A. W. Tozer: Chúa Phán với Người Quan Tâm

1,846 views

A. W. Tozer
Bấm vào đây để download bài viết này

Thánh Kinh được viết trong nước mắt và đào sâu vào đó sẽ tìm được những kho báu tuyệt diệu nhất. Đức Chúa Trời không có gì để nói với con người phù phiếm.

Chính Môi-se, một người đang run rẩy, được nghe Đức Chúa Trời phán trên núi, và cũng chính ông là người sau này đã giải cứu cả đất nước khi ông sấp mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời với một của lễ để xin Ngài xóa tên ông khỏi sách của Ngài vì lợi ích của dân I-sơ-ra-ên. Lần kiêng ăn cầu nguyện dài ngày của Đa-ni-ên đã đưa Gáp-ri-ên từ thiên đàng đến để nói với ông về bí mật của các thế kỷ. Khi Giăng, một người rất được yêu mến, khóc dầm dề vì không có ai xứng đáng để mở cuốn sách có bảy ấn, thì một trong số những trưởng lão đã an ủi ông bằng một tin vui rằng Sư Tử của chi phái Giu-đa đã chiến thắng.

Những người viết thánh thi thường viết trong nước mắt, các nhà tiên tri khó có thể che đậy lòng phiền muộn của mình, và Sứ Đồ Phao-lô trong một lá thư đầy sự vui mừng gởi cho người Phi-líp đã đổ nước mắt khi ông nghĩ đến những người là kẻ thù của thập giá Đấng Christ và kết cuộc của họ là sự hủy diệt. Những nhà lãnh đạo Cơ-đốc đã làm rung chuyển thế giới là những người có lòng sầu não, những người mà lời chứng của họ cho cả nhân loại xuất phát từ cõi lòng phiền muộn, nặng gánh lo âu: Không hề có chút sức mạnh nào trong bản thân những giọt nước mắt, nhưng những giọt nước mắt và sức mạnh nằm sát cạnh nhau trong Hội Thánh đầu tiên.

Thật không phải là một ý tưởng đáng để yên lòng khi nhận ra rằng các tác phẩm của những nhà tiên tri mòn mỏi vì buồn phiền thường được nghiền ngẫm bởi những người thích thú chỉ vì tò mò và những người chẳng bao giờ đổ một giọt nước mắt nào vì những tai ương của thế giới này. Họ có sự tò mò về thời gian biểu của những sự kiện trong tương lai, mà quên rằng mục đích lớn của lời tiên tri trong Thánh Kinh là để chuẩn bị chúng ta về phương diện đạo đức cũng như thuộc linh cho thì giờ sắp đến.

Ngày nay, giáo lý về sự trở lại của Đấng Christ đã bị xao lãng, ít nhất là trên lục địa Bắc Mỹ, và như những gì tôi nhận thấy, khiến cho trong hàng ngũ các Cơ-đốc nhân tin vào Thánh Kinh không còn một chút sức mạnh nào. Về vấn đề này, theo như điều tôi tin, có thể có vài yếu tố góp phần, nhưng cái chủ yếu là lẽ thật của những lời tiên tri đã phải chịu đựng sự rủi ro giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, khi mà những con người không có nước mắt đảm trách việc hướng dẫn chúng ta vào các tác phẩm của những nhà tiên tri thánh chứa chan nước mắt. Những đám đông khổng lồ và những của dâng to lớn bởi đó mà ra cho đến khi thực tế chứng minh rằng các giáo viên đã sai lầm ở quá nhiều điểm; rồi thì phản ứng nổ ra và lời tiên tri mất đi thiện ý nơi mọi người. Đây là một cú lừa tinh xảo của ma quỷ: nó thực hiện quá hiệu quả. Chúng ta nên và phải học biết rằng chúng ta không thể luận giải những điều thánh khiết một cách bất cẩn mà không vướng phải những hậu quả nghiêm trọng.

Những con người không có nước mắt cũng đã gây nên mối nguy hại khôn tả cho chúng ta trong một lĩnh vực khác: cầu nguyện cho người bệnh. Luôn luôn có những con người kính sợ, nghiêm túc khi cảm biết nhiệm vụ thánh khiết của họ là cầu nguyện cho người bệnh để họ được chữa lành theo ý muốn Đức Chúa Trời. Người ta nói về Spurgeon rằng những lời cầu nguyện của ông đã vực dậy nhiều người bệnh hơn bất cứ sự chữa trị nào của các bác sĩ ở Luân Đôn. Khi những người lãnh đạo không có nước mắt tóm lấy giáo lý, nó đã bị biến thành một cái vợt sinh lợi. Những con người dịu dàng, đầy sức thuyết phục đã dùng các phương pháp tối ưu của nghệ thuật bán hàng để tạo nên những của cải ấn tượng từ các chiến dịch của họ. Những nông trại lớn và những món đầu tư tài chính khổng lồ của họ chứng minh họ đã thành công như thế nào trong việc tách rời người bệnh và tiền bạc của mình. Và điều này được làm trong danh của Đấng từng trải sự buồn bực, Đấng không có chỗ gối đầu!

Cái gì được thực hiện mà không có tấm lòng là cái được thực hiện trong bóng tối bất luận việc nó có vẻ phù hợp với Thánh Kinh như thế nào đi nữa. Bởi luật đền bù công bình, tấm lòng của những người hay đùa giỡn với tôn giáo sẽ bị hủy diệt trong sự sáng chói lọi của lẽ thật mà anh ta chạm vào. Những con mắt không giọt lệ cuối cùng sẽ bị mù vì chính ánh sáng mà chúng nhìn vào. Chúng ta, những người thuộc về các Hội Thánh không mang tính nghi lễ, có khuynh hướng nhìn vào những Hội Thánh tiến hành một hình thức thờ phượng đã được cẩn thận lên chương trình với một thái độ khinh khỉnh, và chắc chắn phải có một cái gì đó tốt bên trong những buổi thờ phượng như thế, mà điều này có ít hoặc không có chút ý nghĩa nào đối với một người tham dự bình thường – điều này không phải là do nó được lên chương trình cẩn thận mà là vì chính bản chất của những người tham dự bình thường. Nhưng tôi đã quan sát và thấy rằng những bài giảng ứng khẩu quen thuộc của chúng ta, được nhà lãnh đạo làm dàn ý 20 phút trước đó, thường có khuynh hướng đi theo một trật tự rời rạc và mệt mỏi, gần như được tiêu chuẩn hóa rất thành công. Ít nhất những bài giảng mang tính lễ nghi cũng đẹp vậy; còn của chúng ta thì thường là xấu xí. Những bài giảng của họ đã được cẩn thận vạch ra từ hàng thế kỷ để nắm bắt cái vẻ đẹp càng nhiều càng tốt, và để duy trì một tinh thần kính sợ giữa vòng những người thờ phượng. Còn của chúng ta thường là những bài giảng tạm bợ, ứng khẩu, không có gì đáng lưu tâm. Cái gọi là quyền tự do thường không tự do chút nào, mà thay vào đó là tính lười biếng cẩu thả.

Lý thuyết là ở chỗ cho rằng nếu buổi nhóm không có chương trình thì Thánh Linh sẽ tự do hành động, và điều này là thật nếu tất cả những người thờ phượng đều là những người kính sợ Chúa và đầy dẫy Thánh Linh. Nhưng hầu hết đều không có trật tự, cũng chẳng có Thánh Linh, buổi nhóm chỉ là một buổi cầu nguyện thường lệ, ngoại trừ một số thay đổi nhỏ, chúng giống như nhau từ tuần này sang tuần khác, với một số ít bài hát mở đầu cũng không có gì nhiều, vả lại, từ lâu lắm rồi, nó đã mất đi tất cả mọi ý nghĩa bởi sự lập lại vô nghĩa.Trong phần lớn những buổi nhóm của chúng ta, hiếm khi có dấu hiệu của một ý tưởng tôn kính, không có biểu hiện của sự hiệp nhất trong Thân Thể, chỉ có chút ít cảm giác về Sự Hiện Diện Thánh, không có giây phút nào yên tĩnh, không có tính trang nghiêm, không có điều kỳ diệu, cũng không có sự kính sợ thánh. Nhưng thường lại có hoặc một người uể oải hay một người hoạt bát với những câu bông đùa bất khiết lên hướng dẫn hát, cũng như một trưởng ban nào đó lên thông báo từng “con số” cùng với những tiếng sột soạt phát ra từ cái máy tăng âm cũ kỹ trong một nỗ lực để gắn liền mọi thứ lại với nhau.

Cả gia đình Cơ Đốc đang cố gắng một cách tuyệt vọng trong nhu cầu khôi phục lại lòng ăn năn, khiêm nhường và nước mắt. Xin Chúa sớm gởi chúng đến.

A.W. Tozer

Share This:

Hãy giữ kẻo ngã

1,729 views

Những lý do khiến cho bị ngã

1. Yêu mến thế gian và những sự thuộc về thế gian

– Yêu mến thế gian
– Yêu người thân hơn yêu Chúa
– Yêu mến tội lỗi

Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy. Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra. Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời.
(1 Giăng 2:15-17)

2. Nghi ngờ

– Nghi ngờ sự chân thật của lời Chúa
– Nghi ngờ sự thành tín của Chúa
– Nghi ngờ quyền năng của Chúa

Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.
(Hêbơrơ 11:6)

3. Kiêu ngạo

– Xem mình là tôn trọng hơn người khác
– Xem mình là thánh khiết hơn người khác
– Xem mình là hiểu biết hơn người khác

Phàm ai có lòng kiêu ngạo lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va; Quả thật nó sẽ chẳng được khỏi bị phạt.
(Châm ngôn 16:5)

Kết luận

Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời.
(Galati 6:7-8)

Share This:

Khung cửa hẹp

1,838 views

1. Cửa rộng

 

Cửa rộng thường liên kết với đường rộng. Đường rộng thì dễ đi, cửa rộng thì dễ vào cho nên có nhiều người bước đi trên đường rộng để vào cửa rộng. Người ta có thể mang theo tất cả những gì mình ưa thích để đi trên đường rộng và vào cửa rộng.

 

Nhưng "cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất": "Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết." (Châm Ngôn 14:12).

 

Đường rộng tức là lối sống theo sự khôn ngoan của đời này, được trình bày qua các chủ nghĩa, triết lý, tôn giáo… Cửa rộng tức là cửa của hỏa ngục, cửa của sự chết!

 

2. Cửa hẹp

 

Cửa hẹp và đường chật đương nhiên là khó đi và khó vào. Người đi trên đường chật và vào cửa hẹp phải bỏ hết những gì có thể làm cản trở hành trình của mình. Rất ít người đi trên đường chật và vào cửa hẹp, bởi vì phải hết lòng tìm kiếm thì mới thấy được đường chật dẫn đến cửa hẹp: "Nhưng trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài." (Ma-thi-ơ 6:33).

 

"Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.": Tại đó sẽ có một đường cái, và một lối gọi là đường thánh. Kẻ nào ô uế sẽ không được đi qua; song nó sẽ dành cho những người được chuộc. Ai đi trong đường đó, dầu khờ dại cũng không lầm lạc. Trên đường đó không có sư tử, không có một thú dữ nào lên; chẳng ai gặp nó ở đó. Song những kẻ được chuộc sẽ bước đi đường ấy." (Ê-sai 35:8-9).

 

Đường chật tức là Đấng Christ, dẫn đến Đức Chúa Cha, là sự sống đời đời: "Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống, chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha" (Giăng 14:6). Cửa hẹp cũng chính là Đấng Christ: "Ta là cái cửa: nếu ai bởi Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi." (Giăng 10:9).

 

 

3. Điều kiện để vào cửa hẹp

 

– liều mình

– vác thập tự giá

 

"Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo Ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta." (Ma-thi-ơ 16:24, Mác 8:34).

 

Kết luận

 

"Hãy gắng sức vào cửa hẹp, vì, Ta nói cùng các ngươi, nhiều người sẽ tìm cách vào mà không vào được." (Lu-ca 13:24).

 

Gắng sức ở đây có nghĩa là thoát bỏ tất cả những gì thuộc về thế gian này làm vương vấn chúng ta, khiến chúng ta không thể bước đi trên con đường chật, không thể vào khung cửa hẹp: "Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta." (Hê-bơ-rơ 12:1).

Share This:

A. W. Tozer: Thập Giá Cũ và Mới

1,818 views

A. W. Tozer
Bấm vào đây để download bài viết này

Bài viết này được hiệu đính bởi Hồ Hồng Ân
19.04.2012

Trong thời đại ngày nay đã có một thập giá mới xuất hiện cách âm thầm, không ai nhận biết trong vòng những nhà truyền giáo. Nó có vẻ vẫn giống thập giá cũ nhưng thực chất lại khác vì chỉ giống ở vỏ bề ngoài nhưng khác về bản chất sâu xa bên trong.

Thập giá mới này đã cho ra một triết lý mới của đời sống Cơ-đốc nhân, và triết lý mới đó dẫn tới một cách truyền giảng mới, nghĩa là giảng lời Chúa theo kiểu mới và nhóm lại với nhau theo kiểu mới. Ngôn ngữ để truyền giảng Phúc Âm mới này xem chừng vẫn là ngôn ngữ cũ nhưng nội dung của nó đã thay đổi và trọng tâm cũng khác xưa.

Thập giá cũ chẳng có gì chung với thế gian. Nó chấm dứt mọi điều thuộc về xác thịt kiêu ngạo của A-đam. Nó thi hành bản án đã tuyên của bộ luật ban hành tại Si-na-i. Còn thập giá mới không chống đối loài người; mà ngược lại, nó là một người bạn thân thiện và, nếu được hiểu đúng, nó là cội nguồn của vô số trò vui "sạch sẽ" cũng như những sở thích "vô tội." Nó để cho A-đam sống mà không can thiệp chi cả. Ðộng cơ sống của anh ta không hề thay đổi; anh ta vẫn sống vì sở thích riêng của mình, chỉ có điều giờ đây anh thấy vui trong việc hát hợp xướng và xem những phim tôn giáo thay vì hát những bài hát xấu xa và nốc rượu mạnh. Tóm lại, cuộc đời vẫn lấy vui chơi thỏa thích là chính, mặc dù niềm vui cao cấp hơn về mặt đạo đức hay nói đúng hơn là về mặt trí tuệ.

Thập giá mới khuyến khích một phương cách truyền giảng khác lạ hoàn toàn. Người truyền đạo không còn giảng rằng phải từ bỏ đời sống cũ để nhận lãnh đời sống mới nữa. Không còn giảng rằng phải đối nghịch với đời sống cũ mà lại giảng hãy sống tương tự như cũ. Người truyền giảng tìm cách làm thế gian quan tâm qua việc trình bày rằng Cơ-đốc Giáo không hề đòi hỏi những điều làm người thế gian khó chịu, ngược lại Cơ Đốc giáo mang đến cùng những điều mà thế gian mang đến, chỉ là ở cấp bậc cao hơn. Tóm lại, ngày nay, thế gian mê đắm tội lỗi này yêu thích điều gì thì phúc âm cung cấp điều ấy, có điều sản phẩm tôn giáo chất lượng hơn mà thôi.

Thập giá mới không tiêu diệt tội nhân, nó chỉ chỉnh hướng anh ta. Nó thúc đẩy anh đi vào một con đường sống sạch sẽ hơn, vui vẻ hơn và giúp cứu vãn sự tự trọng của anh. Ðối với những người luôn muốn khẳng định mình, nó nói, "Hãy đến và khẳng định mình cho Ðấng Christ." Ðối với những người ích kỷ, nó nói, "Hãy đến và khoe mình trong Chúa." Ðối với những người tìm kiếm cảm giác mạnh, nó nói, "Hãy đến và tận hưởng cảm xúc mạnh mẽ tình ái hữu Cơ-đốc." Sứ điệp Cơ-đốc chạy theo mốt hầu mong được công chúng chấp nhận.

Triết lý ẩn đằng sau điều này có thể chân thành, nhưng sự chân thành không cứu nó khỏi bị sai trật. Nó sai vì nó mù quáng. Nó đánh mất toàn bộ ý nghĩa của thập giá.

Thập giá cũ là một biểu tượng của sự chết. Nó biểu trưng cho sự kết thúc đột ngột và đau đớn của một con người. Trong thời kỳ La Mã Ðế Quốc, con người phải chia tay vĩnh biệt bạn bè trước khi mang thập giá mình ra đi vì hiểu rằng một khi đặt thập giá lên vai là một đi không trở lại. Anh đang bước ra để chấm dứt cuộc đời. Thập giá không thỏa hiệp, không phải để điều chỉnh mà là để tiêu diệt tất cả; nó giết chết con người, trọn vẹn và mãi mãi. Nó không chừa cho nạn nhân của nó bất cứ đường lui nào.Nó tra tấn anh ta dữ dội và tàn khốc. Sau khi nó hoàn tất công việc, con người chết hoàn toàn.

Chủng tộc A-đam đang ở dưới bản án tử hình. Không hề có sự thay thế nào và cũng chẳng có lối thoát nào. Ðức Chúa Trời không thể chấp nhận bất cứ bông trái nào của tội lỗi, bất luận chúng có vẻ vô tội ra sao hay đẹp đẽ trước mắt con người như thế nào. Chúa cứu một cá nhân bằng cách thanh toán chính anh ta và rồi khiến anh sống lại trong đời mới.

Truyền bá Phúc Âm mà vẽ ra con đường dễ chịu, trung dung giữa đường lối của Ðức Chúa Trời và đường lối con người là sai với quan điểm Kinh Thánh và nguy hại cho linh hồn của người nghe. Ðức tin của Ðấng Christ không chấp nhận đi song song với thế gian mà là dứt bỏ thế gian. Ðến với Ðấng Christ, chúng ta không mang theo đời sống cũ để nâng lên một tầm cao hơn; chúng ta phải quăng bỏ đời sống cũ ấy tại thập giá. Hột giống lúa mì phải rơi vào trong đất và chết đi.

Chúng ta, những người rao giảng Phúc Âm, không được phép nghĩ mình như nhân viên quan hệ công chúng, được sai đến để xây dựng một mối quan hệ dễ chịu giữa Đấng Christ và thế gian. Chúng ta không được phép tưởng rằng mình được ủy nhiệm để làm cho thương giới, báo giới, thể thao giới hay nền giáo dục hiện đại chấp nhận Đấng Christ. Chúng ta không phải là những nhà ngoại giao bèn là những tiên tri; và sứ điệp của chúng ta không phải là một sự thỏa hiệp, bèn là một tối hậu thư.

Ðức Chúa Trời ban sự sống, nhưng không phải là một sự sống cũ được cải thiện. Sự sống Ngài ban là một sự sống mới đi ra từ cái chết. Sự sống đó ở phía bên kia của thập giá. Bất kỳ ai muốn được nó phải trải qua sự trừng phạt. Phải từ bỏ chính mình và phải chịu bản án công bình của Ðức Chúa Trời.

Nhưng với một người, vốn đã bị lên án tử, bây giờ muốn tìm kiếm sự sống trong Đức Chúa Jesus Christ thì điều ấy nghĩa là gì? Phải vượt qua thập giá, phải chịu hình phạt…đó là cách nói thần học, nhưng làm thế nào chuyển lý thuyết thần học đó thành sự sống? Thật đơn giản, con người ấy hãy ăn năn và tin. Anh ta phải từ bỏ tội lỗi của mình và tiến đến từ bỏ chính mình. Không che đậy, không phòng thủ, không bào chữa bất cứ điều gì. Anh ta không được tìm phương mặc cả, thỏa thuận với Thiên Chúa mà phải cúi đầu trước đòn trách phạt lạnh lùng nghiêm khắc của Thiên Chúa và nhận biết rằng mình đáng chết.

Làm xong điều này, hãy để anh nhìn lên với một niềm tin đơn sơ nơi Cứu Chúa đã sống lại, và từ nơi Ngài sẽ tuôn tràn ra sự sống, sự tái sanh, sự tẩy sạch và quyền năng. Thập giá ngày trước đã giết chết cuộc sống của Jesus nơi trần thế thì bây giờ cũng kết liễu sự sống của tội nhân; quyền năng trước đó đã vực Đấng Christ từ cõi chết sống lại bây giờ cũng vực tội nhân từ kẻ chết vào thằng sự sống mới với Đấng Christ.

Nếu ai phản đối hoặc cho rằng điều tôi vừa trình bày đây chỉ là một góc nhìn hẹp hòi mang tính cá nhân đối với chân lý thì cho tôi tuyên với người ấy rằng Đức Chúa Trời đã đóng ấn chấp thuận của Ngài trên sứ điệp này từ thời Phao-lô cho đến tận ngày nay. Bất chấp những lời của tôi ở đây có lột tả được nó hay không thì sứ điệp này vẫn là nội dung của mọi sự rao giảng đã đưa đến sự sống và sức mạnh cho thế giới qua bao thế kỷ. Người truyền đạo dù là ở hệ phái nào, thần bí hay cải chánh hay phấn hưng, cũng đều đặt trọng tâm truyền giảng tại sứ điệp này và những dấu kỳ, phép lạ, việc quyền năng của Đức Thánh Linh đã làm chứng cho sự chấp thuận của Đức Chúa Trời.

Lẽ nào chúng ta, những kẻ thừa hưởng gia tài quyền năng, lại dám giả mạo chân lý nầy? Chúng ta, với những mẩu bút chì nhỏ bé của mình lại dám xóa đi bản thiết kế hay chỉnh sửa kiểu mẫu mà Chúa đã ban cho chúng ta trên núi? [1] Đức Chúa Trời cấm điều đó. Chúng ta hãy rao giảng về thập giá cũ và sẽ được chứng nghiệm quyền năng ngày trước.

 A.W. Tozer

[1] Ý tác giả muốn nói: Trên núi Gô-gô-tha, cái chết của Đấng Christ đã thiết lập ý nghĩa của thập tự giá trong đức tin của Cơ-đốc nhân.

 

THE OLD CROSS AND THE NEW

ALL UNANNOUNCED AND MOSTLY UNDETECTED there has come in modern times a new cross into popular evangelical circles. It is like the old cross, but different: the likenesses are superficial; the differences, fundamental.

From this new cross has sprung a new philosophy of the Christian life, and from that new philosophy has come a new evangelical technique—a new type of meeting and a new kind of preaching. This new evangelism employs the same language as the old, but its content is not the same and its emphasis not as before.

The old cross would have no truck with the world. For Adam's proud flesh it meant the end of the journey. It carried into effect the sentence imposed by the law of Sinai. The new cross is not opposed to the human race; rather, it is a friendly pal and, if understood aright, it is the source of oceans of good clean fun and innocent enjoyment. It lets Adam live without interference. His life motivation is unchanged; he still lives for his own pleasure, only now he takes delight in singing choruses and watching religious movies instead of singing bawdy songs and drinking hard liquor. The accent is still on enjoyment, though the fun is now on a higher plane morally if not intellectually.

The new cross encourages a new and entirely different evangelistic approach. The evangelist does not demand abnegation of the old life before a new life can be received. He preaches not contrasts but similarities. He seeks to key into public interest by showing that Christianity makes no unpleasant demands; rather, it offers the same thing the world does, only on a higher level. Whatever the sin-mad world happens to be clamoring after at the moment is cleverly shown to be the very thing the gospel offers, only the religious product is better.

The new cross does not slay the sinner, it redirects him. It gears him into a cleaner and jollier way of living and saves his self-respect. To the self-assertive it says, "Come and assert yourself for Christ." To the egotist it says, "Come and do your boasting in the Lord." To the thrillseeker it says, "Come and enjoy the thrill of Christian fellowship." The Christian message is slanted in the direction of the current vogue in order to make it acceptable to the public.

The philosophy back of this kind of thing may be sincere but its sincerity does not save it from being false. It is false because it is blind. It misses completely the whole meaning of the cross.

The old cross is a symbol of death. It stands for the abrupt, violent end of a human being. The man in Roman times who took up his cross and started down the road had already said good-by to his friends, He was not coming back. He was going out to have it ended. The cross made no compromise, modified nothing, spared nothing; it slew all of the man, completely and for good. It did not try to keep on good terms with its victim. It struck cruel and hard, and when it had finished its work, the man was no more.

The race of Adam is under death sentence. There is no commutation and no escape. God cannot approve any of the fruits of sin, however innocent they may appear or beautiful to the eyes of men. God salvages the individual by liquidating him and then raising him again to newness of life.

That evangelism which draws friendly parallels between the ways of God and the ways of men is false to the Bible and cruel to the souls of its hearers. The faith of Christ does not parallel the world, it intersects it. In coming to Christ we do not bring our old life up onto a higher plane; we leave it at the cross. The corn of wheat must fall into the ground and die.

We who preach the gospel must not think of ourselves as public relations agents sent to establish good will between Christ and the world. We must not imagine ourselves commissioned to make Christ acceptable to big business, the press, the world of sports or modern education. We are not diplomats but prophets, and our message is not a compromise but an ultimatum.

God offers life, but not an improved old life. The life He offers is life out of death. It stands always on the far side of the cross. Whoever would possess it must pass under the rod. He must repudiate himself and concur in God's just sentence against him.

What does this mean to the individual, the condemned man who would find life in Christ Jesus? How can this theology be translated into life? Simply, he must repent and believe. He must forsake his sins and then go on to forsake himself. Let him cover nothing, defend nothing, excuse nothing. Let him not seek to make terms with God, but let him bow his head before the stroke of God's stern displeasure and acknowledge himself worthy to die.

Having done this let him gaze with simple trust upon the risen Saviour, and from Him will come life and rebirth and cleansing and power. The cross that ended the earthly life of Jesus now puts an end to the sinner; and the power that raised Christ from the dead now raises him to a new life along with Christ.

To any who may object to this or count it merely a narrow and private view of truth, let me say God has set His hallmark of approval upon this message from Paul's day to the present. Whether stated in these exact words or not, this has been the content of all preaching that has brought life and power to the world through the centuries. The mystics, the reformers, the revivalists have put their emphasis here, and signs and wonders and mighty operations of the Holy Ghost gave witness to God's approval.

Dare we, the heirs of such a legacy of power, tamper with the truth? Dare we with our stubby pencils erase the lines of the blueprint or alter the pattern shown us in the Mount? May God forbid. Let us preach the old cross and we will know the old power.

 A.W. Tozer

 

Share This:

Sự Bình an trong Chúa

1,781 views

1. Sự bình An thật đến từ Chúa:

 

Đức Giê-hô-va sẽ ban sức mạnh cho dân sự Ngài; Đức Giê-hô-va sẽ xuống phước bình an cho dân sự Ngài. (Thi Thiên 29:1).

 

Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ lập sự bình an cho chúng tôi; vì mọi điều chúng tôi làm, ấy là Ngài làm cho! (Ê-sai 26:12).

 

Ấy chính ta là Đấng gây nên sự sáng và dựng nên sự tối tăm, làm ra sự bình an và dựng nên sự tai vạ; chính ta, là Đức Giê-hô-va, làm mọi sự đó. (Ê-sai 45:7).

 

2. Kẻ ác không thể hưởng được bình an:

 

Những người ác chẳng hưởng sự bình an bao giờ, Đức Giê-hô-va phán vậy. (Ê-sai 48:2).

 

Đức Chúa Trời ta đã phán: Những kẻ gian ác chẳng hưởng sự bình an. (Ê-sai 57:21).

 

Họ không biết đường bình an, trong đường họ đi không có sự công nghĩa. Họ tự làm những lối quanh queo: ai đi trong đó thì chẳng biết sự bình an! (Ê-sai 59:8).

 

3. Sự bình an thật đã được Đấng Christ ban cho chúng ta:

 

Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. (Ê-sai 53:5).

 

Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi. (Giăng 14:27).

 

4. Sự bình an thật của Đức Chúa Trời chu toàn mọi nhu cầu của chúng ta:

 

Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ. (Phi-líp 4:6-7).

 

Kết luận:

 

Chúa đã ban sự bình an của Ngài cho chúng ta. Để được luôn luôn ở trong sự bình an của Chúa, chúng ta phải bước đi theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh:

 

Than ôi! ước gì ngươi đã để ý đến các điều răn ta! thì sự bình an ngươi như sông, và sự công bình ngươi như sóng biển. (Ê-sai 48:18).

 

Vả, chăm về xác thịt sanh ra sự chết, còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an. (Rô-ma 8:6).

Share This:

Vui mừng trong mọi cảnh ngộ

1,981 views

1. Vui mừng là sự ban cho của Chúa

Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. (Ga la ti 5:22).

2. Sự vui mừng của Chúa đến với chúng ta qua Lời của Ngài

Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì tôi được xưng bằng danh Ngài! (Giê rê mi 15:16).

Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa. (Thi Thiên 19:8)

3. Sự vui mừng Chúa ban là sự vui mừng trọn vẹn

Như Cha đã yêu thương ta thể nào, ta cũng yêu thương các ngươi thể ấy; hãy cứ ở trong sự yêu thương của ta. Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài. Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta trong các ngươi, và sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn. (Giăng 15:9-11).

Đến bây giờ, các ngươi chưa từng nhơn danh ta mà cầu xin điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn. (Giăng 16:24).

4. Chúng ta vui mừng vì được ở trong sự nhơn từ của Chúa

Tôi sẽ vui mừng và khoái lạc bởi sự nhơn từ của Chúa; Vì Chúa đã đoái đến sự hoạn nạn tôi, biết nỗi sầu khổ linh hồn tôi. (Thi Thiên 31:7).

5. Chúng ta vui mừng khi làm theo lời của Chúa

Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi. (Thi Thiên 40:8).

6. Chúng ta vui mừng khi thờ phượng Chúa

Bấy giờ tôi sẽ đi đến bàn thờ Đức Chúa Trời, Tức đến cùng Đức Chúa Trời, là sự rất vui mừng của tôi: Hỡi Chúa, là Đức Chúa Trời tôi, tôi sẽ lấy đờn cầm mà ngợi khen Chúa. (Thi Thiên 43:4).

7. Chúng ta vui mừng khi hầu việc Chúa

Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài. (Thi Thiên 100:2).

8. Chúng ta vui mừng trong mọi cảnh ngộ

Hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhịn nhục trong sự hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện. (Rô ma 12:22).

Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn. (Gia cơ 1:2).

Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót. (1 Phi erơ 4:13).

9. Chúng ta vui mừng vì biết chắc Chúa sẽ trở lại với chúng ta

Khác nào như các ngươi hiện ở trong cơn đau đớn, nhưng ta sẽ lại thấy các ngươi, thì lòng các ngươi vui mừng, và chẳng ai cướp lấy sự vui mừng các ngươi được. (Giăng 16:22).

10. Vui mừng là một mệnh lệnh và là năng lực Chúa ban

Hãy vui mừng mãi mãi. (1 Tê sa lô ni ca 5:16).

Lòng vui mừng vốn một phương thuốc hay; Còn trí nao sờn làm xương cốt khô héo. (Châm Ngôn 17:22).

Share This:

Kiêu ngạo và khiêm nhường

3,001 views

I. Định nghĩa:

 

Kiêu ngạo là sự khoe mình quá mức nhằm nâng mình lên trên người khác. Kiêu ngạo là tội lỗi. Satan muốn hơn Đức Chúa Trời, loài người muốn bằng Đức Chúa Trời. Kiêu ngạo thường đi đôi với tham lam và dối trá

 

Khiêm nhường là biết từ bỏ địa vị cao trọng của mình để hòa nhập với người khác hầu có thể nâng họ lên cùng một địa vị với mình. Khiêm nhường còn là nhận biết giá trị thật sự của mình để học tập nơi người hiểu biết hơn mình.

 

 

II. Hậu quả của sự kiêu ngạo:

 

1. Sự kiêu ngạo lừa gạt lòng người:

 

Giê rê mi 49:16

Hỡi ngươi ở trong bộng đá lớn, choán trên đỉnh núi kia, cho mình là đáng sợ, lòng kiêu ngạo đã dối trá ngươi; dầu ngươi lót ổ mình cao như ổ chim ưng, ta cũng làm cho ngươi từ đó rớt xuống, Đức Giê-hô-va phán vậy.

 

2. Sự kiêu ngạo khiến cho cứng lòng:

 

Đa ni ên 5:20

Nhưng vì lòng người tự cao, và tánh người cứng cỏi, làm một cách kiêu ngạo, nên người bị truất mất ngôi vua và lột hết sự vinh hiển.

 

3. Sự kiêu ngạo gây ra tranh cạnh

 

Châm Ngôn 13:10

Sự kiêu ngạo chỉ sanh ra điều cãi lộn; Còn sự khôn ngoan ở với người chịu lời khuyên dạy."

 

4. Bị Chúa gớm ghiếc, quở trách, rủa sả, chống cự, và đoán phạt.

 

Thi thiên 119:21

Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo, là kẻ đáng rủa sả,

hay lầm lạc các điều răn Chúa.

 

Châm ngôn 16:5

Phàm ai có lòng kiêu ngạo lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va; Quả thật nó sẽ chẳng được khỏi bị phạt.

 

Châm ngôn 16:18

Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau,

Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã.

 

 

Gia-cơ 4:6

Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo,

nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.

 

5. Hay vi phạm các điều răn của Chúa.

 

Thi thiên 119:21

Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo, là kẻ đáng rủa sả,

hay lầm lạc các điều răn Chúa.

 

6. Bị sa ngã, thất bại:

 

Châm ngôn 16:18

Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau,

Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã.

 

III. Phước hạnh của sự khiêm nhường:

 

1. Được Đức Chúa Trời nâng đỡ

 

Thi thiên 147:6

Đức Giê-hô-va nâng đỡ người khiêm nhường, Đánh đổ kẻ ác xuống đất.

 

2. Được Đức Chúa Trời cứu rỗi

 

Thi Thiên 149:4

Vì Đức Giê-hô-va đẹp lòng dân sự Ngài; Ngài lấy sự cứu rỗi trang sức cho người khiêm nhường.

 

3. Được Đức Chúa Trời ban ơn

 

Châm Ngôn 3:34

Quả thật Ngài nhạo báng kẻ hay nhạo báng; Nhưng Ngài ban ơn cho người khiêm nhường.

 

Gia-cơ 4:6

Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo,

nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.

 

4. Được Đức Chúa Trời ở cùng và làm cho tươi tỉnh thần linh

 

Ê-sai 57:15

Đấng cao cả, ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh, có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, với người có lòng ăn năn đau đớn và khiêm nhường, đặng làm tươi tỉnh thần linh của những kẻ khiêm nhường, và làm tươi tỉnh lòng người ăn năn đau đớn.

 

5. Được Đức Chúa Trời sai người giảng Tin Lành

 

Ê-sai 61:1

Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục.

 

6. Được tôn quý trong nước thiên đàng

 

Ma thi ơ 18:4

Vậy, hễ ai trở nên khiêm nhường như đứa trẻ nầy, sẽ là lớn hơn hết trong nước thiên đàng.

 

IV. Bản chất khiêm nhường của một người thật sự ở trong Chúa:

 

1. Bước đi cách khiêm nhường với Chúa

 

Mi chê 6:8

Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?

 

2. Học khiêm nhường từ nơi Chúa

 

Ma thi ơ 11:29

Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ.

 

3. Hầu việc Chúa cách khiêm nhường

 

Công vụ 20:19

tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, phải nhiều nước mắt, và ở giữa sự thử thách mà người Giu-đa đã lập mưu hại tôi.

 

4. Ưa thích sự khiêm nhường

 

Rô ma 12:16

Trong vòng anh em phải ở cho hiệp ý nhau; đừng ước ao sự cao sang, nhưng phải ưa thích sự khiêm nhường. Chớ cho mình là khôn ngoan.

 

5. Khiêm nhường hết mực, xem người khác là tôn trọng hơn mình.

 

Ê phê sô 4:2

Phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau.

 

Phi líp 2:3

Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình.

 

6. mặc lấy sự khiêm nhường

 

Cô lô se 3:12

Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục.

 

Kết luận:

 

Kiêu ngạo là bản chất của con người cũ. Một người thật sự ở trong Chúa sẽ không còn kiêu ngạo. Người đó đã được dựng nên mới. Bản chất của con người mới là khiêm nhường, hạ mình, xem người khác là tôn trọng hơn mình.

Share This:

A. W. Tozer: Cái Nhục Dục và Cái Thuộc Linh

1,911 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Thời kỳ chúng ta đang sống đây có thể được ghi vào lịch sử như là Kỷ Nguyên (của) Nhục Dục (Erotic Age). Tình yêu nhục dục đã được đề cao thành một thần tượng. Ngày nay, thần Ái Tình được nhiều người văn minh tôn thờ hơn là bất cứ vị thần nào khác. Đối với hàng triệu con người, cái nhục dục đã hoàn toàn thay thế cái thuộc linh.

Việc làm thế nào thế giới lâm vào tình trạng này là một điều không mấy khó để phát hiện. Các yếu tố góp phần chính là máy hát và ra-đi-ô, vốn có thể phát một bản tình ca khắp từ nơi này đến nơi khác trong vòng một khoảng thời gian có vài ngày; điện ảnh và truyền hình, vốn có thể khiến toàn bộ số dân (ở một nơi nào đó) dán mắt vào những phụ nữ hấp dẫn và những người đàn ông đa tình đang siết chặt vòng tay (điều này cũng diễn ra ngay trong phòng khách của những gia đình “Cơ Đốc”, ngay trước mắt những trẻ em ngây thơ!); giờ làm việc ngắn hơn và vô số vật dụng máy móc tạo nên thời gian rảnh rỗi nhiều hơn cho mọi người. Thêm vào những điều này là các chiến dịch quảng cáo rầm rộ mà trong đó tình dục là miếng mồi lấp ló thu hút khách hàng trên hầu hết các sản phẩm có thể tưởng tượng ra được; các nhà bình luận thoái hóa, những con người đã đổ dồn cuộc đời mình vào nhiệm vụ quảng bá những con người bất tài, ẻo lả, yếu đuối dưới bộ mặt của các thiên thần và cái luân lý của những người đàn bà nanh ác; những nhà văn viết tiểu thuyết vô lương tâm, những con người đã đạt được sự nổi tiếng và giàu lên từ một việc làm không chút vinh dự: nạo vét những thứ độc hại từ các cống rãnh trong lòng họ để làm nên một trò giải trí cho công chúng. Những điều này cho chúng ta thấy đôi điều về việc làm thế nào thần Ái Tình đã đạt được thắng lợi của mình trên thế giới văn minh.

Bây giờ, nếu vị thần này không động đến các Cơ Đốc nhân, tôi cũng sẽ để yên cho ông ta. Một ngày nào đó cái mớ hỗn độn, hôi hám, lỗ rỗ này sẽ chìm xuống bởi chính sức nặng của mình và trở thành nhiên liệu tuyệt vời cho địa ngục, một sự đền bù công bằng rất thích hợp, và chúng ta sẽ cảm thấy thương hại những con người bị mắc kẹt trong đó. Nước mắt và sự yên lặng có lẽ tốt hơn lời nói nếu mọi thứ khác hơn chính chúng một chút. Nhưng sự sùng bái thần Ái Tình đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến Hội Thánh. Tôn giáo thuần túy của Đấng Christ, vốn tuôn chảy giống như dòng sông pha lê từ trái tim của Đức Chúa Trời, đang bị ô nhiễm bởi những thứ nước ô uế chảy nhỏ giọt từ phía sau những bàn thờ của sự bội đạo xuất hiện trên từng đỉnh đồi và bên dưới những gốc cây xanh khắp từ New York đến Los Angeles.

Sự ảnh hưởng của tinh thần nhục dục được cảm thấy hầu như là ở khắp mọi nơi trong các quỹ đạo Tin Lành. Phần nhiều trong số những lời hát ở một số loại hội họp nào đó chứa đựng sự lãng mạn hơn là nói về Thánh Linh. Cả nhạc và lời đều được viết để kích thích tính dâm đãng. Đấng Christ được thu hút bởi sự gần gũi vốn cho thấy sự không biết Ngài là ai. Đó không phải là sự gần gũi có tính kính sợ của một vị thánh có tấm lòng tha thiết, nhưng là sự gần gũi trơ trẽn của tình yêu thể xác.

Các tiểu thuyết tôn giáo cũng lạm dụng tình dục để thu hút giới độc giả, lời bào chữa mong manh chính là: Nếu sự lãng mạn và tôn giáo được hòa quyện vào trong một câu chuyện, và một con người bình thường vốn không thích đọc các sách tôn giáo thuần túy sẽ đọc câu chuyện và vì thế Phúc Âm sẽ được phơi bày cho người đó. Bỏ sang một bên sự thật là hầu hết các nhà văn viết tiểu thuyết tôn giáo ngày nay đều là những tay nghiệp dư, hiếm khi có một người có thể viết một hàng đơn giản với lối văn thật đẹp, cả quan niệm đằng sau tiểu thuyết lãng mạn tôn giáo có khuyết điểm lớn. Sự thúc đẩy tính dâm đãng và sự cảm động ngọt ngào, sâu xa của Đức Thánh Linh hoàn toàn đối nghịch với nhau. Quan niệm cho rằng thần Ái Tình có thể trở thành một “trợ thủ” cho Đức Chúa Trời vinh hiển là một quan niệm sỉ nhục Ngài. Phim ảnh “Cơ Đốc” lôi kéo người xem bằng cách quay những cảnh yêu đương say đắm trong quảng cáo là một điều hoàn toàn sai trái đối với Tin Lành của Đấng Christ. Chỉ có những kẻ mù lòa thuộc linh mới chấp nhận nó.

Cái mốt hiện tại của vẻ đẹp thể xác và những nhân cách sinh động trong sự thăng tiến (trong) tôn giáo là một biểu hiện khác nữa của sự ảnh hưởng của tinh thần lãng mạn trên Hội Thánh. Sự lãnh đạo nhịp nhàng, nụ cười giả tạo, và giọng nói quá vui vẻ tố cáo cái tôn giáo trần tục. Anh đã học hỏi kỹ xảo của mình qua màn ảnh truyền hình, nhưng chưa học đủ để thành công trong lĩnh vực chuyên nghiệp, vì thế anh mang cái sản phẩm vớ vẩn của mình vào nơi thánh và bán cho những Cơ Đốc nhân ốm đau và nhỏ bé, những người đang tìm kiếm một cái gì đó để hấp dẫn họ đang khi ở trong ranh giới của tôn giáo hiện tại.

Nếu lời tôi nói có vẻ nghiêm trọng quá, thì xin nhớ rằng nó không được viết để hướng về bất cứ cá nhân nào. Hướng về thế giới hư mất của con người, tôi cảm nhận một sự thương cảm sâu xa và một ao ước rằng mọi người sẽ trở lại ăn năn. Vì những Cơ Đốc nhân có sự lãnh đạo mạnh mẽ nhưng sai lầm đã đẩy Hội Thánh hiện tại từ chỗ bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời sang những bàn thờ của sai lầm; tôi cảm nhận một tình yêu thật và sự thông cảm. Tôi muốn là người cuối cùng làm tổn thương họ, nhưng cũng là người đầu tiên tha thứ họ, nhớ lại những tội lỗi của tôi trong quá khứ và nhu cầu cần sự nhơn từ, cũng như sự yếu đuối của riêng tôi cùng với khuynh hướng tội lỗi và sai lầm tự nhiên. Con lừa của Ba-la-am đã được Đức Chúa Trời dùng để quở trách nhà tiên tri. Điều này cho thấy rằng Đức Chúa Trời chẳng cần sự hoàn hảo trong phương tiện Ngài dùng để cảnh cáo và khích lệ dân sự Ngài.

Khi bầy chiên của Đức Chúa Trời lâm vào mối hiểm họa, người chăn không được nhìn vào các ngôi sao và suy nghĩ về những đề tài “gây cảm hứng”. Anh ta, về phương diện đạo đức, bị buộc phải chộp lấy vũ khí của mình và chạy ra bảo vệ bầy chiên. Khi hoàn cảnh đòi hỏi, tình yêu thương có thể dùng lưỡi gươm, dầu vậy, bởi bản chất của mình, nó sẽ hàn gắn những tấm lòng tan vỡ và chăm sóc những người bị thương. Đã đến lúc nhà tiên tri và những người thấy được sự việc phải lên tiếng để người ta nghe và cảm với họ. Trong ba thập kỷ vừa qua, tính rụt rè cải trang dưới sự khiêm tốn đã chui rúc trong góc đang khi mà chất lượng thuộc linh của Phúc Âm Cơ Đốc ngày càng trở nên tệ hơn hết từ năm này sang năm khác. Bao lâu, ôi Chúa ôi, bao lâu?

 

Share This:

Thi Thiên 19:1

1,543 views

"Các tầng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời
Bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm."

(Thi Thiên, Psalm 19:1)

This image resembling Vincent van Gogh's painting, "Starry Night," is an expanding halo of light around a distant star, named V838 Monocerotis (V838 Mon). This Hubble Telescope image was obtained with the Advanced Camera for Surveys on February 8, 2004. Image Credit: NASA, Hubble Heritage Team

Hình chụp gợi nhớ đến tranh vẽ "Starry Night" của Vincent van Gogh này là vùng hào quang tỏa rộng chung quanh một vì sao tên V838 Monocerotis. Hình được chụp bởi Viễn Vọng Kính Hubble với máy ảnh tối tân dùng khảo sát  vào ngày 8 tháng 2 năm 2004.  Nhấp vào | đây | để xem toàn hình.

 

 

 

Đọc Tiếp →

Share This:

Ý Nghĩa Của Tin Lành Cứu Rỗi

1,743 views

Thánh Kinh, là Lời của Đức Chúa Trời, qua đó Ngài bày tỏ tình yêu và sự cứu rỗi của Ngài dành cho nhân loại. Bất cứ ai xưng nhận mình là người có tội, tin nhận Đức Chúa Jesus Christ, là Con Một của Đức Chúa Trời đã nhập thế làm người chết thay cho tội lỗi của nhân loại, thì sẽ được Đức Chúa Trời tha thứ và làm cho người ấy sạch mọi tội lỗi; được Ngài ban cho quyền trở nên con cái của Đức Chúa Trời; và qua khỏi cuộc đời này được sống lại và sống mãi mãi với Ngài trong hạnh phúc.

Đức Chúa Trời tức là Đấng Tạo Hóa mà người Việt chúng ta quen gọi là Ông Trời và tôn thờ Ngài từ bao ngàn năm qua. Ngài tự nhiên có và còn đến đời đời. Ngài là Tình Yêu, Công Chính, và Thánh Khiết.

Vì Ngài là Tình Yêu nên Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên muôn loài vạn vật, xinh đẹp, tuyệt hảo, trong đó có loài người và Ngài ban cho loài người quyền cai trị trái đất cùng muôn vật Ngài đã dựng nên trên đất. Tuy nhiên, loài người đã dùng quyền tự do Chúa ban cho để chống nghịch lại Đức Chúa Trời.

Hậu quả của sự không tin cậy, không vâng lời Đức Chúa Trời đem lại đau khổ và sự chết cho loài người. Sự chết đó bắt đầu bởi sự mất mối giao thông với Đức Chúa Trời nên tâm thần của loài người không còn nhận biết và tôn thờ Ngài đúng cách, không còn được nối tiếp với nguồn của sự sống. Đức Chúa Trời là thánh khiết nên Ngài không thể ngự trong con người tội lỗi. Sự chết trong tâm thần dẫn đến sự chết của linh hồn, khiến linh hồn không còn khả năng yêu thương, không còn khả năng sống công chính… thay vào đó là tác động của tội lỗi, sinh ra: hận thù, ganh ghét, kiêu ngạo, ích kỷ, gian tham, độc ác, v.v. Sự chết của linh hồn dẫn đến việc làm tội lỗi của thể xác và cuối cùng là sự chết của thể xác. Loài người tàn sát lẫn nhau hoặc hậu quả của tội lỗi là thiên tai, bệnh tật, già yếu, v.v. khiến cho thể xác của loài người tàn tạ và tiêu tan, trở về với cát bụi. Đó là sự chết thứ nhất mà chúng ta ai cũng biết và cũng sẽ trải qua!

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Tiếp Nhận Ðấng Chirst Nghĩa Là Gì ?

2,038 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Một vài việc, thật may mắn là chỉ có một vài, là những vấn đề của sự sống và cái chết, chẳng hạn như cuộc hành trình vượt đại dương hay chuyến đi xuyên qua sa mạc. Trốn khỏi những thứ nguy hiểm đến tính mạng này không phải là đánh bạc hay nắm bắt cơ hội; nó là tự sát. Chính là ở điểm này: hoặc là lựa chọn đúng hoặc là sẽ chết.

Mối tương giao của chúng ta với Ðấng Christ là một vấn đề sống hay chết đại loại như vậy nhưng ở trên một bình diện cao hơn nhiều. Một con người được Thánh Kinh dẫn dắt biết rằng Ðức Chúa Jêsus Christ đã đến trần gian để cứu tội nhân và rằng con người chỉ được cứu bởi Ðấng Christ mà thôi, hoàn toàn không dính dáng gì đến những việc giá trị họ làm được.

Ðiều đó là thật và được biết đến nhiều, nhưng rõ ràng là sự chết và sống lại của Ðấng Christ không tự động cứu vớt mỗi con người. Làm thế nào một con người cá biệt có thể bước vào trong mối liên hệ cứu rỗi với Ðấng Christ? Chúng ta biết việc một số người làm được, nhưng những người khác thì không là điều quá rõ ràng. Làm thế nào chiếc cầu lại được bắt ngang qua vực thẳm giữa sự giải cứu được ban cho cách khách quan và sự cứu rỗi được nhận lãnh cách chủ quan? Làm thế nào mà những điều Ðấng Christ đã làm trong tôi lại trở nên có hiệu lực đối với tôi? Ðối với câu hỏi, "Tôi phải làm gì để được cứu rỗi?" chúng ta phải học câu trả lời đúng. Thất bại ở điểm này không phải là đánh bạc may rủi với linh hồn chúng ta; bèn là bảo đảm một sự trục xuất đời đời khỏi trước mặt Ðức Chúa Trời. Ở đây chúng ta phải đúng hoặc cuối cùng sẽ hư mất.

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Con Người: Nơi Ngự của Đức Chúa Trời

1,840 views
Con Người: Nơi Ngự của Đức Chúa Trời
 
Tác Giả: A. W. Tozer

Sâu thẳm trong mỗi con người có một nơi thiêng liêng, nơi đó tồn tại bản chất huyền bí của con người anh ta. Thực thể sâu thẳm bên trong này là một phần của con người, cái mà tự nó thuộc về nó mà không liên quan gì đến bất cứ phần nào khác thuộc bản chất phức tạp của con người. Ðó là cái "Tôi là" của con người, một món quà của Ðấng Ta Là, Ðấng đã tạo nên anh ta.

Ðấng Ta Là chính là Ðức Chúa Trời, Ðấng không có nguồn gốc và tự tồn tại; cái "Tôi là" của con người có nguồn gốc từ Ðức Chúa Trời và luôn lệ thuộc nơi quyền năng sáng tạo của Ngài để được tiếp tục tồn tại. Một là Ðấng Tạo Hóa chí cao, tồn tại từ trước vô cùng, Ngài ngự trong ánh sáng không thể đến gần được. Cái kia là một tạo vật, và dù được nhiều đặc quyền hơn hết thảy mọi tạo vật khác, nhưng vẫn chỉ là một tạo vật, tồn tại bởi sự hào phóng của Ðức Chúa Trời và là một người cầu xin trước ngai của Ngài.

Thực thể sâu thẳm bên trong con người, cái mà chúng ta đang nói đến, được gọi trong Kinh Thánh là "tâm linh của con người". "Vả, nếu không phải là thần linh trong lòng người, thì ai biết sự trong lòng người? Cũng một lẽ ấy, nếu không phải là Thánh Linh của Ðức Chúa Trời, thì chẳng ai biết sự trong Ðức Chúa Trời" (I Cô-rinh-tô 2:11). Vì sự tự biết mình của Ðức Chúa Trời nằm trong Thánh Linh đời đời, nên sự tự biết mình của con người được nhận thức bởi chính linh của anh ta, và sự hiểu biết của anh về Ðức Chúa Trời đến bởi sự linh cảm trực tiếp của Thánh Linh Ðức Chúa Trời trên tâm linh con người.

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Trách Nhiệm Của Cấp Lãnh Ðạo

1,855 views

Trách Nhiệm Của Cấp Lãnh Ðạo

 
Tác Giả: A. W. Tozer

Lịch sử của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa chỉ ra một lẽ thật được thấy rõ ràng trong toàn bộ lịch sử, đó là: người dân đang là hoặc sẽ trở nên giống như những người lãnh đạo họ. Các vị vua dẫn đầu về đạo đức cho thần dân mình.

Công chúng không bao giờ có thể tự hành động cách ồ ạt. Không có một người lãnh đạo thì giống như không có đầu, mà thân thể không đầu là một thân thể bất lực.

 

Lúc nào cũng vậy, phải có ai đó dẫn đầu. Ngay cả bọn du thủ du thực tham gia vào vụ cướp hay mưu sát cũng không phải là một mớ vô tổ chức như vẻ ngoài của nó. Đâu đó đằng sau sự bạo lực là một người lãnh đạo mà ý tưởng của người đó chỉ đơn giản là được thi hành.


Y-sơ-ra-ên đôi lúc nổi loạn và chống lại những người lãnh đạo mình, quả thật là thế, tuy nhiên các cuộc nổi loạn không phải là tự phát. Dân sự chỉ quay sang một người lãnh đạo mới và đi theo ông ta. Họ đi theo Đa-vít trong sự thờ phượng Đức Giê-hô-va, Sa-lô-môn trong việc xây đền thờ, Giê-rô-bô-am trong việc làm con bò vàng và Ê-xê-chia trong việc khôi phục lại sự thờ phượng trong đền thờ.

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Cơ Ðốc Giáo Ăn Liền

1,982 views

A. W. Tozer
Bấm vào đây để download bài viết này

AZTozer.jpg

Thật chẳng có gì ngạc nhiên khi những quốc gia trên thế giới bào chế những sản phẩm như trà uống liền, cà phê uống liền, và mì ăn liền. Và rồi thì thế giới cũng cho ra đời một tôn phẩm cao siêu: "Cơ-đốc Giáo Ăn Liền." Nếu những sản phẩm ăn liền đó đã không xuất xứ từ Hoa Kỳ, thì có một điều không thể phủ nhận được, là chính trào lưu chính thống Mỹ đã đem Cơ-đốc Giáo Ăn Liềnđến cho các Hội Thánh Tin Lành.

Chúng ta bỏ qua một bên Công Giáo La-mã và chủ nghĩa tự do trong những bộ dạng trá hình khác nhau của nó, và hướng sự chú ý lên hình thể của những người Tin Lành, ngay lập tức chúng ta sẽ thấy con dân của Ðấng Christ phải chịu đựng như thế nào ngay chính trong căn nhà của người bạn thân là Hội Thánh. Thiên tài trên nước Mỹ chú ý đến việc làm cho mọi kết quả đạt được nhanh chóng và dễ dàng và không cần quan tâm nhiều đến chất lượng hay tính lâu dài. Ðiều nầy đã sản sinh ra một loại vi khuẩn đầu độc toàn bộ cơ cấu trong Hội Thánh tại Hoa Kỳ từ điều hành, hành chánh, giảng dạy, tổ chức, quy chế, chăm sóc, và những hệ thống khác nữa, và đã gây ảnh hưởng rộng khắp trên thế giới qua những công cuộc truyền giáo.

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Giới Thiệu Tác Phẩm [Tài Liệu Thần Học]

1,753 views

Warren W. Wiersbe
Bấm vào đây để download bài viết này

AZTozer.jpg

Triết lý của tôi là…

"Mọi sự đều sai trật cho đến khi nào Đức Chúa Trời định là nó đúng.”

Câu nói đó của A. W. Tozer tóm tắt một cách hoàn hảo điều ông tin và việc ông đã làm trong suốt những năm hầu việc Chúa. Điểm nhấn mạnh trong tất cả mọi sự giảng dạy của ông là Đức Chúa Trời. Ông không dành thời gian cho những kẻ vụ lợi tôn giáo, những người luôn nghĩ ra các phương cách mới để thực hiện các mục đích cá nhân và thổi phồng những thành tựu của mình. Giống như Thoreau, người ông rất thán phục, Tozer bước đi như là một tay trống khác lạ; và vì lý do đó, ông thường không đồng nhịp bước với những người khác trong cuộc duyệt binh tôn giáo. Nhưng chính sự khác biệt của Tin Lành thuần túy này đã khiến chúng ta yêu mến và cảm kích ông. Ông không hề sợ hãi khi nói với chúng ta điều gì sai. Ông cũng không hề lưỡng lự khi nói với chúng ta cách Đức Chúa Trời có thể khiến nó trở nên đúng. Nếu một bài giảng có thể đem so sánh với ánh sáng, thì A. W. Tozer phát ra một tia lazer từ bục giảng, một tia sáng xuyên thủng lòng bạn, đốt nóng lương tâm bạn, vạch trần tội lỗi, và khiến bạn phải thốt lên, “Tôi phải làm gì để được cứu?” Câu trả lời luôn luôn giống nhau: Hãy đầu phục Đấng Christ; hãy biết Chúa một cách cá nhân; hãy trở nên giống Ngài càng hơn.

Đọc Tiếp →

Share This:

Điều Răn: Lấy Danh Chúa Làm Chơi

2,182 views

Lấy danh Chúa làm chơi!

Đừng làm ô danh thánh Ta, thì Ta sẽ được tôn thánh giữa dân Israel: Ta là Đức Giêhôva làm cho các ngươi nên thánh!

Lêviký 22:32

Đức Chúa Jesus dạy chúng ta rằng, mỗi khi cầu nguyện hãy nhân danh Ngài thì lời cầu nguyện của chúng ta sẽ được nhậm: “Các ngươi nhơn danh Ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, Ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh nơi Con. Nếu các ngươi nhơn danh Ta xin điều chi, Ta sẽ làm cho. (Giăng 14:13, 14).

Sứ đồ Phao-lô cũng dạy rằng hễ ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu (Rôma 10:13). Đối với người chưa tin, được cứu là được cứu khỏi hình phạt đời đời trong hoả ngục; còn đối với người đã tin Chúa, được cứu là được cứu khỏi ảnh hưởng của các đồn lũy của tội lỗi, hay cứu khỏi sự đe dọa tính mạng, khỏi bệnh tật, khỏi sự cám dỗ của ma quỉ, v.v. Danh Chúa Jesus do đó là sức mạnh thuộc linh của chúng ta để chống cự với thế lực bóng tối. Cầu nguyện, kêu cầu trong danh Chúa Jesus tức là kêu gào chính Thiên Chúa Ngôi Hai để Ngài đứng trong vị trí của chúng ta mà cầu thay cho chúng ta với Chúa Cha. Do vậy Cơ Đốc nhân thường chấm dứt lời cầu nguyện của mình bằng câu “nhân danh Chúa Jesus, Amen.” Gọi danh Thiên Chúa là một hành động nghiêm trọng nhất một người có thể làm trong đời này và đời sau.
Đọc Tiếp →

Share This:

Thơ: Xin Một Mùa Xuân Trên Quê Hương

1,735 views

Xuân đã về trên quê hương tôi
Quê hương, ngàn dậm cách xa rồi!
Mỗi độ xuân về, tôi vẫn cứ…
Chạnh lòng thương nhớ mãi không thôi!

Thương nhớ ngày xưa nơi quê hương
Dân tôi chân đất, mộng bình thường…
Cuộc sống khó nghèo, tuy vất vả
Nhưng lòng không thiếu nghĩa yêu thương!

Có những mùa xuân không đủ ăn
Ao khô, vườn cháy, ruộng khô cằn…
Xóm dưới, làng trên cùng chia chác
Vài miếng khoai mì… cho có ăn!

Có những mùa xuân lửa chiến chinh
Kéo về thiêu đốt mộng thanh bình
Nhà tan, cửa nát, người phơi xác…
Làng xóm, màu tang phủ trắng tinh!

Ôi! Những mùa xuân trên quê hương
Dân tôi, dù mộng rất bình thường…
Cơm vẫn thiếu ăn, đời vẫn khổ
Mùa xuân nào cũng chỉ thê lương!

Xin một mùa xuân trên quê hương
Dân tôi tiếp nhận nước thiên đường
Tin Lành Cứu Rỗi, đời thôi khổ
Bởi Chúa Nhân Từ luôn xót thương!

Huỳnh Christian Timothy

 

Share This:

Thơ: Có Những Mùa Xuân…

2,146 views

Có những mùa xuân của tuổi thơ,
Nao nức, hồn nhiên, cố đợi chờ…
Tiếng pháo giao thừa bên bếp ấm
Rồi ngủ quên, cười, trong giấc mơ!

Có những mùa xuân giữa chiến tranh
Rừng sâu ôm súng giữ quê lành,
Tiếng súng ngăn thù thay tiếng pháo,
Giữ nước quên mình, quên tuổi xanh!

Có những mùa xuân giữa ngục tù
Đời buồn như sắc lá mùa thu!
Những mùa xuân lắng nghe lòng chết
Nước mất, nhà tan… điệu hát ru!

Có những mùa xuân đời tỵ nạn
Mùa xuân, băng tuyết vẫn chưa tan.
Nghe lòng lạnh buốt thèm hơi ấm
Khói bánh chưng vờn bên mái tranh!

Biết mấy mùa xuân đã trôi qua
Làm thân lữ thứ biệt quê nhà
Cô đơn, mòn mỏi, hồn khô lệ…
Đời nghĩa gì đâu? Một xác hoa!

Mãi đến hôm nay cuối cuộc đời
Nghe lời Chúa gọi, mãnh hồn côi…
Tìm về nương náu Ngôi Ơn Phước
Tội lỗi một đời, Cha xóa bôi.

Từ nay, Thánh Sủng ngập tâm linh
Đời vui đã thấy được bình minh…
Mùa xuân ơn phước, xuân vô tận
Tạ Chúa Muôn Đời, xuân tái sinh!

Huỳnh Christian Timothy

 

Share This:

Giới Thiệu Tác Phẩm: Người Thiên Quốc

1,620 views

"Người Của Thiên Quốc" (Nguyên tác Anh ngữ: "The Heavenly Man") là một chi tiết lịch sử sống động trong vòng ba thập niên qua của Hội Thánh Chúa tại Trung Quốc, qua cuộc đời của một tôi tớ Chúa, anh Yun!

Chúng tôi đọc cuốn sách này qua bản Anh Ngữ và đã không cầm được nước mắt trước những thương khó mà Hội Thánh Chúa nói chung và các tôi tớ Chúa nói riêng, tại Trung Quốc, đã dự phần với Đấng Christ. Cuốn sách này, cùng với cuốn "Hoa Huệ Giữa Chông Gai" là những bài học thuộc linh quý giá, là những bản anh hùng ca đức tin, là chứng tích về tình yêu và quyền năng, phép lạ của Tin Lành cứu rỗi… dành cho con dân Chúa của thời đại hôm nay.

Cảm tạ Chúa đã cho Hội Thánh Việt Nam được hưởng ơn phước nếm trải phước hạnh được học hỏi những bài học thuộc linh quý giá khi Ngài sắm sẵn người dịch thuật hai tác phẩm nói trên. Trong thời gian sắp tới, www.tinlanhvietnam.net sẽ đăng tải tác phẩm "Hoa Huệ Giữa Chông Gai". Riêng về tác phẩm "Người Của Thiên Quốc" xin bạn đọc liên lạc với dịch giả ở cuối bài này để mua sách.  [ Xem tiếp ]

Trong phần giới thiệu này, chúng tôi xin đăng lời giới thiệu của dịch giả và ba chương trong tác phẩm.

Đôi lời của dịch giả Hoàng-Đức-Thành
về cuốn sách "Người Của Thiên Quốc"

Được dịch từ sách "The Heavenly Man" của tác giả Paul Hattaway
(Có giấy phép của Tác giả)

Sau khi đọc vài trang đầu của cuốn sách The Heavenly Man ‘Người của Thiên quốc’ tôi cảm thấy rất xúc động khi thấy một cậu bé người Trung Hoa tên Yun mong ước chỉ được nhìn thấy cuốn Kinh Thánh thôi, em nài nỉ mẹ đến mức độ mẹ em phải dẫn em đến một Mục sư đã ở tù ra vì phong trào Cách mạng văn hóa bên Trung quốc bắt bớ tất cả những nguời theo Chúa. Bà hy vọng là ông hãy còn cuốn Kinh thánh để em được nhìn thấy. Nhưng em không được toại nguyện, lần thứ hai em lần mò đến một minh mà còn được vị Muc sư căn dặn phải nhịn ăn cầu nguyện và khóc với Chúa ngày đêm mới được. Em kiêng ăn, em cầu nguyện, em khóc và em nằm mơ, em kể cho cha mẹ em nghe, cha mẹ tưởng em nhịn đói hóa điên. Nhưng em vẫn kiên trì kiêng ăn cầu nguyện. Cuối cùng em đã được Chúa sai người mang đến ban cho em cuốn Kinh Thánh như trong giấc mơ của em.

Nguyên mấy trang đầu đã khiến tôi muốn dịch cuốn sách này để chia xẻ với các anh chị em trong Chúa. Khi dịch, càng đi sâu vào cuốn sách nước mắt tôi không sao ngưng chẩy vì có nhiều đoạn lúc Yun lớn lên, em đã chịu nhiều cay đắng khổ cực khi em trở thành một nhà truyền giáo rất đắc lực cho Chúa.

Yun đã bị tù ba lần hầu hết là thời gian anh hầu việc Chúa. Anh bị hành hạ đau đớn khổ sở, anh nhịn ăn, nhịn uống 74 ngày trong tù, anh lại càng bị đánh đập nhiều hơn. Anh chịu đựng được là nhờ những Lời Chúa anh thuc lòng trong Kinh thánh. Họ đánh anh thậm chí què luôn cả hai chân không đi được. Nhưng Chúa vẫn yêu thương anh và dùng anh, Chúa đã cứu anh trốn tù bằng những phép lạ. Chúa cũng cho anh xuất khỏi Trung quốc cũng qua phép lạ để anh tiếp tục sứ mạng rao truyền Danh Chúa, cứu vớt linh hồn lạc lõng trở về. Ra khỏi Trung quốc mà anh vẫn phải vô tù, theo anh đó là ý Chúa muốn vì anh chưa làm xong nhiệm vụ. Không những vậy anh còn gánh nặng gia đình gồm vợ và hai con sống trốn tránh rất cực khổ khi vắng anh và sau này tìm cách vượt biên để xum họp gia đình với anh tại Đức quốc.

Theo tác giả Paul Hattaway, đây là một câu chuyện có thật, càng đọc tôi càng thấy Lời Chúa do tác giả dẫn chứng thật là sâu-sắc và là ngọn đèn soi sáng cho những con cái Chúa hầu việc Ngài trong lúc gặp hoạn nạn khổ đau. Chúa luôn luôn lúc nào cũng ở cùng chúng ta.

Xin kính mời quí vị hãy đọc cuốn sách này để biết thêm về vị trí của mình trong bước đường theo Chúa.

Chương Một

Những Buổi Ban Đầu Khiêm Tốn

Tên tôi là Liu Zhenying, những bạn Cơ đốc của tôi thường gọi tôi là anh Yun.

Vào một buổi sáng mùa thu năm 1999, tôi thức dậy trong thành phố Bergen thuộc miền tây nước Thụy điển. Lòng tôi thấy rộn ràng và hồi hộp sôi sục trong tôi. Tôi đã nói chuyện tại những Hội Thánh suốt xứ Scandinavia, làm chứng về những Hội Thánh Tư gia bên Trung quốc và mời những Cơ đốc nhân đến với chúng tôi vì chúng tôi truyền rao Phúc âm cho khắp nước Trung Hoa và cả những quốc gia ngoài nữa. Những người tôi mời, họ hỏi tôi là nếu tôi muốn đến thăm mộ cô Marie Monsen, mt nữ Giáo sĩ Lutheran nổi tiếng tại Trung quốc, cô là người đã được Chúa sử dụng một cách mãnh liệt để phấn hưng các Hội Thánh ở nhiều nơi trong xứ sở tôi từ năm 1901 đến 1932. Mục vụ truyền giáo của cô đặc biệt nhằm vào phía nam tỉnh Henan, nơi mà tôi từ đó đến.

Cô Monsen là một mẫu người nhỏ nhắn, nhưng là rất to lớn, một vĩ nhân trong vương quốc của Chúa. Hi Thánh Trung quốc chẳng những đã bị chấn động bởi lời giảng của cô mà lại còn bị thách thức mãnh liệt bởi nếp sống của cô. Cô hoàn toàn dâng hiến đời mình và đầu phục Chúa Jê-sus mt cách cương quyết. Cô để lại cho chúng tôi một tấm gương sáng về sự chịu đựng và thương khó khi hầu việc Chúa.

Chúa sử dụng Marie Monsen bằng một cách đầy quyền năng, do đó nhiều phép lạ, dấu kỳ và những việc lạ lùng đã xẩy đến trong mục vụ của cô. Cô trở về Thụy điển năm 1932 để phụng dưỡng cha mẹ già và kể từ đó công việc hầu việc Chúa của cô tại Trung quốc coi như hoàn tất. Cô không bao giờ còn trở lại Trung Hoa nữa, nhưng để lại một đức tin bất khuất, lòng sốt sắng không thể dập tắt được và sự cần thiết trong việc thay đổi lòng người để được hoàn toàn giao phó những gì Đấng Christ mong muốn vẫn còn sống mãi trong các Hi Thánh Trung Hoa cho tới ngày nay.

Bây giờ thì tôi có một đặc quyền lớn là viếng thăm mộ của cô ngay tại xứ sở của cô. Tôi tự hỏi không biết có người Cơ đốc Trung Hoa nào đã bao giờ được hưởng thụ đặc quyền mà tôi sắp thụ hưởng không? Khi cô đến phần đất Trung Hoa của chúng tôi, lúc đó chỉ có vài người tin Chúa và Hi Thán
h rất yếu ớt. Ngày nay có hàng triệu tín đồ. Thay mặt cho họ tôi tỏ lời cảm tạ Chúa cho cuc đời của cô.

Xe của chúng tôi leo lên nghĩa địa, bên cạnh ngọn đồi trong thung lũng chật hẹp với con sông chảy qua. Chúng tôi đi b xung quanh vài phút hy vọng thấy tên của cô trên một trong hàng trăm tấm mộ bia. Không tài nào kiếm thấy mộ cô Monsen, chúng tôi bèn đến văn phòng để hỏi. Người quản nhiệm tại đó cũng không quen với tên của cô nên phải lật sách coi trong danh sách những người chết đã chôn ở đây. Sau khi lật những trang giấy ông ta nói với chúng tôi rằng thật là khó khăn mới kiếm thấy rằng ‘Marie Monsen thực sự đã chôn cất tại đây vào năm 1962. Nhưng mộ của cô không được ai chăm sóc nhiều năm qua, do đó ngày nay chỉ là mt khu đất trống mà không có mộ bia.

Theo phong tục người Trung Hoa việc tưởng nhớ những người quá cố rất được thịnh hành trong nhiều thế hệ nay, do đó tôi không bao giờ ngờ được rằng sự việc đó lại xẩy ra. Những tín hữu địa phương cắt nghĩa rằng họ đã tưởng nhớ tới cô bằng nhiều cách, tỉ như in sách nói về tiểu sử của cô sau khi cô chết. Nhưng đối với tôi việc không làm dấu tích gì mộ của cô là một sỉ nhục mà cần phải sửa đổi lại cho đúng.

Tôi thật đau lòng. Với tấm lòng nặng trĩu tôi nghiêm nghị nói với những Cơ đốc nhân Thụy điển đi cùng với tôi: ‘Các anh chị phải vinh danh người phụ nữ trong Chúa này! Tôi để cho qúy vị hai năm nữa để xây cất một ngôi m và mộ bia tưởng nhớ đến Marie Monsen, nếu qúy vị không làm, tôi sẽ dàn xếp với những anh chị em Cơ đốc khác đi bộ suốt từ bên Trung Hoa đến Thụy điển để xây! Có rất nhiều anh em tại Trung Hoa rất khéo léo về việc đẽo đá vì họ ở trong tù nhiều năm, lao động trong tù vì Tin Lành của Chúa. Nếu qúy vị hờ hững họ sẽ rất sẵn lòng để làm việc đó.’

* * *

Tôi sanh năm 1958, trong năm nhuận của Trung quốc – là ngưòi con thứ tư trong số năm người con trong gia đình. Tôi ra đời trong một làng cổ xưa sống theo cổ truyền chuyên về nghề nông có tên là Liu LaoZhuang trong Phường Nanyang, ở về phía nam tỉnh Henan Trung quốc.

Henan gồm có khoảng 100 triệu linh hồn – là một tỉnh Trung quốc rất đông dân cư. Mặc dù vậy dường như cũng có nhiều nơi bỏ hoang nơi tôi lớn lên – có nhiều đồi để trèo, nhiều cây để leo. Mặc dù đời sống khó khăn, nhưng tôi cũng vẫn còn nhớ thời gian vui đùa khi tôi còn là đứa trẻ.

Tất cả 600 người trong làng tôi đều là tá điền, và họ còn làm cho tới ngày giờ này. Không thay đổi gì nhiều lắm. Chúng tôi phần lớn trồng khoai, bắp và lúa mạch. Chúng tôi cũng trồng bắp cải và nhiều loại củ.

Nhà của chúng tôi theo kiến trúc rất đơn giản gồm đất sét khô. Mái thì lợp bằng rơm dạ. Nước mưa thường chảy qua những lỗ hổng trên mái, về mùa đông thì gió lạnh không bao giờ quên thổi qua những kẽ hở của tường. Khi nhiệt độ hạ xuống dưới độ đông lạnh thì chúng tôi đốt những vỏ khô của bắp còn lại để cho ấm. Chúng tôi không thể cung cấp than được.

Thường thì vào mùa hè, trời nóng và ẩm thấp chúng tôi không thể nào chịu nổi khi ngủ bên trong nhà với lối thoáng khí nghèo nàn. Chúng tôi kéo giường ra ngoài và cả gia đình chúng tôi cùng với một số gia đình trong làng ngủ với gió mát ngoài trời.

‘Henan’ có nghĩa là ‘phía Nam con sông’ Con sông tên Mầu vàng đã phân xé phần đất phía Bắc của tỉnh. Nó thường lụt ti và đã mang bệnh hoạn đến từ nhiều thế kỷ nay cho những người sống dọc theo bờ sông. Chúng tôi biết như vậy vì chúng tôi lớn lên tại đó, nhưng đối với chúng tôi miền Bắc Henan rng có cả triệu dặm xa.

Làng của chúng tôi được qui tụ trong những trái đồi ở phần phía Nam của tỉnh, an toàn khi bị ngập lụt và ngoài vòng ảnh hưởng. Chúng tôi chỉ quan tâm đến mùa gặt tới. Đời sống của chúng tôi hoàn toàn xoay quanh chu kỳ của việc cầy sới, trồng trọt, tưới nước và gặt hái. Cha tôi thường nói chịu khổ để có đủ thực phẩm mà ăn. Cho nên các bàn tay đều phải sử dụng ngoài đồng, dù tôi còn nhỏ tôi cũng bị gọi ra ngoài đó để giúp anh và chị tôi. Bởi vậy cho nên, tôi không có cơ hi đến trường học nhiều.

So với vùng khác của Trung Hoa ai sanh tại Henan thì có tiếng là bướng bỉnh như lừa. Có lẽ vậy mà tính bướng bỉnh này đã ngăn cản những người tại Henan tin nhận Chúa khi những Giáo sĩ Tin lành đến tỉnh này lần đầu tiên vào năm 1884. Có nhiều nhà Truyền giáo hầu việc tại Henan mà không thấy kết quả gì. Vào năm 1922 sau gần bốn mươi năm cố gắng truyền giảng mà chỉ có 12,400 tín hữu Tin lành cho toàn tỉnh bộ. Những kẻ chấp nhận tin vào tôn giáo ‘con quỉ ngoại bang’ thì trông rất nực cười và bị dân chúng tẩy chay. Thường thường sự chống đối tràn ra đến độ họ dùng cả đến những từ ngữ hung bạo. Những Cơ đốc nhân bị đánh đập. Có cả vài người bị giết vì đức tin. Ngay cả những Giáo sĩ cũng vậy, phải đối diện với hình phạt
đó. Nhiều người gán cho những Giáo sĩ là công cụ của đế quốc thực dân, được gởi từ những nước của họ đến để thu hút lòng dân chúng Trung Hoa ngõ hầu chính quyền họ sẽ xâm chiếm đất đai, cướp nguyên liệu thiên nhiên. Sự lăng nhục những người ngoại quốc đã lên đến cực điểm vào năm 1990 khi có một hi bí mật được gọi là ‘Những người đô vật’ xúi dục toàn dân tẩy chay những người ngoại quốc.

Đa số trốn thoát khỏi ngoại trừ có nhiều Giáo sĩ sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh tại ni địa Trung quốc, xa hẳn với nơi an toàn như những thành phố lớn ven biển. Những tên đô vật tàn nhẫn tàn sát hơn 150 Giáo sĩ và cả ngàn người Trung Hoa mới tin nhận Chúa.
Những linh hồn can đảm này đã đến để cứu vớt quốc gia chúng tôi, mang tình yêu của Chúa Jê-sus Christ đến cho chúng tôi họ đã hy sinh và bị thảm sát. Họ đã đến để đồng công với Đấng Christ nâng cao mức sống của chúng tôi bằng việc xây cất nhà thương, viện mồ côi và trường học. Vậy mà chúng tôi đã trả ơn họ bằng sự tàn sát.

Hậu qủa có người tưởng là với biến cố năm 1900 đủ để làm cho những nhà Truyền giáo sợ hãi mà sẽ chẳng bao giờ đến nữa.

Nhưng họ đã lầm.

Vào ngày 1 tháng chín năm 1901, mt chiếc tầu lớn đậu ở bến cảng Shanghai. Một người đàn bà trẻ độc thân từ Thụy điển đã đặt chân lên đất Trung Hoa lần đầu tiên tên là Marie Monsen cô là một trong những làn sóng mới các Giáo sĩ đã thông biết sự tàn sát năm trước đây đã hiến dâng mình hầu việc Chúa truyền giáo toàn thời gian cho nước Trung Hoa.

Monsen ở tại Trung quốc hơn ba chục năm. Thời gian mà cô sống ở khu vực chúng tôi, Nanyang, cô đã khuyến khích và huấn luyện cho mt nhóm tín hữu Trung Hoa bừng dậy lên.
Marie Monsen khác với những Giáo sĩ khác. Cô dường như không quan tâm đến việc đề cao những người lãnh đạo các Hi Thánh. Cô thường nói với họ rằng ‘Quí vị là những người ích kỷ! quí vị chỉ nhận ti với Chúa Jê-sus Christ bằng đầu môi chót lưỡi trong khi đó lòng quí vị chưa thực sự hứa hẹn với Ngài! Hối cải việc đó thì quá mun để thoát khỏi sự phán xét của Chúa!’ Cô đã mang lửa từ bàn thờ Chúa đến.

Cô Monsen nói với những Cơ đốc nhân là học biết về sự tái sanh như vậy chưa đủ, họ phải tái sanh tận gốc rễ để được vào vương quốc của Chúa. Với lời dạy dỗ như vậy cô đã nhấn mạnh gt bỏ sự hiểu biết qua lý trí đối với Chúa mà họ phải có trong ni tâm mt cuc sống đầy dãy Thánh linh. Những tấm lòng đã hối cải vì ti lỗi và lửa phục hưng đã thổi qua các làng trung tâm Trung quốc bất cứ nơi nào cô đặt chân tới.

Vào năm 1940 một Giáo sĩ phương Tây khác đến giảng về Lời Chúa cho mẹ tôi, lúc đó bà mới hai mươi tuổi. Mặc dù bà không hoàn toàn hiểu nhưng bà rất có thiện cảm với những gì bà nghe. Đặc biệt là bà thích hát thánh ca và nghe những chuyện trong Kinh thánh mà những nhà truyền giáo chia xẻ trong nhóm nhỏ khi họ đi thăm viếng miền quê. Chẳng bao lâu mẹ tôi đến nhóm với Hội Thánh và trao trọn cuc đời cho Chúa Jê-sus Christ.

Trung quốc trở thành mt nước Cng sản vào năm 1949, trong vòng vài năm sau tất cả các Giáo sĩ đều bị trục xuất, các nhà thờ đóng cửa, và hàng ngàn vị Mục sư Trung Hoa bị nhốt tù. Nhiều người mất mạng. Mẹ tôi trông thấy những Giáo sĩ rời khỏi Nanyang trước năm 1950. Bà không bao giờ quên những giọt nước mắt trên má họ khi họ phải ra bến cảng dưới sự dẫn độ của những người lính có võ trang. Mục vụ của họ đã chấm dứt một cách tức tưởi.

Chỉ có một thành phố tại Trung quốc là Wenzhou ở tỉnh Zheuiang có 49 Mục sư bị nhốt tù khổ sai gần biên giới Liên sô vào năm 1950. Nhiều người bị kết án trên mười hai năm về ti đã rao giảng Tin Lành. Trong số 49 Mục sư chỉ có mt người sống sót và trở về nhà còn 48 người kia đều chết trong tù.

Khu vực nhà tôi ở Nanyang, những tín đồ bị đóng đinh lên tường của nhà thờ vì đã không từ chối Đấng Christ. Những người khác thì bị xích vào xe và ngựa kéo lết đi cho tới chết.
Có mt vị Mục sư bị trói và ct vào một sợi dây thừng dài. Chức quyền giận điên lên vì người của Chúa này không chịu từ chối đức tin nên họ đã dùng chiếc cần của xe cần trục kéo ông lên cao. Trước hàng trăm nhân chứng đến buộc tội gian là ‘chống đối cách mạng’, vị Mục sư được hỏi lần cuối cùng rằng ông có chịu từ chối không. Ông la lớn lên trả lời: ‘Không! tôi sẽ không bao giờ từ chối Chúa của tôi là Đấng đã cứu tôi!’ Chiếc dây thừng được thả xuống và vị Mục sư bị dập nát dưới mặt đất.

Sau khi khám xét, những tên hành hạ đó đã khám phá thấy vị Mục sư chưa chết hẳn nên chúng dựng ông dậy kéo ông lên cao lần thứ hai thả dây xuống để kết liễu đời ông. Trong cuộc đời này vị Mục sư đã chết nhưng ông sống trên Thiên đàng với phần thưởng của một người đã trung kiên cho tới chết.
< br />Cuộc đời không có gì là khó khăn đối với những Cơ đốc nhân. Chủ tịch Mao đã đề xướng ra một kinh nghiệm mà ông ta gọi là ‘Một bước nhẩy vọt’ cái đó đã kéo theo một đống người chết đói tại Trung Hoa. Thực sự bước nhảy vọt đó đã kéo tổ quốc họ thụt lùi. Ở trong tỉnh tôi tại Henan có vào khoảng tám triệu người chết đói.

Trong thời kỳ khó khăn đó có Hội Thánh bé nhỏ còn non nớt được mọc rải rác ở phố tôi ở là Nanyang. Họ như những con chiên không có người chăn. Mẹ tôi cũng phải rời khỏi Hội Thánh. Qua những thế hệ sau, vì hoàn toàn đói khát về sự thông công với các tín hữu và không có Lời Chúa. Mẹ tôi quên hầu hết những gì bà đã học khi bà còn trẻ. Sự tương giao với Chúa đã trở nên ngụi lạnh.

* * *

Vào ngày 1 tháng Chín năm 2001 – đúng một trăm năm kể từ ngày mà cô Marie Monsen lần đầu tiên đến Trung quốc để truyền giáo – có trên ba trăm Cơ đốc nhân người Thụy điển đến tụ tập tại nghĩa địa Bergen để cầu nguyện và làm mt buổi lễ hiến dâng. Một mộ bia mới được đặt lên để tưởng nhớ cô Monsen đã trả giá cho việc đóng góp của bà vào các Hi Thánh và những cá nhân người Cơ đốc.

Hình cô Monsen và tên cô bằng tiếng Trung Hoa được xuất hiện trên mộ bia như sau:

Marie Monsen 1878 -1962
Giáo sĩ tại Trung Quốc 1901-1932

Chương Hai

Người Đói Khát Được No Bụng

‘Hỡi các cù lao, hãy nghe ta! Hỡi các dân xa lạ hãy ghé tai! Đức Giê-hô-va đã gọi ta từ trong bụng mẹ đã nói đến danh ta từ lòng dạ mẹ ta.’ (Ê-sai 49:1)

Chúa đã gọi tôi theo Ngài lúc tôi mới 16 tuổi. Năm đó là năm 1974, và cuộc Cách mạng văn hóa vẫn còn dữ di khắp Trung Hoa.

Lúc đó cha tôi bị đau. Ông bị xuyễn rất nặng, nó làm cho ông bị ung thư phổi. Ung thư đó đã lây ra bao tử của ông. Bác sĩ cho hay ông không thể cứu được nữa và sẽ chết, và nói với mẹ tôi: ‘Không còn hy vọng gì cho chồng bà nữa, hãy về lo sửa soạn chôn cất.’

Mỗi đêm cha tôi nằm trên giường rất khó thở. Vì là người mê tín dị đoan nên cha tôi đã nhờ những người hàng xóm kiếm cho mt thầy phù thủy đến để tống khứ ma quỉ khỏi ông, vì ông tin rằng bệnh hoạn của ông là do kết quả của sự tức giận của ma quỉ.

Bệnh hoạn của cha tôi đã làm cho chúng tôi hết cả tiền của và sức lực. Bởi vì sự nghèo đói của chúng tôi mà tôi không được đến trường học cho tới khi tôi lên chín, rồi thì tôi phải nghỉ học lúc mười sáu tuổi vì bệnh ung thư của cha tôi. Anh chị tôi và tôi buc phải đi xin thức ăn tại hàng xóm và bạn bè để sống.

Cha tôi trước kia là Đại úy trong Quân đi Quốc gia, ông đã chiến đấu chống Cộng sản, những người ở làng khác và những ngươi bị hành hạ rât ghét ông trong cuc cách mạng văn hóa. Cha tôi đã giết rất nhiều người trong chiến trận và chính ông cũng súyt chết. Ông bị tất cả mười hai vết sẹo đạn bắn vào chân ông.

Khi tôi mới sanh, cha tôi đặt tên tôi là ‘Zhenying’ tên này có nghĩa là ‘Anh hùng của đơn vị đồn trú’
Cha tôi có tiếng là hay sợ sệt. Hàng xóm tránh né ông vì tính nết hung dữ của ông. Khi Đi Phòng vệ Đỏ đến để buc ti ông trong thời cách mạng văn hóa, ông phải chịu đựng nhiều cuc tra tấn đánh đập. Ông đã can đảm từ chối nhận ti và không trả lời khi hỏi đến việc ông đã giết bao nhiêu người. Ông cứng đầu thà là bị đánh hay là bị giết chứ không muốn nói cho chúng biết những gì chúng muốn nghe.

Có hai phương diện của cha tôi. Hầu hết mọi người đều biết cha tôi cực kỳ cứng rắn và nóng tính. Điều đó là đúng. Ông đã răn dạy các con hai điều chính yếu: thứ nhất là phải tàn bạo và cứng rắn với kẻ khác, thứ hai là luôn luôn phải làm việc tích cực.

Nhưng tôi cũng còn nhớ về mặt hòa nhã của ông. Ông luôn luôn che chở vợ con từ những hãm hại bên ngoài. Nói chung là tôi rất gần với cha tôi. Tôi hy vọng cha tôi sức khỏe khá hơn, nhưng trường hợp còn tồi tệ hơn. Mẹ tôi ở trong thế nặng nề, đối diện với những viễn tượng nản chí phải mt mình nuôi nấng năm đứa con. Bà không biết những gì sẽ xảy đến cho chúng tôi nếu cha tôi chết. Mọi sự đều vô vọng đến nỗi bà dự định tự vận.

Có một đêm khi mẹ tôi nằm trên giường, hoàn toàn thức giấc. Bất chợt bà nghe thấy rõ ràng tiếng nói dịu dàng đầy thương xót nói rằng: ‘Chúa Jê-sus yêu con.’ Bà quì gối xuống sàn và nước mắt trào ra hối lỗi và trao trọn vẹn cuc đời bà cho Chúa Jê-sus Christ. Giống như người con hoang đàng, mẹ tôi đã trở về nhà với Chúa. Ngay lập tức bà gọi hết mọi người trong gia đình đến và cầu nguyện với Chúa Jê-sus. Bà nói với chúng tôi ‘Chúa Jê-sus là nguồn hy vọng duy nhất của cha con.’ Tất cả mọi chúng tôi dâng cả đời sống cho Chúa khi chúng t
ôi biết sự việc đó xảy ra. Chúng tôi, mọi người đặt tay lên cha tôi trong đêm và lớn tiếng cầu nguyện: ‘Lạy Chúa Jê-sus, xin Ngài chữa lành cho cha con! Chúa Jê-sus ơi xin Ngài chữa cho cha con!’

Ngay sáng sớm hôm sau cha tôi thấy khỏe hẳn lại! Đây là lần đầu tiên trong những tháng dài ông ăn đã thấy ngon miệng. Trong vòng một tuần lễ cha tôi bình phục hoàn toàn và không còn dấu vết gì là bị ung thư! Thật là một phép lạ vĩ đại từ nơi Chúa.

Chúng tôi đã kinh nghiệm được sự phấn hưng từ nơi Chúa trong gia đình và đời sống của chúng tôi đã thay đổi mt cách mạnh mẽ. Thật đó là mt thời gian tác đng mạnh trong ngày hôm đó vì gần 30 năm sau khi Chúa Jê-sus chữa lành bệnh cho cha tôi, tất cả năm người con của ông vẫn còn theo Chúa.

Cha mẹ tôi rất đi ơn Chúa về những điều Ngài đã làm và cha mẹ tôi đã tức thì làm chứng tin vui này cho mọi người trong làng. Vào những ngày đó tụ họp là bất hợp pháp, nhưng cha mẹ tôi nghĩ ra mt chương trình là sai chúng tôi đi mời họ hàng bè bạn đến nhà chúng tôi.

Mọi người đến nhà chúng tôi cũng không biết lý do gì được mời đến. Nhiều người đoán chắc là cha tôi chết, do đó họ đã mặc quần áo chỉnh tề để dự đám tang! Họ rất ngạc nhiên là thấy cha tôi ra chào đón họ ở ngoài cửa, trông b thật khỏe mạnh! Khi tất cả họ hàng và bạn bè đã đến đông đủ, cha mẹ tôi mới mời họ vô trong nhà. Khóa cửa và che cửa sổ lại rồi cha mẹ tôi mới giải thích rằng cha tôi hoàn toàn được chữa lành bởi sự cầu nguyện với Chúa Jê-sus. Tất cả họ hàng bạn bè đều quì gối xuống sàn nhà và vui mừng tiếp nhận Chúa Jê-sus là Chúa là Chủ của họ.

Những giây phút đó thật là lý thú. Không những tôi tiếp nhận Chúa Jê-sus là Cứu Chúa của đời sống tôi nhưng tôi cũng còn trở nên một người thực sự muốn hầu việc Ngài với tất cả tấm lòng.

Mẹ tôi chưa bao giờ học đọc và viết chữ, nhưng bà đã trở nên mt người giảng lời Chúa trong làng. Bà đã hướng dẫn một Hi Thánh nhỏ trong nhà chúng tôi. Mặc dù còn nhỏ tôi không thể nhớ nhiều lời Chúa nhưng mẹ tôi luôn luôn cổ vũ chúng tôi hướng về Chúa Jê-sus. Khi mà chúng tôi lớn tiếng kêu cầu Chúa thì Chúa Jê-sus giúp đỡ chúng tôi với lòng thương xót của Ngài. Nhìn trở lại những ngày đó mới đây, tôi rất đỗi ngạc nhiên sao Chúa đã sử dụng mẹ tôi mặc dù bà vô học và chẳng biết gì cả. Chí hướng trong lòng bà hoàn toàn trao cho Chúa Jê-sus. Có mt vài giới lãnh đạo các Hội Thánh Tư gia tại Trung quốc gặp Chúa lần đầu tiên cũng do lời giảng của mẹ tôi.

Lúc đầu tôi thực sự không biết Chúa Jê-sus là ai, nhưng khi nhìn thấy Chúa chữa lành bệnh cho cha tôi và giải phóng gia đình tôi. Tôi hiến dâng cuc đời tôi một cách tin tưởng cho Chúa, Đấng đã chũa lành cho cha tôi và cứu tôi. Trong thời gian ấy, tôi thường hỏi mẹ tôi Chúa Jê-sus thực sự là ai. Bà trả lời :’Chúa Jê-sus là Con của Đức Chúa Trời, Ngài đã chết trên thập tự giá vì chúng ta, gánh lấy hết ti-lỗi và bệnh tật của chúng ta. Ngài đã ghi tất cả những điều dạy dỗ của Ngài trong Kinh thánh.’

Tôi hỏi rằng có những lời nào của Chúa Jê-sus còn lại để tôi có thể đọc được không. Bà trả lời: ‘Không, tất cả những lời ấy đã bị mất rồi. Không có gì còn lại qua lời của Ngài. Đó là vì trong thời kỳ cách mạng văn hóa Kinh thánh không còn thấy nữa.’

Kể từ ngày đó tôi thiết tha mong muốn có mt cuốn Kinh thánh của riêng tôi. Tôi hỏi mẹ tôi và các bạn Cơ đốc rằng cuốn Kinh thánh hình thù nó giống ra sao, nhưng chẳng ai biết cả. Có một người đã trông thấy một khúc Thánh kinh viết tay và các tờ bài hát nhưng chưa bao giờ được thấy nguyên cuốn Kinh thánh. Chỉ có một vài Cơ đốc nhân già cả có thể nhớ lại đã nhìn thấy Kinh thánh nhiều năm trước đây. Lời của Chúa thật là hiếm hoi trong ni địa.Tôi thật thèm khát có được một cuốn Kinh thánh. Nhìn thấy sự thất vọng của tôi, mẹ tôi nhớ lại có mt ông cụ già sống ở làng bên.

Ông đã là một Mục sư trước ngày cách mạng văn hóa.
Hai mẹ con tôi bắt đầu đi b thật xa đến được nhà ông. Khi thấy ông, mẹ tôi nói với ông lòng khao khát của chúng tôi:

‘Chúng tôi mong chờ hoài để được nhìn thấy cuốn Kinh thánh, cụ có cuốn nào không?’

Tức thì ông nhìn chúng tôi một cách sợ hãi. Ông già này đã bị gần 20 năm trong tù vì đức tin của ông. Ông nhìn tôi và nhìn thấy tôi còn trẻ và nghèo nàn, với b quần áo rách tả tơi đi chân không. Ông già cảm thấy thương hại nhưng cũng vẫn không muốn cho tôi thấy cuốn Kinh thánh của ông.

Tôi không trách cứ gì ông bởi vì trong những n
gày ấy tại Trung quốc Kinh thánh rất hiếm. Không ai được phép đọc bất cứ sách nào ngoại trừ cuốn sách nhỏ màu đỏ của Mao. Nếu thấy ai đọc Kinh thánh thì Kinh thánh sẽ bị đốt và người có cuốn Kinh thánh với cả gia đình sẽ bị đánh đập tàn nhẫn ngay trước mặt làng xóm.

Vị Mục sư cao niên chỉ vẻn vẹn nói với tôi: ‘Cuốn Kinh thánh là mt cuốn sách Thánh, nếu cháu muốn có một cuốn thì cháu cần phải cầu nguyện với Chúa ở trên Thiên đàng. Thì Ngài sẽ cung cấp cho cháu cuốn sách Thánh ấy. Chúa là thành tín. Ngài luôn luôn nhậm lời khi ai tìm kiếm Ngài với tất cả tấm lòng.

Tôi hoàn toàn tin tưởng ở lời của vị Mục sư này.

Khi tôi trở về nhà, tôi vác một hòn đá vào trong phòng tôi và quì lên đó cầu nguyện vào mỗi chiều tối. Tôi chỉ cầu nguyện có mt điều đơn giản: ‘Chúa ơi, Chúa làm ơn cho con cuốn Kinh thánh, A-men.’ Lúc đó tôi không biết cách cầu nguyện ra làm sao, nhưng tôi cứ tiếp tục hơn một tháng.

Không có gì xảy ra cả. Kinh thánh cũng không thấy xuất hiện.

Tôi trở lại nhà của vị Mục sư đó nữa. Lần này tôi đi một mình. Tôi nói với cụ: ‘Cháu đã cầu nguyện Chúa theo như lời cụ dạy, nhưng cháu vẫn chưa nhận được cuốn Kinh thánh mà cháu rất cần. Cụ ơi, cụ làm ơn cho cháu thấy cuốn Kinh thánh ra sao đi, chỉ liếc mắt nhìn thôi cháu cũng mãn nguyện rồi! Cháu cũng không cần sờ vào cuốn đó nữa. Cụ cứ giữ lấy nó. Cháu cũng hả lòng khi được nhìn thấy cuốn sách đó. Nếu cháu có thể chép được một vài câu thì cháu sẽ sung sướng khi về nhà.’

Vị Mục sư này nhìn thấy lòng áy náy của tôi. Cụ lại nói với tôi thêm nữa: ‘Nếu cháu thực lòng, thì từ nay cháu khỏi cần quì gối cầu nguyện với Chúa nữa, nhưng cháu phải kiêng ăn và khóc với Chúa. Cháu càng khóc nhiều chừng nào thì cháu sẽ có cuốn Kinh thánh sớm chừng đó.’

Tôi trở về nhà, mổi sáng và mỗi chiều tôi chẳng ăn uống gì. Mỗi buổi chiều tôi chỉ húp có chút ít cháo hoặc ăn chút cơm. Tôi kêu gào khóc lóc như đứa trẻ đối với Cha nó trên Thiên đàng là muốn được đầy lời dạy dỗ của Cha. Một trăm ngày sau, tôi cầu nguyện xin mt cuốn Kinh thánh cho tới chừng tôi không thể chịu đựng nổi được nữa. Cha mẹ tôi tin chắc là tôi đã mất trí.

Nhìn lại những năm trước gần đây, tôi có thể nói rằng đây là những kinh nghiệm khó khăn nhất mà tôi đã từng chịu đựng.

Rồi thì bỗng nhiên mt buổi sáng lúc 4 giờ, sau nhiều tháng xin Chúa trả lời những lời cầu nguyện của tôi, tôi đã được nhìn thấy một khải tượng từ nơi Chúa trong lúc tôi quì gối bên cạnh giường. Trong khải tượng ấy tôi thấy tôi đang leo lên mt ngọn đồi, cố đẩy mt chiếc xe phía trước tôi. Tôi hướng về một làng nơi này tôi dự định xin thức ăn cho gia đình tôi. Tôi cố sức vật ln vì đói và yếu và đã chịu đựng khi kiêng ăn. Chiếc xe gần như tụt xuống đè lên tôi.

Lúc đó tôi thấy có ba người đang đi tới xuống đồi hướng nghịch về phía tôi. Có một người lớn tuổi thật tốt, ông để b râu quai nón dài đang đẩy mt xe đầy bánh bao nóng hổi. Hai người kia đi cặp hai bên xe. Khi ông già đó nhìn thấy tôi, ông rất thương hại tôi và để tỏ lòng thương xót, ông hỏi tôi: ‘Cháu có đói không?’ Tôi trả lời: ‘Thưa có, cháu chẳng có gì để ăn cả. Cháu đang đi xin thức ăn cho gia đình cháu.’Tôi khóc vì gia đình quá nghèo. Vì cha tôi bị bệnh, chúng tôi đã bán hết mọi thứ đáng giá để mua thuốc cho cha tôi. Chúng tôi còn chút ít tiền để sống, và cũng đã nhiều năm nay chúng tôi đã buc phải đi xin thức ăn từ các bạn bè và hàng xóm. Khi mà ông già đó hỏi tôi, tôi có đói không, tôi không thể đừng được mà bật lên tiếng khóc. Tôi chưa bao giờ thấy mt tình yêu chân thật và lòng trắc ẩn của bất kỳ người nào trước đây như vậy.

Trong khải thị đó, ông già cầm một bao đỏ có bánh từ trong chiếc xe ra và bảo hai người hầu cận trao cho tôi. Ông nói: ‘Cháu phải ăn ngay đi.’

Tôi liền mở bao ra và nhìn thấy một chiếc bánh bao còn nóng hổi bên trong. Khi tôi bỏ chiếc bánh vô miệng, bất chợt nó trở thành cuốn Kinh thánh! tôi thấy tôi bất thình lình qùy xuống với cuốn Kinh thánh và lớn tiếng cảm tạ ơn Chúa. ‘Chúa ơi, Danh Chúa đáng tôn thờ! Chúa không coi thường lời cầu nguyện của con. Chúa đã cho phép con có được cuốn Kinh thánh này. Con muốn hầu việc Chúa suốt cuc đời còn lại của con.’

Tôi thức dậy bắt đầu đi kiếm cuốn Kinh thánh trong nhà. Mọi người trong nhà đều ngủ cả. Khải thị tôi thấy thật là rõ rệt khi tôi thể hiện thì nó chỉ là mt giấc mộng, tôi thật là đau khổ, tôi khóc thật là lớn. Cha mẹ tôi vi chạy ùa vô phòng tôi để xem việc gì đã xẩy ra
. Cha mẹ tôi cho rằng tôi phát khùng vì tôi đã nhịn ăn để cầu nguyện . Tôi kể lại cho cha mẹ tôi về khải thị đó của tôi, nhưng khi tôi càng chia xẻ thì cha mẹ tôi lại càng cho tôi là điên khùng! Mẹ tôi nói: ‘Trời chưa sáng, chưa có ai đến nhà mình. Cửa còn khóa kỹ.’

Cha tôi ôm chặt lấy tôi. Với nước mắt trào ra, ông khóc với Chúa. ‘Chúa kính yêu ơi, xin Chúa thương xót con của con. Xin Chúa đừng để cho con của con mất trí. Con sẵn lòng bị bệnh trở lại nếu việc đó làm cho con của con khỏi mất trí. Xin Chúa háy cho con của con mt cuốn Kinh thánh!’

Cha tôi, mẹ tôi và tôi quì xuống tay trong tay và cùng khóc.

Bất thình lình tôi nghe thấy tiếng gõ cửa yếu ớt. Một tiếng nói êm dịu gọi tên tôi. Tôi vi chạy đến và hỏi qua cửa khóa: ‘Ông mang bánh đến cho tôi hả?’ Tiếng nói êm dịu trả lời: ‘Vâng, tôi mang đến mt bữa tiệc bánh cho cậu.’ Tức thì tôi nhận ra ngay tiếng nói đó y như tiếng nói tôi đã nghe trong khải tượng.

Tôi vi mở cửa ra thì đứng xững trước mặt tôi là cũng hai người hầu cận mà tôi đã thấy trong khải thị. Một người cầm mt túi đỏ trong tay. Tim tôi đập mạnh khi tôi mở túi ra và cầm lên trong tay cuốn Kinh thánh của chính tôi!

Hai người vi vã rời khỏi trong đêm tối tĩnh mịch.

Tôi ôm ghì cuốn Kinh thánh mới này của tôi vào lòng và qùy xuống ngay ngoài cửa. Tôi lại tạ ơn Chúa nữa và nhiều nữa. Tôi hứa với Chúa Jê-sus rằng kể từ nay về sau tôi sẽ nghiền gẫm lời Chúa như là đứa trẻ đang đói. Sau này tôi khám phá ra được tên của hai người này. Một là anh Wang và người kia là anh Sung. Họ từ một làng xa. Họ nói với tôi về một Giáo sĩ mà tôi chưa bao giờ được gặp mặt. Ông này đau khổ khủng khiếp trong thời gian cách mạng văn hóa và suýt chết khi bị chúng hành hạ.

Khoảng trước ba tháng ngày tôi nhận được cuốn Kinh thánh của tôi thì vị Giáo sĩ này nhận được khải thị từ Chúa. Chúa cho ông thấy mt cậu bé mà ông phải trao cho cuốn Kinh thánh ông đã dấu kín. Trong sự mặc khải đó ông thấy nhà của chúng tôi và cả nơi ở của chúng tôi trong làng nữa.

Giống như nhiều Cơ đốc nhân vào thời đó, ông cụ ấy đã đặt cuốn Kinh thánh của cụ vô trong chiếc hp và chôn thật sâu xuống đất, hy vọng rằng mt ngày nào đó sẽ đến, ông có thể đào lên và còn đọc lại được. Mặc dù với khải thị ông thấy nhưng cũng phải đợi vài tháng ông mới quyết định thi hành điều Chúa đã bảo ông làm. Ông yêu cầu hai Cơ đốc nhân khác trao cuốn đó cho tôi. Và rồi họ phải đi bộ suốt đêm mới tới nhà tôi. Sau đó tôi cầu nguyện với Chúa Jê-sus với lời cầu nguyện trung tín. Tôi hoàn toàn tin vào Lời Chúa trong Kinh thánh, tôi luôn luôn mang theo cuốn Kinh thánh, ngay cả khi tôi đi ngủ, tôi để nó trên ngực tôi. Tôi ghiền gẫm lời dạy dỗ trong đó như đứa trẻ đang cơn đói.

Đây là món quà đầu tiên tôi chưa bao giờ nhận được từ nơi Chúa khi cầu nguyện.

* * *

Deling: Vào khoảng thời gian đó Chúa sửa soạn cho chồng tôi anh Yun mt cuc sống hầu việc Chúa bằng lời Ngài . Anh cũng kêu gọi tôi cùng anh và hướng dẫn tôi làm cng sự viên của anh. Tôi sanh năm 1962 tại quận Nanyang thuc tỉnh Hen, trong mt làng có tên là Yenzhang. Làng của anh Yun ở cách tôi khoảng vài dậm.

Gia đình tôi thì thật là nghèo. Với bẩy anh chị em, chúng tôi khó mà có quần áo để mặc, thực phẩm để ăn.

Khi nghĩ lại thời thơ ấu, tôi nhớ là thời hạnh phúc hòa với sự vật ln để sống. Đồng rung của chúng tôi ở cách nhà khoảng mt dậm, do đó chúng tôi phải cuốc b đi và về hàng ngày, vác theo những dụng cụ nặng nề và đồ dùng cho nông trường. Chúng tôi cũng phải dắt trâu bò tới đó đi và về hàng ngày.

Chúng tôi là trẻ nít nên được giao cho việc vặt là vác bông gòn hái được mang về nhà bằng những rổ nặng, treo tòng teng trên gánh. Chúng tôi trượt té trong bùn. Đôi khi mất cả tiếng đồng hồ mới vác được về tới nhà. Đó là mt công việc nặng nề gãy sống lưng.

Đời sống tôi bị chi phối bởi sự chống trọi với bệnh loãng máu. Nếu tôi bị đứt thịt, máu sẽ không ngưng chảy trong khoảng thời gian khá lâu. Dường như tôi cứ phải băng bó chân tay bằng những miếng rẻ rách để ngăn chặn máu chảy.

Mẹ tôi thì vì bị áp lực lạ lùng đè lên bà nên bị bệnh tâm thần. Ban ngày thì có vẻ tỉnh táo nhưng về đêm chúng tôi nghe thấy bà nói mt mình, khi cười khi khóc. Đôi khi bà nói chuyện với bức tường như nói với một người nào vậy.

Sau khi mẹ tôi tin Chúa, sự bình an của Chúa dần dần chiếm hữu, bà phục hồi và tỉnh táo lại. Đây là mt bằng chứng mạnh mẽ cho gia đình và hàng xóm chúng tôi.

Lúc đầu tôi tin Chúa qua một sự đau đớn về thể xác rất dữ dội. Người hàng xóm t&ocir
c;i là một bà Cơ đốc nhân, bà hứa với tôi một câu rất đơn giản là: ‘Nếu tôi tin Chúa Jê-sus thì Ngài sẽ chữa lành cho’ Khi tôi 18 tuổi tôi trao cuc đời tôi cho Chúa Jê-sus Christ.

Ngay tối hôm đầu tiên với tư cách là mt tín hữu tôi đã dự một buổi nhóm đầu tiên tại Hội Thánh. Nhân viên An ninh công cng đến, chúng tôi đều phải chạy trốn trong đêm tối. Đây là việc khởi đầu giới thiệu về những gì khi tôi theo Chúa!

Vài ngày sau tôi được nhận phép báp-têm, tôi nhận được mt khải thị rõ rệt của Chúa khi tôi đang ngủ. Có một người dẫn tôi đến mt cái ao trong đó chứa nước thật trong như pha lê. Tôi được bảo phải rửa tay và chân bởi vì tôi đã hoàn toàn bị thương vì bệnh tật của tôi. Trong khải tượng, tôi thấy tôi nhúng tay và chân đầy sẹo vô nước và tôi thấy sao da thịt tôi được lành và mới. Sáng ngày hôm sau khi tôi tỉnh dậy tôi thấy da của tôi giống như da của đứa trẻ mới sanh! Việc gì đã xẩy đến cho tôi trong khải thị mà bây giờ lại xẩy đến trong lúc tôi đang ngủ!

Tôi bây giờ không còn khổ sở vì bệnh loãng máu của tôi nữa.

Bởi vì phép lạ vĩ đại mà Chúa đã thể hiện trên tôi. Trong khi đó cuc sống của chúng tôi vẫn còn bị khó khăn vì phải đương đầu với sự khủng bố hàng ngày. Nhưng tôi hứa với Chúa là tôi quyết theo Chúa Jê-sus bằng mọi giá.

Có hai người đàn bà còn trẻ đã tin nhận Chúa cùng lúc với tôi. Chúng tôi cùng nhóm họp với nhau. Họ thì sống phía bên kia của quận nên chúng tôi phải đi b tới hơn một tiếng mới tới đó. Sau buổi nhóm tôi phải đi bộ một mình về nhà. Như thế thật là nguy hiểm bởi vì trời thì tối và có những tên côn đồ và chó dữ ở ngoài đường vào ban đêm.

Chúa đã làm phép lạ vĩ đại để che chở và giúp tôi những buổi sáng sớm trong ngày ấy. Nhiều đêm khi tôi đi bộ về nhà tôi nhìn thấy ánh sáng cách xa tôi khoảng mười thước, dường như có người đang cầm đèn dẫn lối tôi đi. Trong đêm tối như vậy tôi thường hay bị lạc đường, lúc đó tôi thấy ánh sáng, giống như ngôi sao chỉ đường cho tôi quay trở lại đi đúng đường. Ánh sáng không có chiếu liên tục. Nó chỉ bật lên khi tôi đi ln đường.

Vì những kinh nghiệm đó nên đức tin của tôi lớn mạnh rất nhanh……

[Xem tiếp: Cuộc Vượt Ngục Lạ Lùng]

 

Share This:

Người Thiên Quốc: Cuộc Vượt Ngục Lạ Lùng

1,613 views

Chương Hai Mươi Hai

Cuộc Vượt Ngục Lạ Lùng

Hãy chờ dậy và đứng lên’ (Công vụ các Sứ đồ 26:16)

Đây là một điểm thấp nhất trong đời tôi là tôi đã cay đắng than phiền Chúa.

Tôi đã 39 tuổi rồi mà không thấy tương lai hy vọng gì cho tôi cả. Tôi nói với Chúa: ‘Khi con còn trẻ, Chúa gọi con để đi rao truyền Tin Lành cho Chúa ở phương Tây và phương Nam. Bây giờ con làm sao có thể làm được? Con ngồi ở đây trong tù với đôi chân gẫy và cam chịu mục nát ở chỗ này cho đến ngày con chết. Con cũng không bao giờ được gặp gia đình con nữa. Chúa đã đánh lừa con!’

Có rất nhiều tin đồn những gì sẽ xảy đến cho tôi nữa. Ngay cả bên ngoài, những tín hữu biết rằng việc bắt bớ tôi rất là nghiêm trọng vì đó là lệnh từ chính quyền trung ương. Và bây giờ, anh Xu lại đề nghị với tôi là tôi phải tìm cách trốn! Tôi biết anh Xu là người của Chúa, anh thường nghe tiếng phán của Chúa rất gần, do đó tôi trịnh trọng trả lời với anh rằng: Chân tôi bị nát rồi và tôi bị khóa cứng trong sà-lim tôi với cửa sắt. Tôi cũng không thể đi được nữa! làm sao tôi trốn? Chân anh không sao cả. Tại sao anh không trốn đi?’  [ Xem tiếp ]  

Vào một buổi chiều ngày 4 tháng Năm năm 1997, cũng giống như buổi chiều của sáu tuần trước, tôi cúi xuống cầm lấy chân lê lết của tôi. Cơn đau ê ẩm suốt cả thân người tôi khi tôi chống đôi chân lên tường. Tôi cảm thấy như vậy dễ chịu giảm cơn đau. Bằng cách sảng khoái làm cho máu dồn đi nơi khác khỏi chân tôi, nó sẽ trở nên tê bại và tôi có thể ngủ ngon suốt đêm.

Sáng sớm ngày hôm sau, đang lúc trong tình trạng nản chí mất hy vọng thì Chúa khuyến khích tôi với lời hứa trong sách Hê-bơ-rơ 10:35: ‘Vậy chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho.’ Tôi tỉnh dậy với lời đó trong trí tôi.

Vi nhà tù từ từ khơi động đời sống tôi, tôi bắt đầu đọc sách Giê-rê-mi. Chúa cho thấy sự liên hệ đến vết thương của tôi và hoàn cảnh của tôi trong lối sống cá nhân cực kỳ mạnh mẽ. Dường như là điều mà Chúa Thánh Linh nói trực tiếp với tôi qua những lời: ‘Mắt ta rơi lụy đêm ngày chẳng thôi: vì gái đồng trinh của dân ta bị tồi tàn, bị thương rất là đau đớn… Vậy thì Ngài bỏ hết Giu-đa sao? Lòng Ngài đã gớm ghét Si-ôn sao? Làm sao Ngài đã đánh chúng tôi, không phương chữa lành?Đương đợi sự bình an mà chẳng có sự lành, đương trông kỳ lành bịnh, mà gặp sự kinh hãi.’ (Giê-rê-mi 14:17, 19, 21).

Tôi cảm thấy giống hệt Giê-rê-mi. Tôi bị áp đảo mà dường như Chúa đã bỏ mặc tôi để cho tôi mục nát trong tù mãi mãi. Tôi khóc với Chúa bằng những lời của Giê-rê-mi: ‘Chúa ơi, tại sao Ngài làm con đau đớn mà không chữa lành được cho con? Con mong muốn sự bình an mà chẳng thấy gì tốt đến với con cả. Chúa ơi, xin Ngài đừng khinh miệt con.’

Tôi đọc tiếp: ‘Hỡi mẹ tôi ơi, khốn nạn cho tôi! Mẹ đã sanh ra tôi làm người mắc phải sự tranh đua cãi lẩy trong cả đất! Tôi vốn không cho ai vay mượn, cũng chẳng vay mượn ai; dầu vậy, mọi người nguyền rủa tôi.’ (Giê-rê-mi 15:10)

Lại lần nữa những lời dường như lật qua trang giấy đi vào trí óc tôi. Đó là giờ phút thiêng liêng như chính Chúa đầy quyền năng đã ngự xuống xà-lim tôi và nói chuyện với tôi mặt đối mặt.

Trong người tôi quá đau đớn và tất cả như bắt đầu tuôn ra truớc mặt Chúa. Tôi khóc nức nở: ‘Chúa Jê-sus ơi, giống như Giê-rê-mi nói, mọi người muốn chống con và rủa sả con. Con không thể’chịu đựng nổi nữa. Con đã tới cuối cùng của con rồi.’

Tôi khóc thảm thiết đến nỗi mắt tôi sưng húp đầy nước mắt. Chúa an ủi tôi giống như người cha yêu quí đang ôm đứa con vô lòng. Chúa yên lòng tôi theo câu sau: ‘Đức Giê-hô-va phán: Thật ta sẽ bổ sức cho ngươi được phuớc. Trong khi gặp tai vạ hoạn nạn, thật ta sẽ khiến kẻ thù nghịch đến cầu xin ngươi.’ (Giê-rê-mi 15:11)

Từ tận đáy lòng tôi, tôi khóc với Chúa qua sách Giê-rê-mi 15:16-18: ‘Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì tôi được xưng bằng danh Ngài! Tôi chẳng ngồi trong đám hội kẻ vui chơi mừng rỡ, nhưng tôi ngồi một mình vì tay Ngài ; vì Ngài đã làm cho tôi đầy sự giận. Cớ sao sự đau đớn của tôi cứ còn hoài? Cớ sao vết thương của tôi không chữa được và nó không chịu khỏi? Ngài đối với tôi hẳn như cái khe giả dối, cái suối tắt mạch hay sao?’

Nhiều lúc tôi hỏi Chúa tại sao con cứ bị đau như vậy. Con không thể chịu đựng được nữa. Lòng con thấy chán nản rồi và con sẵn sàng bỏ cuộc.

Lời Chúa lại đến với tôi với những lời cảnh cáo nghiêm trọng và lời hứa: ‘Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu ngươi trở lại thì ta sẽ lại đem ngươi đứng trước mặt ta; nếu ngươi làm cho sự quí lìa khỏi sự hèn, thì ngươi sẽ như những người chẳng trở về cùng chúng nó.Ta sẽ khiến ngươi làm tượng đồng vững bền cho dân này, họ sẽ đánh với ngươi, nhưng không thắng ngươi được, vì ta ở cùng ngươi đặng cứu ngươi và giải thoát ngươi. Đức Giê-hô-va phán vậy. Ta sẽ rút ngươi ra khỏi tay kẻ ác, sẽ chuộc ngươi khỏi tay kẻ bạo tàn.’ (Giê-rê-mi 15:19-21)

Ngay khi tôi đọc được những câu này, khải tượng mạnh mẽ bất chợt đến với tôi mặc dù tôi đang thức.

Tôi thấy vợ tôi Deling ngồi bên cạnh tôi. Nàng vừa mới được thả ra khỏi tù và lấy ra một ít thuốc. Vợ tôi yêu mến chăm sóc vết thương cho tôi. Tôi cảm thấy được khích lệ và hỏi nàng: ‘Em được thả rồi hả?’

Vợ tôi trả lời: ‘Tại sao anh không mở cái cửa sắt kia ra?’

Trước khi tôi có thể trả lời thì nàng đi ra khỏi phòng và khải thị của tôi chấm dứt.

Chúa nói với tôi: ‘Đây là thì giờ của sự cứu rỗi của con.’

Ngay tức thì tôi biết liền đây là một khải thị từ Chúa và rằng tôi phải vượt ngục.

Xà-lim đơn độc của tôi cùng chung tường với sà-lim của anh Xu và một vài tín đồ khác. Chúng tôi đã có những hiệu báo với nhau trước rằng nếu một trong chúng tôi bị nguy kịch cần cầu nguyện gấp th&
igrave; chúng tôi sẽ gõ hai tiếng vào tường.

Anh Xu nghe thấy tiếng gõ của tôi.

Tôi gọi tên gác. Hắn đến cửa tôi và hỏi tôi muốn gì. Tôi nói với hắn tôi cần đi vệ sinh ngay bây giờ.’

Vì đây là công việc của anh Xu là cỗng tôi, nên tên gác mở cửa của anh và ra lệnh cho anh cõng tôi đến nhà tắm.

Mỗi khi tù nhân được phép ra khỏi xà-lim thì chiếc cổng sắt ở hành lang phải khóa lại, như vậy tù nhân không có cơ hội trốn. Phòng chứa cầu thang dẫn xuống tới sàn cuối cùng ở phía bên kia của chiếc cổng. Chúng tôi cũng vẫn bị hoàn toàn nhốt bên trong. Chiếc cổng mở cho người từ bên ngoài vào cũng không mở được từ phía bên trong.

Mỗi từng trong nhà tù đều được bảo vệ bởi một chiếc cổng bằng sắt. Thường thì có hai người gác cổng đứng canh hai bên cổng, do đó để ra ngoài sân nhà tù tôi phải đi qua ba chiếc cổng sắt qua ba từng lầu, và qua sáu người gác.

Anh Xu đến cửa tôi. Ngay khi anh vừa nhìn thấy tôi là anh ra lệnh cho tôi: ‘Anh phải vượt ngục!’, rồi anh trở lại sà-lim của anh, và thâu lượm bàn chải đánh răng và khăn tắm để người gác tưởng rằng anh sửa soạn dùng nhà tắm.

Khi anh Xu trở lại, anh lại nghiêm nghị ra lệnh: ‘Yun, anh phải vượt ngục!’

Tôi chỉ mặc bộ quần áo lót thôi, càng lẹ càng tốt, tôi cởi quần dài ra. Tôi viết câu Kinh Thánh gốc của Giăng và I Phi-e-rơ vô giấy đi cầu dài để chứng tỏ nó là dây nịt của lẽ thật, quấn theo lời Chúa chung quanh hông tôi. Tôi cầu nguyện: ‘Chúa ơi, Chúa đã chỉ cho con thấy rằng con phải rời khỏi nhà tù này. Bây giờ con vâng lời Chúa và con sẽ cố gắng vượt ngục. Nhưng nếu những người gác bắn con xin Chúa nhận linh hồn con vào nơi ở trên thiên đàng của Ngài.’

Bây giờ là đã hơn sáu tuần lễ kể từ khi chân tôi bị dập nát. Dù chỉ đè nặng một chút lên chân cũng đau nhức vô cùng. Nhưng tôi tin tưởng rằng Chúa đã nói với tôi trong ba cách khác nhau mà tôi có thể vượt ngục được là: qua lời Ngài, qua khải thị mà tôi nhận được sáng nay và qua lời anh Xu.

Tôi được biết rằng khi Chúa phán với chúng ta làm điều gì thì không có thì giờ để bàn cãi hoặc lý lẽ, mặc dù hoàn cảnh nào ngay trước mặt. Khi chúng ta chắc rằng Chúa đã bảo chúng ta hành động như tôi trong hoàn cảnh này, hãy nhắm mắt vâng lời theo tiếng gọi. Không vâng lời Chúa với ngụ ý rằng mình khôn hơn Chúa và mình biết cách sống tốt hơn Ngài.

Lúc đó là đúng trước tám giờ sáng ngày 5 tháng Năm năm 1997. Theo ý nghĩ tự nhiên thì thời gian này là lúc xấu nhất để trốn tù! Thường thì vào lúc đó có rất nhiều hoạt động trong tù, với những người gác vào vị trí.

Tôi bước ra khỏi sà-lim của tôi và hướng thẳng tới cửa sắt khóa ở hành lang. Trí óc tôì chỉ nhằm vào việc vâng lời Chúa. Tôi nhìn thẳng phía trước và cầu nguyện qua hơi thở mỗi bước tôi đi.

Người gác bấm vào nút khi hắn muốn mở hoặc đóng cổng, hắn ngồi ở đỉnh tầng thứ ba phòng cầu thang. Không thể nào nhìn thấy phía bên kia cổng, bởi vì cổng làm bằng sắt và chỉ có một cái cửa sổ nhỏ được che bằng miếng vải mầu đen. Vào đúng lúc tôi bước tới cổng, một tôi tớ Chúa anh Musheng đang đi trở về sà-lim của anh và cái cổng mở ra cho anh. Sáng hôm đó anh được lệnh quét sân nhà tù. Khi Musheng đi ngang qua tôi, tôi nói với anh: ‘Khoan đã, đừng đóng cổng vội.’ Tôi bước qua một cách dễ dàng! Thời điểm Chúa sắp xếp thật là hoàn hảo!

Khi chúng tôi qua ngang nhau, Musheng thầm thì hỏi tôi: ‘Anh Yun, anh rời khỏi đây à? Anh không sợ chết à? Rồi với bộ mặt kinh ngạc của anh, anh trở về xà-lim anh.

Cũng có một người gác đi cùng Musbeng dẫn anh trở về xà-lim, nhưng đúng lúc hắn mở cửa cho Musheng thì tiếng điện thoại reo trong văn phòng tại hành lang, người gác vội quay trở lại chạy đến trả lời điện thoại.

Tôi thấy có cái chổi để dựa vào tường ở phòng cầu thang. Tôi lượm lấy và tiếp tục bước đi với nó xuống cầu thang lầu hai. Một tên gác có súng đang ngồi tại bàn giấy hướng mặt về cổng thứ hai. Cổng đó đôi khi để ngỏ. Bởi vì người gác trong phiên mình được chỉ định canh cổng ngày và đêm, không sợ có chuyện gì xảy ra khi để cổng ngỏ. Vào lúc đó Chúa Thánh Linh nói với tôi: ‘Đi ngay! Chúa của Phi-e-rơ là Chúa của con!’.

Không biết làm sao dường như Chúa làm mù tên gác. Hắn nhìn thẳng vào tôi, vậy mà mắt hắn không biết một chút gì sự có mặt của tôi. Tôi đợi hắn nói điều gì, nhưng hắn nhìn qua tôi như tôi là người vô hình!

Hắn chẳng nói lấy một lời.

Tôi tiếp tục qua hắn và không quay nhìn trở lại. Tôi biết tôi có thể bị bắn phía sau bất kỳ lúc nào. Tôi tiếp tục lẳng lặng xin Chúa là tôi đã sẵn sàng để Chúa tiếp nhận linh hồn tôi, tôi luôn nghĩ đến phút cuối c&ugrav
e;ng của đời tôi trên thế gian này.

Tôi tiếp tục đi xuống cầu thang, nhưng không có ai chặn tôi lại và chẳng có tên gác nào nói với tôi một lời!

Khi tôi tới cổng chính dẫn ra ngoài sân, tôi khám phá thấy cổng đã mở! Thật là lạ lùng, luôn luôn cổng này là một cái cổng an toàn nhất. Thường thường có hai người gác tại cổng tầng thứ nhất, một người bên trong và một người bên ngoài, nhưng không biết vì lý do nào mà không có ai gác và cổng chỉ khép hờ!

Tim tôi đập thình thịch! Bây giờ tôi đang đứng ngoài đường phố bên ngoài trại tù Zhengzhou số một về an ninh! Sau
này tôi được cho biết là chưa bao giờ có ai trốn thoát khỏi trại tù
này trước đây.

Ngay lập tức có một chiếc xe taxi mầu vàng chạy sà ngay cạnh tôi và người tài xế khoảng hơn 20 tuổi mở cửa phía bên hành khách cho tôi. Anh hỏi: ‘Anh muốn tôi chở tới đâu?’

Tôi bước vào và trả lời: ‘Tôi cần phải đến văn phòng của tôi càng lẹ càng tốt, vậy làm ơn chạy cho lẹ.’ tôi cho anh tài xế địa chỉ của một gia đình Cơ đốc nhân mà tôi biết ở Zhengzhou và chúng tôi lái xe xa khỏi trại tù. Tôi nói với anh tài xế nếu bị kẹt xe anh cố tránh, tiếp tục lái đừng có ngừng bất cứ lý do gì.

Tất cả mọi biến cố này dường như chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn. Như là một giấc mộng ban ngày. Tôi không chắc rằng mọi sự thật đã xảy ra hoặc là tôi đang trong giấc mơ. Tôi không biết bằng cách nào mà Chúa đã làm như vậy hoặc tại sao những cửa sắt thường thì khóa chặt, nay lại để ngỏ cho tôi. Tất cả tôi biết là hiện giờ tôi đang ngồi trên xe taxi và đang hướng tới nhà của bạn tôi.

Khi chúng tôi tới nơi, tôi yêu cầu người tài xế đợi tôi chốc lát để tôi đi mượn tiền trả tiền xe.

Tôi trèo lên bậc thang ba từng lầu của cư xá và bấm chuông hai lần. Một trong những người con gái của gia đình nhìn qua lỗ khóa ở cửa và nhận ra ngay là tôi. Chị rất xúc động nói: ‘Ô, anh Yun, anh đã được thả ra khỏi nhà thương (có nghĩa là nhà tù)!’

Tôi nói: ‘Vâng, tôi đã rời khỏi nhà thương, nhưng tôi không xuất khỏi theo lối thông thường. Chị có thể cho tôi mượn ít tiền để trả tiền cho tài xế taxi?’

Chị thật là xúc động khi thấy tôi, đến nỗi quên cả mở cửa cho tôi vào! Cuối cùng chị trở ra đưa cho tôi tiền. Tôi vội chạy xuống trả tiền cho anh tài xế đang đợi tôi.

Gia đình Cơ đốc nhân quí hóa này đã đón tiếp tôi hết sức nồng nhiệt tại nhà. Một trong những người con gái này nói với tôi: ‘Cả Hội Thánh đã kiêng ăn cầu nguyện cho anh và cho những cộng sự viên của anh hơn một tuần lễ nay. Ngày hôm qua Chúa Thánh Linh nói với mẹ tôi là: ‘Ta sẽ thả Yun ra và nơi đầu tiên mà Yun sẽ ở là nhà của con. Anh ấy sẽ ở đây trong thời gian ngắn và sẽ cầu nguyện với con.’

‘Cha mẹ tôi nói với chúng tôi là rất trông chờ ngày anh đến và chúng tôi cũng đã kiếm một chỗ ở bí mật để anh trốn. Không ai khác biết chỗ này ngoại trừ chúng tôi. Hãy đi với tôi, thay quần áo đi rồi chúng tôi sẽ đến dẫn anh tới chỗ đó.’

Sau khi chúng tôi cùng nhau cầu nguyện, tôi được trao cho chiếc xe đạp và một người trong gia đình ngồi phía sau, chỉ đường cho tôi đến nơi tôi sẽ trốn, đi xuống những con đường nhỏ một cách thông thạo để tránh chỗ chặn đường họ đang khám xét trên những con đường chính vì sự vượt ngục của tôi.

Lúc mà tôi khởi sự đạp xe đạp đó là lúc đầu tiên tôi thấy Chúa đã chũa lành bàn chân và chân tôi! Đầu óc tôi khi đó chỉ chú tới sự vâng lời Chúa và sửa soạn để bị bắn mà tôi không bao giờ để ý đến Chúa đã chữa lành vết thương cho tôi. Tôi không cảm thấy quyền năng chữa lành của Ngài. Từ lúc chân tôi bị đánh dập nát bằng gậy cho đến khi tôi trốn tù, chân tôi vẫn nguyên mầu đen hoàn toàn và không thể xử dụng được. Tôi cũng không thể đứng đậy được, đi bộ một mình được. Cái mà tôi có thể làm được nhiều nhất là bò khoảng đường ngắn mà phải bám vào tường.

Anh Musheng sau này nói với tôi rằng khi anh đi qua tôi trên tầng thứ ba, tôi đi như thường lệ, như vậy dường như Chúa phải chữa lành chân tôi trong khi tôi hãy còn ở trong sà-lim.

Khi tôi đạp trên xe đạp tôi lại nhớ đến lời của Chúa:

‘Khá làm đường thẳng cho chân anh em theo, hầu cho kẻ nào què khỏi lạc đường mà lại được chữa lành nữa.’ (Hê-bơ-rơ 12:13)

Ngay khi chúng tôi tới chỗ trốn, thiêng đàng mở ra. Mưa xối xả như thác lũ rải khắp thành phố Zhengzhou và gió rít lên đập vào cửa sổ và thổi bay cả chiếc xe đạp. Đó là cơn bão khổng lồ. Dù rằng lúc đó vẫn còn ban ngày mà bầu trời trở nên đen xậm.

Tôi vô trong nơi trốn và ở lại một mình. Gia đình thân yêu này đối xử với tôi giống như thiên sứ từ trên thiên đàng. Họ đặ
t người trong gia đình bên ngoài cửa tôi ngày cũng như đêm để canh gác cho tôi.

Sau này những bạn Cơ đốc nói với tôi rằng họ được xem báo cáo trên đài vô tuyến truyền hình về mục tin tức vào buổi chiều nói đến vụ trốn tù của tôi. Văn phòng cảnh sát an ninh, văn phòng ANCC và Quân đội nhân dân giải phóng được động viên để truy lùng tôi. Họ lùng kiếm từng nhà ở Zhengzhou từ cửa này qua cửa kia. Họ cho ngăn chặn các đường phố tại những ngã tư đường chính và kiếm trong từng xe. Những tên gác được gởi đi tới các trạm xe buýt, ga xe lửa và phi trường.

Tôi còn được cho biết những con chó được huấn luyện đánh hơi của sở cảnh sát cũng được dùng để kiếm hơi tôi, nhưng tất cả những cố gắng đó đều vô ích. Tôi được an toàn trong nơi trốn kín đáo của Chúa. Giông tố đã cản trở những chức quyền và rửa sạch những vết tích của tôi.

Chúa nhắc nhở tôi về mười ba năm về trước, trong thời gian 74 ngày kiêng ăn, tại sao Chúa cho tôi thấy khải tượng mạnh mẽ là một loạt những cửa sắt được mở ra từ cái nọ đến cái kia.

Bây giờ, những năm đó sau này, lời hứa của Chúa đã thành sự thật. Tôi lấy làm lạ về lòng tốt của Chúa và sự trung tín của Ngài đối với tôi. Từ ngày đó tôi coi sự vượt ngục của tôi là một sự kiện lạ lùng nhất trong đời tôi.

* * *

Anh Xu: Sau khi anh Yun cố gắng vưột ngục bằng cách nhảy qua cửa sổ rồi anh bị gẫy chân. Rồi chúng đánh anh khủng khiếp trong bùn, nghiền nát chân anh thêm để sau này anh không còn có thể đi bộ được nữa.

Khi tôi trông thấy thân xác anh ngất xỉu được vác trở về xà-lim, mặt anh đầy những bùn. Chúng đánh vào đầu anh, do đó anh không còn nghe được trong một thời gian.Sau khi chúng tôi bị thuyên chuyển về nhà tù Zhengzhou, tôi được trao cho mộtviệc là cõng anh Yun đến nhà tắm, phòng thẩm vấn trong tù vì anh bị tàn phế và rất là đau đớn. Nhờ lối đó mà chúng tôi có thể có được thời gian ngắn ngủi để liên lạc được với nhau khuyến khích lẫn nhau trong Chúa, và tăng cường cho nhau thêm đức tin. Ngay dù chúng tôi không thể nói được với nhau, nhưng chỉ nhìn nhau cũng cho chúng tôi sức mạnh và sự thông công. Tôi cõng Yun đi trở về con đường dài nên trao đổi với nhau những kinh nghiệm rất nhiều về ân điển của Chúa.

Tôi nói với Yun là Chúa muốn anh trốn tù. Chúa còn căn dặn kỹ là nói với anh như vậy. Tôi có cảm tưởng là Chúa muốn Yun trốn, nhưng Ngài muốn tôi nói.

Một buổi sáng nọ Chúa trực tiếp cho Yun thấy đã đến giờ vượt ngục. Khi anh đi bộ xuống cầu thang trong tù hướng về sân thì một người anh em Cơ đốc đi vô. Cửa an ninh mở ra đúng vào lúc anh Yun bước ra!

Người anh em đó vội chạy đến xà-lim chúng tôi báo cho mọi người biết là anh đã nhìn thấy anh Yun bước ra khỏi tù! Tất cả tù nhân chúng tôi trèo lên để nhìn qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi nhìn thấy anh Yun đi bộ qua cổng chính nhà tù tới nơi tự do!

Hành động lòng thương xót của Chúa và quyền năng của Ngài đã khuyến khích chúng tôi rất nhiều. Một lần nữa chúng tôi lại thấy đối với Chúa chẳng có gì là khó cả. Tuyệt đối là không có gì.

Ngài nắm giữ đời sống chúng ta trong tay, không có gì xảy ra cho một trong những đứa con của Chúa, ngoại trừ đó là phần của chương trình Ngài để nó xảy ra trong đời sống chúng ta.

Tôi tin có một điều là tại sao Chúa chọn thả anh Yun ra trong trường hợp hãn hữu như vậy, đó là bởi vì chính quyền nhà tù đã chế nhạo Chúa và Yun khi chúng đập nát chân anh. Chúng nói: ‘Chúng tao muốn bây giờ mày trốn đi!’ Chúa luôn luôn đợi đến lúc gặp sự thử thách!

Vài phút sau khi Yun vượt ngục, những tên gác khám phá ra thiếu mất anh, một đám rất đông lính gác bổ đi lùng kiếm. Mộtcuộc điều tra đều khắp tổ chức bởi chính quyền để tìm ra tại sao một người tù tàn phế bị kiểm soát nghiêm ngặt lại có thể đi bộ ra khỏi trại tù và biến mất!

Thật là hấp dẫn, cuộc điều tra kết luận là Yun đã không được sự giúp đỡ nào của con người từ những tù nhân khác hay những người gác trong lúc anh trốn tù.

Tôi đã thử dò hỏi thì đó là hoàn toàn đúng.

Đó tất cả là do bàn tay tối cao của Đức Chúa Trời đầy quyền năng.

* * *

Anh Musheng: Tôi có cái đặc quyền được chứng kiến việc trốn khỏi tù của anh Yun năm 1997, do bàn tay của Chúa.

Tôi được kêu làm việc tại sân của trại tù vào lúc bảy giờ sáng hôm đó. Khi tôi trở về xà-lim của tôi, dẫn độ bởi một tên gác, chúng tôi ngừng lại để đi qua chiếc cổng bằng sắt an ninh. Tôi không thể tin được rằng tôi trông thấy Yun đi bộ ra! Chúng tôi đều biết là anh Yun bị tàn phế nên tôi nói là tôi thật ngạc nhiên thấy anh đi bộ, đó là một điều nói sai? Anh đi thẳng ngang qua tôi, nhưng tên gác đi cùng tôi k
hông trông thấy anh gì hết.

Ngay cả cho tới khi tôi trở về xà-lim rồi mà tôi cũng nhớ rằng anh không đi bộ đưọc kể từ khi chân anh bị gãy. Tôi là một trong ba người khiêng anh đi chỗ này chỗ kia trong tù. Ngay cả những tên gác cũng gọi anh là ‘tên què’. Chân của anh hoàn toàn bầm tím vì những trận đánh đòn. Anh không thể nào tự làm được gì cả vì tình trạng đau đớn của anh. Chúng tôi cũng còn phải tắm cho anh và thay quần áo cho anh.

Trí óc tôi mới bắt đầu hé mở là Yun đang cố vượt ngục. Tôi tức thì quì xuống nài xin Chúa cứu sống anh vì tôi nghĩ rằng những tên gác không có lý do gì để anh ra khỏi sân nhà tù nên họ có thể bắn anh. Tôi trèo lên cửa sổ xà-lim và nhìn anh đi qua cái sân và biến mất qua cái cổng.

Có lẽ có khoảng ba chục tên gác tù ở ngoài sân trong lúc đó, nhưng không tên nào để ý đến anh Yun trốn tù! Anh còn đi bộ thẳng qua mặt chúng nữa.

Một lúc sau thì một trận mưa lớn đến. Trở lại trên tầng thứ ba trong trại tù, tên gác thấy thiếu anh Yun ngay sau vài phút lúc anh Yun trốn. Hắn đi kiếm khắp nơi, gọi ầm lên: ‘Tên què, mày ở đâu?’. Lúc ban đầu thì tên gác có vẻ từ từ; nhưng kiếm một số nơi mà anh Yun có thể trốn nhưng không thấy. Hắn càng lúc càng lo sợ. Vào khoảng năm phút sau hắn rung chuông báo động và cả trại tù ồn ào về việc Yun vượt ngục.

Chức quyền trong tù thẩm vấn chúng tôi nhưng chúng tôi thành thực trả lời chúng tôi không giúp Yun bằng cách nào cả. Hai tên gác bị mất việc.

Để mua tác phẩm này trong Anh ngữ, xin theo link sau đây:
"The Heavenly Man"

Để mua tác phẩm này trong Việt ngữ, xin liên lạc với dịch giả:

Hoang-duc-Thanh
9218 Buffalo Bend Lane
Houston, TX 77089-5800
Tel. 281-485-4705
Webpage www.vnbaptist.net/HDT/
Email address: hoangdthanh32@yahoo.com

Share This: