?’

Tôi bước vào và trả lời: ‘Tôi cần phải đến văn phòng của tôi càng lẹ càng tốt, vậy làm ơn chạy cho lẹ.’ tôi cho anh tài xế địa chỉ của một gia đình Cơ đốc nhân mà tôi biết ở Zhengzhou và chúng tôi lái xe xa khỏi trại tù. Tôi nói với anh tài xế nếu bị kẹt xe anh cố tránh, tiếp tục lái đừng có ngừng bất cứ lý do gì.

Tất cả mọi biến cố này dường như chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn. Như là một giấc mộng ban ngày. Tôi không chắc rằng mọi sự thật đã xảy ra hoặc là tôi đang trong giấc mơ. Tôi không biết bằng cách nào mà Chúa đã làm như vậy hoặc tại sao những cửa sắt thường thì khóa chặt, nay lại để ngỏ cho tôi. Tất cả tôi biết là hiện giờ tôi đang ngồi trên xe taxi và đang hướng tới nhà của bạn tôi.

Khi chúng tôi tới nơi, tôi yêu cầu người tài xế đợi tôi chốc lát để tôi đi mượn tiền trả tiền xe.

Tôi trèo lên bậc thang ba từng lầu của cư xá và bấm chuông hai lần. Một trong những người con gái của gia đình nhìn qua lỗ khóa ở cửa và nhận ra ngay là tôi. Chị rất xúc động nói: ‘Ô, anh Yun, anh đã được thả ra khỏi nhà thương (có nghĩa là nhà tù)!’

Tôi nói: ‘Vâng, tôi đã rời khỏi nhà thương, nhưng tôi không xuất khỏi theo lối thông thường. Chị có thể cho tôi mượn ít tiền để trả tiền cho tài xế taxi?’

Chị thật là xúc động khi thấy tôi, đến nỗi quên cả mở cửa cho tôi vào! Cuối cùng chị trở ra đưa cho tôi tiền. Tôi vội chạy xuống trả tiền cho anh tài xế đang đợi tôi.

Gia đình Cơ đốc nhân quí hóa này đã đón tiếp tôi hết sức nồng nhiệt tại nhà. Một trong những người con gái này nói với tôi: ‘Cả Hội Thánh đã kiêng ăn cầu nguyện cho anh và cho những cộng sự viên của anh hơn một tuần lễ nay. Ngày hôm qua Chúa Thánh Linh nói với mẹ tôi là: ‘Ta sẽ thả Yun ra và nơi đầu tiên mà Yun sẽ ở là nhà của con. Anh ấy sẽ ở đây trong thời gian ngắn và sẽ cầu nguyện với con.’

‘Cha mẹ tôi nói với chúng tôi là rất trông chờ ngày anh đến và chúng tôi cũng đã kiếm một chỗ ở bí mật để anh trốn. Không ai khác biết chỗ này ngoại trừ chúng tôi. Hãy đi với tôi, thay quần áo đi rồi chúng tôi sẽ đến dẫn anh tới chỗ đó.’

Sau khi chúng tôi cùng nhau cầu nguyện, tôi được trao cho chiếc xe đạp và một người trong gia đình ngồi phía sau, chỉ đường cho tôi đến nơi tôi sẽ trốn, đi xuống những con đường nhỏ một cách thông thạo để tránh chỗ chặn đường họ đang khám xét trên những con đường chính vì sự vượt ngục của tôi.

Lúc mà tôi khởi sự đạp xe đạp đó là lúc đầu tiên tôi thấy Chúa đã chũa lành bàn chân và chân tôi! Đầu óc tôi khi đó chỉ chú tới sự vâng lời Chúa và sửa soạn để bị bắn mà tôi không bao giờ để ý đến Chúa đã chữa lành vết thương cho tôi. Tôi không cảm thấy quyền năng chữa lành của Ngài. Từ lúc chân tôi bị đánh dập nát bằng gậy cho đến khi tôi trốn tù, chân tôi vẫn nguyên mầu đen hoàn toàn và không thể xử dụng được. Tôi cũng không thể đứng đậy được, đi bộ một mình được. Cái mà tôi có thể làm được nhiều nhất là bò khoảng đường ngắn mà phải bám vào tường.

Anh Musheng sau này nói với tôi rằng khi anh đi qua tôi trên tầng thứ ba, tôi đi như thường lệ, như vậy dường như Chúa phải chữa lành chân tôi trong khi tôi hãy còn ở trong sà-lim.

Khi tôi đạp trên xe đạp tôi lại nhớ đến lời của Chúa:

‘Khá làm đường thẳng cho chân anh em theo, hầu cho kẻ nào què khỏi lạc đường mà lại được chữa lành nữa.’ (Hê-bơ-rơ 12:13)

Ngay khi chúng tôi tới chỗ trốn, thiêng đàng mở ra. Mưa xối xả như thác lũ rải khắp thành phố Zhengzhou và gió rít lên đập vào cửa sổ và thổi bay cả chiếc xe đạp. Đó là cơn bão khổng lồ. Dù rằng lúc đó vẫn còn ban ngày mà bầu trời trở nên đen xậm.

Tôi vô trong nơi trốn và ở lại một mình. Gia đình thân yêu này đối xử với tôi giống như thiên sứ từ trên thiên đàng. Họ đặ
t người trong gia đình bên ngoài cửa tôi ngày cũng như đêm để canh gác cho tôi.

Sau này những bạn Cơ đốc nói với tôi rằng họ được xem báo cáo trên đài vô tuyến truyền hình về mục tin tức vào buổi chiều nói đến vụ trốn tù của tôi. Văn phòng cảnh sát an ninh, văn phòng ANCC và Quân đội nhân dân giải phóng được động viên để truy lùng tôi. Họ lùng kiếm từng nhà ở Zhengzhou từ cửa này qua cửa kia. Họ cho ngăn chặn các đường phố tại những ngã tư đường chính và kiếm trong từng xe. Những tên gác được gởi đi tới các trạm xe buýt, ga xe lửa và phi trường.

Tôi còn được cho biết những con chó được huấn luyện đánh hơi của sở cảnh sát cũng được dùng để kiếm hơi tôi, nhưng tất cả những cố gắng đó đều vô ích. Tôi được an toàn trong nơi trốn kín đáo của Chúa. Giông tố đã cản trở những chức quyền và rửa sạch những vết tích của tôi.

Chúa nhắc nhở tôi về mười ba năm về trước, trong thời gian 74 ngày kiêng ăn, tại sao Chúa cho tôi thấy khải tượng mạnh mẽ là một loạt những cửa sắt được mở ra từ cái nọ đến cái kia.

Bây giờ, những năm đó sau này, lời hứa của Chúa đã thành sự thật. Tôi lấy làm lạ về lòng tốt của Chúa và sự trung tín của Ngài đối với tôi. Từ ngày đó tôi coi sự vượt ngục của tôi là một sự kiện lạ lùng nhất trong đời tôi.

* * *

Anh Xu: Sau khi anh Yun cố gắng vưột ngục bằng cách nhảy qua cửa sổ rồi anh bị gẫy chân. Rồi chúng đánh anh khủng khiếp trong bùn, nghiền nát chân anh thêm để sau này anh không còn có thể đi bộ được nữa.

Khi tôi trông thấy thân xác anh ngất xỉu được vác trở về xà-lim, mặt anh đầy những bùn. Chúng đánh vào đầu anh, do đó anh không còn nghe được trong một thời gian.Sau khi chúng tôi bị thuyên chuyển về nhà tù Zhengzhou, tôi được trao cho mộtviệc là cõng anh Yun đến nhà tắm, phòng thẩm vấn trong tù vì anh bị tàn phế và rất là đau đớn. Nhờ lối đó mà chúng tôi có thể có được thời gian ngắn ngủi để liên lạc được với nhau khuyến khích lẫn nhau trong Chúa, và tăng cường cho nhau thêm đức tin. Ngay dù chúng tôi không thể nói được với nhau, nhưng chỉ nhìn nhau cũng cho chúng tôi sức mạnh và sự thông công. Tôi cõng Yun đi trở về con đường dài nên trao đổi với nhau những kinh nghiệm rất nhiều về ân điển của Chúa.

Tôi nói với Yun là Chúa muốn anh trốn tù. Chúa còn căn dặn kỹ là nói với anh như vậy. Tôi có cảm tưởng là Chúa muốn Yun trốn, nhưng Ngài muốn tôi nói.

Một buổi sáng nọ Chúa trực tiếp cho Yun thấy đã đến giờ vượt ngục. Khi anh đi bộ xuống cầu thang trong tù hướng về sân thì một người anh em Cơ đốc đi vô. Cửa an ninh mở ra đúng vào lúc anh Yun bước ra!

Người anh em đó vội chạy đến xà-lim chúng tôi báo cho mọi người biết là anh đã nhìn thấy anh Yun bước ra khỏi tù! Tất cả tù nhân chúng tôi trèo lên để nhìn qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi nhìn thấy anh Yun đi bộ qua cổng chính nhà tù tới nơi tự do!

Hành động lòng thương xót của Chúa và quyền năng của Ngài đã khuyến khích chúng tôi rất nhiều. Một lần nữa chúng tôi lại thấy đối với Chúa chẳng có gì là khó cả. Tuyệt đối là không có gì.

Ngài nắm giữ đời sống chúng ta trong tay, không có gì xảy ra cho một trong những đứa con của Chúa, ngoại trừ đó là phần của chương trình Ngài để nó xảy ra trong đời sống chúng ta.

Tôi tin có một điều là tại sao Chúa chọn thả anh Yun ra trong trường hợp hãn hữu như vậy, đó là bởi vì chính quyền nhà tù đã chế nhạo Chúa và Yun khi chúng đập nát chân anh. Chúng nói: ‘Chúng tao muốn bây giờ mày trốn đi!’ Chúa luôn luôn đợi đến lúc gặp sự thử thách!

Vài phút sau khi Yun vượt ngục, những tên gác khám phá ra thiếu mất anh, một đám rất đông lính gác bổ đi lùng kiếm. Mộtcuộc điều tra đều khắp tổ chức bởi chính quyền để tìm ra tại sao một người tù tàn phế bị kiểm soát nghiêm ngặt lại có thể đi bộ ra khỏi trại tù và biến mất!

Thật là hấp dẫn, cuộc điều tra kết luận là Yun đã không được sự giúp đỡ nào của con người từ những tù nhân khác hay những người gác trong lúc anh trốn tù.

Tôi đã thử dò hỏi thì đó là hoàn toàn đúng.

Đó tất cả là do bàn tay tối cao của Đức Chúa Trời đầy quyền năng.

* * *

Anh Musheng: Tôi có cái đặc quyền được chứng kiến việc trốn khỏi tù của anh Yun năm 1997, do bàn tay của Chúa.

Tôi được kêu làm việc tại sân của trại tù vào lúc bảy giờ sáng hôm đó. Khi tôi trở về xà-lim của tôi, dẫn độ bởi một tên gác, chúng tôi ngừng lại để đi qua chiếc cổng bằng sắt an ninh. Tôi không thể tin được rằng tôi trông thấy Yun đi bộ ra! Chúng tôi đều biết là anh Yun bị tàn phế nên tôi nói là tôi thật ngạc nhiên thấy anh đi bộ, đó là một điều nói sai? Anh đi thẳng ngang qua tôi, nhưng tên gác đi cùng tôi k
hông trông thấy anh gì hết.

Ngay cả cho tới khi tôi trở về xà-lim rồi mà tôi cũng nhớ rằng anh không đi bộ đưọc kể từ khi chân anh bị gãy. Tôi là một trong ba người khiêng anh đi chỗ này chỗ kia trong tù. Ngay cả những tên gác cũng gọi anh là ‘tên què’. Chân của anh hoàn toàn bầm tím vì những trận đánh đòn. Anh không thể nào tự làm được gì cả vì tình trạng đau đớn của anh. Chúng tôi cũng còn phải tắm cho anh và thay quần áo cho anh.

Trí óc tôi mới bắt đầu hé mở là Yun đang cố vượt ngục. Tôi tức thì quì xuống nài xin Chúa cứu sống anh vì tôi nghĩ rằng những tên gác không có lý do gì để anh ra khỏi sân nhà tù nên họ có thể bắn anh. Tôi trèo lên cửa sổ xà-lim và nhìn anh đi qua cái sân và biến mất qua cái cổng.

Có lẽ có khoảng ba chục tên gác tù ở ngoài sân trong lúc đó, nhưng không tên nào để ý đến anh Yun trốn tù! Anh còn đi bộ thẳng qua mặt chúng nữa.

Một lúc sau thì một trận mưa lớn đến. Trở lại trên tầng thứ ba trong trại tù, tên gác thấy thiếu anh Yun ngay sau vài phút lúc anh Yun trốn. Hắn đi kiếm khắp nơi, gọi ầm lên: ‘Tên què, mày ở đâu?’. Lúc ban đầu thì tên gác có vẻ từ từ; nhưng kiếm một số nơi mà anh Yun có thể trốn nhưng không thấy. Hắn càng lúc càng lo sợ. Vào khoảng năm phút sau hắn rung chuông báo động và cả trại tù ồn ào về việc Yun vượt ngục.

Chức quyền trong tù thẩm vấn chúng tôi nhưng chúng tôi thành thực trả lời chúng tôi không giúp Yun bằng cách nào cả. Hai tên gác bị mất việc.

Để mua tác phẩm này trong Anh ngữ, xin theo link sau đây:
"The Heavenly Man"

Để mua tác phẩm này trong Việt ngữ, xin liên lạc với dịch giả:

Hoang-duc-Thanh
9218 Buffalo Bend Lane
Houston, TX 77089-5800
Tel. 281-485-4705
Webpage www.vnbaptist.net/HDT/
Email address: hoangdthanh32@yahoo.com

Share This: