Địa vị và nhiệm vụ thầy tế lễ của chúng ta

1,699 views

 

I. Địa vị thầy tế lễ

Qua lời Chúa, chúng ta biết rằng mỗi một con dân Chúa là một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, do chính Đấng Christ kêu gọi, lựa chọn, và phong chức. Ngày xưa, A-rôn nhận địa vị thầy tế lễ sau khi được tắm rửa bằng nước trong, được rưới huyết của sinh tế chuộc tội lên trên mình, và được xức dầu chảy tràn từ trên đầu (Lê-vi Ký 8). Ngày nay chúng ta nhận địa vị thầy tế lễ sau khi chịu lễ báp-tem. Trong lễ báp tem có hình ảnh tắm rửa thân thể bằng nước trong, nói lên lòng ăn năn tội của chúng ta; có hình ảnh được nhúng chìm vào trong sự chết của Đấng Christ, nghĩa là được tưới bằng huyết thánh của Ngài, nói lên sự tha tội và làm cho sạch tội chúng ta có được trong Đấng Christ; có hình ảnh được nhúng chìm vào trong đời sống mới đầy dẫy Thánh Linh, nói lên sự chúng ta được ban cho thẩm quyền và năng lực của Đức Thánh Linh để làm trọn nhiệm vụ được giao phó. Có thể nói, sau khi thật lòng chịu lễ báp-tem thì một người chính thức bước vào địa vị thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. 

II. Nhiệm vụ thầy tế lễ

Ba nhiệm vụ chính của thầy tế lễ là: (1) dâng của lễ đời đời lên Đức Chúa Trời mỗi ngày, (2) chúc phước cho dân sự, và (3) cầu thay cho dân sự.

1. Dâng của lễ đời đời: Ngày xưa, mỗi ngày hai bận thầy tế lễ dâng chiên con trong đền thánh, và đó là của lễ đời đời (Xuất Ê-díp-tô Ký 29:38-42). Ngày nay, chúng ta trong địa vị thầy tế lễ của Đức Chúa Trời cũng cần phải ngày hai bận dâng chính thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên cho Đức Chúa Trời. Đó là sự thờ phượng phải lẽ, đẹp lòng Đức Chúa Trời (Rô-ma 12:1):

"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em."

2. Chúc phước cho dân sự:  Dân Số Ký 6:22-27 ghi lại mệnh lệnh của Đức Chúa Trời về việc các thầy tế lễ phải chúc phước cho dân sự như sau:

"22 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 23 Hãy nói cùng A-rôn và các con trai người mà rằng: Các ngươi phải chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: 24 Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! 25 Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! 26 Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi! 27 Họ phải đặt danh ta trên dân Y-sơ-ra-ên như vầy, thì ta đây sẽ ban phước cho dân đó."

Đó là mệnh lệnh rõ ràng của Đức Chúa Trời về việc chúc phước cho con dân Chúa. Nếu ngày nay, mỗi chúng ta, trong địa vị thầy tế lễ của Đức Chúa Trời siêng năng chúc phước cho Hội Thánh, cho dân tộc thì chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho Hội Thánh và dân tộc Việt Nam. Xin hỏi, có bao nhiêu người trong chúng ta đây đã từng chúc phước cho Hội Thánh và dân tộc Việt Nam theo như mệnh lệnh của Chúa?

Ngày nay, theo sự dạy dỗ và truyền thống của giáo hội, những người chăn bầy thường mượn ý II Cô-rinh-tô 13:13 để chúc phước cho Hội Thánh, đại khái như sau:

"Nguyền xin sự yêu thương của Đức Chúa Cha, ân điển của Đức Chúa Con, và sự thông công của Đức Thánh Linh ở cùng hết thảy ông bà anh chị em cho đến ngày Đấng Christ tái lâm!"

Lời chúc phước như vậy có điều gì đó không ổn. Tôi nói lên điều này không phải để lên án hay phê bình ai. Cá nhân tôi cũng từng chúc phước như vậy; nhưng nhiều lần trong khi chúc phước như vậy, tôi vẫn tự hỏi trong lòng: Tại sao không là "cho đến đời đời" mà chỉ là "cho đến ngày Đấng Christ tái lâm?" Không lẽ sau khi Đấng Christ tái lâm thì Hội Thánh không cần nhận lãnh tình yêu, ân điển, và sự thông công của Ba Ngôi Đức Chúa Trời hay sao? Theo thiển ý, lời chúc phước của Phao-lô được dùng trong thư tín thì chúng ta hãy bắt chước Phao-lô mà chúc như vậy khi viết thư cho nhau; còn lời chúc phước Đức Chúa Trời truyền cho các thầy tế lễ chúc phước cho con dân của Ngài thì chúng ta hãy vâng theo trong khi làm nhiệm vụ thầy tế lễ.

Chúng ta có thể dùng tất cả những câu chúc phước trong Thánh Kinh để chúc phước cho Hội Thánh, chúc phước lẫn nhau nhưng chúng ta cần phải trung thực với lời Chúa. Lời của Chúa đã "được vững lập đời đời trên trời" (Thi Thiên 119:89) cho nên chúng ta hãy cùng nhau bắt chước Môi-se, một người khiêm nhu hơn tất cả mọi người trong thế gian (Dân Số Ký 12:3) mà vâng phục lời Chúa, "cẩn thận làm theo mọi điều" (Giô-suê 1:8), và  làm theo "y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn" (Xuất Ê-díp-tô Ký 7:6).

Trong địa vị thầy tế lễ, chúng ta hãy cùng nhau chúc phước cho con dân Chúa y theo lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn:

Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho Hội Thánh và phù hộ Hội Thánh! Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên Hội Thánh, và làm ơn cho Hội Thánh! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem Hội Thánh và ban bình an cho Hội Thánh!

Khi Đức Giê-hô-va ban phước cho Hội Thánh thì Hội Thánh được giàu có thuộc thể lẫn thuộc linh. Khi Đức Giê-hô-va phù hộ Hội Thánh thì Hội Thánh thành đạt trong mọi công việc. Khi Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên Hội Thánh thì Hội Thánh rực rỡ sự vinh hiển của Ngài. Khi Đức Giê-hô-va làm ơn cho Hội Thánh thì không một lầm lỗi nào của Hội Thánh không được tha thứ, không một yếu kém nào của Hội Thánh không được nâng đỡ, không một nhu cầu nào của Hội Thánh không được chu cấp. Khi Đức Giê-hô-va đoái xem Hội Thánh thì sự tương giao giữa Ngài và Hội Thánh không bị gián đoạn. Khi Đức Giê-hô-va ban bình an cho Hội Thánh thì kẻ thù không thể thắng được Hội Thánh, và Hội Thánh vui hưởng ân điển của Ngài.

3. Cầu thay cho dân sự: Nhiệm vụ cầu thay của chúng ta được ghi chép trong Thánh Kinh như sau:

"Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người." (I Ti-mô-thê 2:1)

"Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ." (Ê-phê-sô 6:18)

Đấng Christ là thầy tế lễ cả vẫn hằng cầu thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 7:25), lẽ nào chúng ta là những thầy tế lễ của Đức Chúa Trời lại không làm công tác cầu thay cho dân sự của Ngài?

Trong Thánh Kinh, Ê-sai 59:15, 16 có ghi lại một sự kiện rất là độc đáo:

"Đức Giê-hô-va thấy không có sự công bình thì chẳng đẹp lòng, thấy không có người, chẳng ai cầu thay, thì lấy làm lạ lùng."

Bối cảnh lịch sử của dân Israel lúc bấy giờ là dân Israel hoàn toàn băng hoại vì tội lỗi. Từ hàng ngũ lãnh đạo phạm tội và tắc trách bị Chúa mắng là: "đui mù, không biết chi hết, thảy đều là chó câm, chẳng biết sủa, chiêm bao, nằm sóng sượt, và ham ngủ, lại là chó mê ăn, không biết no, là những kẻ chăn chiên chẳng khôn sáng, theo đường riêng mình, tìm tư lợi mình, người nào cũng vậy…" (Ê-sai 56:9-11) cho đến dân sự: "trở lòng chẳng theo Đức Chúa Trời mình, nói sự bạo ngược và phản loạn, cưu mang những lời giả dối trong lòng và nói ra!  Cho nên sự công bình trở lui lại, sự nhơn nghĩa đứng xa; vì lẽ thật vấp ngã giữa đường phố, và sự ngay thẳng chẳng được vào" (Ê-sai 59:13, 14).

Trong sự hỗn loạn và băng hoại tột cùng nhất của lịch sử Israel đó, Đức Chúa Trời vẫn mong đợi có người cầu thay cho dân Israel; nhưng Đức Chúa Trời đã lấy làm lạ lùng vì không có ai cầu thay. Dân Sô-đôm và Gô-mô-rơ vốn không có giao ước với Chúa, tội ác lên đến trời còn có Áp-ra-ham cầu thay nhưng dân sự Chúa phạm tội lại không có người cầu thay! Tình cảnh đó, phải chăng ngày nay cũng đang xảy ra cho Hội Thánh của Chúa, đặc biệt là Hội Thánh Việt Nam? Những thầy tế lễ Việt Nam đang ở đâu?

Kết luận

Ngày nay, trong thời đại ân điển, mỗi con dân Chúa là một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. Mỗi con dân Chúa có nhiệm vụ dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Đức Chúa Trời; chúc phước cho Hội Thánh của Chúa, cho dân tộc của mình; và cầu thay cho Hội Thánh, cho dân tộc của mình.

Địa vị thầy tế lễ của Đức Chúa Trời chúng ta đã đón nhận nhưng chúng ta đã thi hành nhiệm vụ thánh mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ hay chưa?

 

Huỳnh Christian Timothy
08/06/2007

 

Share This:

Điều Răn: Định Nghĩa “Giết Người”

1,629 views

 

I. Ý nghĩa pháp lý của chữ “giết người”

Chữ “giết người” trong nguyên tác tiếng Hebrew phát xuất từ động từ gốc râtsach có nghĩa là: “đập tan nát một vật gì đó ra thành những mãnh vụn”; và trong pháp lý có nghĩa là: “vì lòng hung bạo hay vì lòng giận ghét mà lấy đi mạng sống của một người”. Danh từ pháp lý trong tiếng Anh gọi là “murder” và trong tiếng Hán Việt gọi là “tội sát nhân”. Như vậy, điều răn thứ sáu nghiêm cấm việc giết người vì lòng hung bạo hoặc giết người vì lòng giận ghét.

Điều răn thứ sáu không nghiêm cấm việc giết chết kẻ thù trong chiến tranh, nếu đó là cuộc chiến tranh Chúa cho phép. Trong Cựu Ước ghi lại nhiều lần Chúa ra lệnh cho dân Israel tiêu diệt kẻ thù trong chiến tranh (Phục Truyền Luật Lệ Ký 7). Đó là những trận chiến tiêu diệt dân Ca-na-an thờ thần tượng mà Chúa đã cho họ cơ hội để ăn năn trong ít nhất là 430 năm. Cũng có lần Chúa không cho phép dân Israel chiến tranh chống lại kẻ xâm lược (Giê-rê-mi 27). Đó là lần Chúa dùng Vua Nê-bu-cát-nết-xa của đế quốc Ba-by-lôn để trừng phạt dân Israel vì tội bắt chước dân Ca-na-an thờ lạy thần tượng.

Điều răn thứ sáu cũng không nghiêm cấm việc xử tử hình những kẻ phạm tội sát nhân, những kẻ bất kính với cha mẹ hoặc không nghe lời dạy của cha mẹ, những kẻ phạm luật Sa-bát, những kẻ phạm tội bói khoa, đồng bóng, chiêm tinh, thờ lạy thần tượng, hoặc xúi giục người khác phạm điều răn của Chúa, những kẻ phạm các luật đạo đức khác do Đức Chúa Trời phán truyền. (Xem phần phụ lục ở cuối bài).

Thánh Kinh ghi rõ án tử hình đến từ Đức Chúa Trời cho nên tất cả những án tử hình dựa trên nguyên tắc xử phạt của Thánh Kinh là công chính và cần thiết để trị an xã hội. Tín đồ của Chúa không nên phản đối án tử hình nếu án đó không vi phạm nguyên tắc của Thánh Kinh. Thánh Kinh cũng có nói đến trường hợp Đức Chúa Trời phó mạng sống của một người vào tay người khác thì người khác đó không bị phạm tội sát nhân. Đó là lý do Chúa khiến cho dân Israel lập các thành ẩn náo cho những kẻ ngộ sát trốn vào đó, chờ đợi hội chúng xét xử trước khi bị người thân của nạn nhân giết đi để báo thù (Dân Số Ký 35). Ngộ sát có nghĩa là vô ý làm chết người. Những người phạm ngộ sát thì không bị xử phạt nhưng nếu là hành vi cố sát, nghĩa là giết người vì lòng hung dữ, độc ác hoặc vì lòng giận ghét, thì cho dù có ẩn trốn nơi bàn thờ của Đức Chúa Trời cũng sẽ bị hội chúng bắt mà giết đi (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:14).

 

II. Ý nghĩa đích thật của chữ “giết người”

Giết người là một hành động vô cùng nghiêm trọng. Không phải là một sự tình cờ khi nghĩa đen của động từ giết người trong tiếng Hebrew có nghĩa là: đập tan nát thành những mãnh vụn. Một vật đã bị đập tan nát thành những mãnh vụn là một vật đã hoàn toàn bị hủy diệt, không thể phục hồi. Giết người không chỉ đơn giản là hủy diệt sự sống của một người mà còn là hủy diệt hình ảnh của Đức Chúa Trời trong người đó (Sáng Thế Ký 1:27; 9:6).

Có hình thức giết người mà tín đồ của Chúa thường vi phạm nhất, đó là lòng ghét người khác. Thánh Kinh ghi rất rõ:

“Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người. Anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình.” (I Giăng 3:15)

Vì bất kỳ lý do gì mà chúng ta ghét một người, là chúng ta đã phạm tội giết người. Đó là lời khẳng định của Đức Chúa Trời cho nên chúng ta không thể lý luận để bào chữa hoặc tìm cách chứng minh ngược lại. Khi Đức Chúa Jesus còn ở trong thân xác của loài người, Ngài đã chịu sự đối xử bất công và độc ác nhất nhưng Ngài vẫn cầu thay cho kẻ thù: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Lu-ca 23:34). Dĩ nhiên, những người mà Đức Chúa Jesus cầu thay cho đó biết rất rõ là họ đang lăng nhục Chúa, đang làm khổ Chúa, và đang giết Chúa. Điều mà họ không biết là họ đang giết chết Con của Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Chuộc họ. Đức Chúa Trời gớm ghét tội lỗi nhưng Ngài yêu thương tội nhân. Chính vì yêu thương tội nhân mà Ngài đã sai Con Một của Ngài nhập thế làm người, chịu khổ, chịu sĩ nhục, và chịu chết, gánh thay án phạt của tội lỗi cho toàn thể nhân loại.

Trong mỗi một con người đều có hình ảnh thiêng liêng của Đức Chúa Trời cho dù họ có bị tội lỗi làm băng hoại đến mức nào. Chúng ta nên gớm ghét tội lỗi, nhưng chúng ta không nên ghét tội nhân, vì chính chúng ta cũng từng là tội nhân. Chúng ta cần phải:

“Hãy ở với nhau cách nhơn từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy.” (Ê-phê-sô 4:32)

“Nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy.” (Cô-lô-se 3:13)

Người nào ghét người khác là phạm tội giết người và người đó không có sự sống đời đời ở trong mình. Không có sự sống đời đời nghĩa là không có Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời chính là sự sống đời đời.

 

Kết luận

Số phận của những kẻ giết người mà không chịu ăn năn thống hối và đến với ơn cứu rỗi của Đấng Christ là sự chết thứ hai trong hồ lửa:

“Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.” (Khải Huyền 21:8)

Không phải những kẻ lấy môi miếng tôn thờ Chúa, nhân danh Chúa làm đủ các thứ dấu kỳ, phép lạ, nhân danh Chúa cầu nguyện, giảng đạo, đuổi quỷ sẽ vào nước thiên đàng, mà chỉ những ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 7:21-23). Một trong những ý muốn của Đức Chúa Trời là: “Chớ giết người!” cho dù chỉ giết người bằng lòng ghét bỏ, không tha thứ!

 

Huỳnh Christian Timothy
03/06/2007

Phụ lục: Án tử hình được thiết lập bởi Đức Chúa Trời

 

Xuất Ê-díp-tô ký 19:12 – Vả, ngươi hãy phân định giới hạn cho dân sự ở chung quanh núi, và dặn rằng: Khá giữ mình đừng leo lên núi, hoặc đụng đến chân; hễ kẻ nào đụng đến thì sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:12 – Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:15 – Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:16 – Kẻ nào bắt người và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:17 – Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 21:29 – Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay báng và chủ đã bị mắng vốn mà không cầm giữ, nếu bò nầy còn giết một người đàn ông hay đàn bà, thì nó sẽ bị ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa.

Xuất Ê-díp-tô ký 22:19 – Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 31:14 – Vậy, hãy giữ ngày sa-bát, vì là một ngày thánh cho các ngươi. Kẻ nào phạm đến ngày đó, phải bị xử tử; kẻ nào làm một việc chi trong ngày đó, cũng sẽ bị truất khỏi vòng dân sự.

Xuất Ê-díp-tô ký 31:15 – Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày sa-bát, tức là ngày nghỉ, biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Trong ngày sa-bát hễ ai làm một việc chi sẽ bị xử tử.

Xuất Ê-díp-tô ký 35:2 – Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng đến ngày thứ bảy sẽ là một lễ thánh, tức là ngày sa-bát biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm công việc trong ngày đó sẽ bị xử tử.

Lê-vi ký 20:2 – Ngươi hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Phàm ai trong dân Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ giữa vòng họ, dùng một trong các con mình dâng cho thần Mo-lóc, thì chắc sẽ bị xử tử: dân bổn xứ phải ném đá người ấy.

Lê-vi ký 20:9 – Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó.

Lê-vi ký 20:10 – Nếu người nào phạm tội tà dâm cùng vợ của người khác, hay là phạm tội tà dâm cùng vợ người lân cận mình, người nam cùng người nữ đó đều phải bị xử tử.

Lê-vi ký 20:11 – Nếu người nào nằm cùng vợ cha mình, ấy là gây nhục cho cha mình, thì hai người đều hẳn phải bị xử tử; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ.

Lê-vi ký 20:12 – Nếu người nào nằm cùng dâu mình, hai người đều hẳn phải bị phạt xử tử; vì họ phạm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ.

Lê-vi ký 20:13 – Nếu một người nam nằm cùng một người nam khác, như nằm cùng người nữ, thì hai người đó đều hẳn phải bị xử tử, vì họ đã làm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ.

Lê-vi ký 20:15 – Nếu một người nam cấu hiệp cùng thú vật, thì hẳn phải bị xử tử, và các ngươi hãy giết thú đó đi.

Lê-vi ký 20:27 – Khi nào một người nam hay nữ làm đồng cốt, hay là bói khoa, thì hẳn sẽ bị xử tử; người ta sẽ ném đá chúng nó: huyết chúng nó sẽ đổ lại trên mình chúng nó.

Lê-vi ký 24:16 – Ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng sẽ ném đá nó: mặc dầu nó là kẻ khách ngoại bang hay là sanh trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử.

Lê-vi ký 24:17 – Kẻ nào đánh chết một người nào, mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử.

Lê-vi ký 24:21 – Kẻ nào làm chết một súc vật, thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết chết một người, thì phải bị xử tử.

Dân số ký 1:51 – Khi nào đền tạm dời chỗ, thì người Lê-vi sẽ tháo dỡ nó; khi nào đền tạm dừng lại, thì họ sẽ dựng nó lên; còn người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.

Dân số ký 3:10 – Vậy, ngươi sẽ lập A-rôn và các con trai người, để làm chức tế lễ; người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.

Dân số ký 3:38 – Những người đóng trại trước đền tạm về phía đông, tức trước hội mạc về phía mặt trời mọc, là Môi-se, A-rôn và các con trai người, có chức phận săn sóc nơi thánh thế cho dân Y-sơ-ra-ên. Người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.

Dân số ký 15:35 – Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Người nầy phải phạt xử tử, cả hội chúng hãy ném đá người ngoài trại quân.

Dân số ký 18:7 – Nhưng ngươi và các con trai ngươi phải kỹ lưỡng lo cho xong chức tế lễ, quản trị các điều chi thuộc về bàn thờ, và vật chi ở phía trong màn; các ngươi phải làm việc mình tại đó. Chức tế lễ của các ngươi là một việc ta phong cho như một của ban: người ngoại nào đến gần sẽ bị xử tử.

Dân số ký 35:16 – Nhưng nếu người ấy đánh bằng đồ sắt, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhơn hẳn phải bị xử tử.

Dân số ký 35:17 – Nếu người đánh bằng một cục đá cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.

Dân số ký 35:18 – Cũng vậy, nếu người đánh bằng đồ cây cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhơn hẳn phải bị xử tử.

Dân số ký 35:21 – hoặc vì sự thù đánh bằng bàn tay, và vì cớ đó nó bị chết, thì người nào đánh đó hẳn phải bị xử tử. Ấy là một kẻ sát nhơn; người báo thù huyết khi nào gặp kẻ sát nhơn phải làm cho nó chết đi.

Dân số ký 35:31 – Các ngươi chớ lãnh tiền chuộc mạng của một người sát nhơn đã có tội và đáng chết, vì nó hẳn phải bị xử tử.

Phục truyền luật lệ ký 17:6 – Cứ theo lời của hai hoặc ba người chứng mới xử tử kẻ đáng bị chết; nhưng cứ lời của một người chứng không đủ xử tử người.

Phục truyền luật lệ ký 24:7 – Khi người ta gặp ai có ăn cướp một người anh em mình trong dân Y-sơ-ra-ên, và đã bắt làm mọi hay là đã bán người, thì tên bợm ấy phải bị xử tử; ngươi sẽ trừ sự ác khỏi giữa mình vậy.

 

Share This:

Các danh hiệu của Đức Chúa Trời: El

1,888 views

 

I. El (Đức Chúa Trời)

 

1. El Echad [Eol Ek-hađ] = Đức Chúa Trời có một:

"Hết thảy chúng ta chẳng phải là có chung một cha sao? Chẳng phải chỉ có một Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta sao? Vậy sao ai nấy đãi anh em mình cách gian dối, phạm giao ước của tổ phụ chúng ta?" (Ma-la-chi 2:10)

2. El Hanne'eman [Eol Han-ne-e-man] = Đức Chúa Trời thành tín:

"Vậy nên, phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ấy là Đức Chúa Trời, tức Đức Chúa Trời thành tín, giữ sự giao ước và nhân từ đến ngàn đời cho những người yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 7:9)

3. El Emet [Eol Ê-met] = Đức Chúa Trời chân thật:

"Tôi phó thác thần linh tôi vào tay Chúa: Hỡi Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời chân thật, Ngài đã chuộc tôi." (Thi Thiên 31:5)

4. El Tsaddik [Eol Shad-đik] = Đức Chúa Trời công chính:

"Vậy hãy truyền rao; hãy bảo chúng nó đến gần, và nghị luận cùng nhau! Từ đời xưa ai đã rao ra sự nầy? ai đã tỏ ra từ lúc thượng cổ? Há chẳng phải ta, là Đức Giê-hô-va, sao? Ngoài ta chẳng có Đức Chúa Trời nào khác! chẳng có Đức Chúa Trời công bình nào khác và là Cứu Chúa ngoài ta." (Ê-sai 45:21)

5. El Shaddai [Eol Sha-đai] = Đức Chúa Trời toàn năng:

"Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, thì Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Ta là Đức Chúa Trời toàn năng; ngươi hãy đi ở trước mặt ta làm một người trọn vẹn." (Sáng Thế Ký 17:1)

6. El Elyon [Eol Eol-dôn] = Đức Chúa Trời chí cao:

"Đáng ngợi khen thay Đức Chúa Trời chí cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay ngươi!" (Sáng Thế Ký 14:20a)

"Hỡi Đấng chí cao, tôi sẽ vui vẻ, hớn hở nơi Ngài, Và ca tụng danh của Ngài." (Thi Thiên 9:2)

7. El Olam [Eol Ô-lam] = Đức Chúa Trời hằng hữu:

"Áp-ra-ham trồng một cây me tại Bê-e-sê-ba, và ở đó người cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời hằng-hữu." (Sáng Thế Ký 21:33)

8. El Roi [Eol Rô-i] = Đức Chúa Trời hay đoái xem:

"Nàng gọi Đức Giê-hô-va mà đã phán cùng mình, danh là "Đức Chúa Trời hay đoái xem," vì nàng nói rằng: Chính tại đây, tôi há chẳng có thấy được Đấng đoái xem tôi sao?" (Sáng Thế Ký 16:13)

9. El Gibbor [Eol Ghíp-bo-r] = Đức Chúa Trời quyền năng:

"Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an." (Ê-sai 9:6)

10. El De'ot [Eol Đe-ốt] = Đức Chúa Trời thông biết mọi điều:

"Thôi, chớ nói những lời kiêu ngạo, chớ để những lời xấc xược ra từ miệng các ngươi nữa; Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thông biết mọi điều, Ngài cân nhắc mọi việc làm của ngươi." (1 Sa-mu-ên 2:3)

11. El Haggadol [Eol Ha-ga-đô-l] = Đức Chúa Trời vĩ đại:

"Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và Chúa của các chúa, tức là Đức Chúa Trời rất lớn, có quyền năng và đáng sợ, không thiên vị ai, chẳng nhận của hối lộ…" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 10:17)

12. El Hakkavod [Eol Ha-ka-vô-đ] = Đức Chúa Trời vinh hiển:

"Tiếng Đức Giê-hô-va dội trên các nước; Giê-hô-va Đức Chúa Trời vinh hiển sấm sét trên các nước sâu." (Thi Thiên 29:3)

13. El Hakkadosh [Eol Ha-ka-đôsh] = Đức Chúa Trời thánh khiết:

"Song Đức Giê-hô-va vạn quân lên cao trong sự công chính, Đức Chúa Trời là Đấng Thánh nên thánh trong sự công bình." (Ê-sai 5:16)

14. El Hashamayim [Eol Ha-sha-may-im] = Đức Chúa Trời của các tầng trời:

"Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của các tầng trời! Vì sự nhơn từ Ngài còn đến đời đời." (Thi Thiên 126:36)

15. El Chaiyai [Eol Phai-dai] = Đức Chúa Trời của mạng sống tôi:

"Dầu vậy, ban ngày Đức Giê-hô-va sẽ sai khiến sự nhơn từ Ngài; Còn ban đêm bài hát Ngài ở cùng tôi, tức là bài cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời của mạng sống tôi." (Thi Thiên 42:8)

16. El Channun [Eol Phan-nun] = Đức Chúa Trời nhân từ:

"Người cầu nguyện Đức Giê-hô-va rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi cầu xin Ngài, ấy há chẳng phải là điều tôi đã nói khi tôi còn ở trong xứ tôi sao? Vì đó nên tôi lật đật trốn qua Ta-rê-si vậy. Bởi tôi biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn, và đổi ý không xuống tai vạ." (Giô-na 4:2)

17. El Yisrael [Eol Dis-ra-eo-l] = Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên:

"Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa thật đáng sợ trong nơi thánh Chúa: Chính Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ban sức lực và quyền năng cho dân sự Ngài. Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời thay!" (Thi Thiên 68:35)

18. El Sali [Eol Sa-li] = Đức Chúa Trời là vầng đá (sức mạnh) của tôi:

"Tôi sẽ thưa cùng Đức Chúa Trời, là vầng đá tôi, rằng: Cớ sao Chúa quên tôi? Nhơn sao tôi phải buồn thảm Vì cớ kẻ thù nghịch hà hiếp tôi?" (Thi Thiên 42:9)

19. El Rachum [Eol Ra-hum] = Đức Chúa Trời hay thương xót:

"Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi là Đức Chúa Trời hay thương xót sẽ không bỏ ngươi và không hủy diệt ngươi đâu; cũng chẳng quên sự giao ước mà Ngài đã thề cùng các tổ phụ ngươi." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:31)

20. El Yeshuati [Eol Dê-shu-a-ti] = Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi của tôi:

"Nầy, Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tôi; tôi sẽ tin cậy và không sợ hãi. Vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là sức mạnh của tôi, lời ca tụng của tôi; Ngài đã nên sự cứu rỗi tôi." (Ê-sai 12:2)

21. El Yeshuatenu [Eol Dê-shu-a-tê-nu] = Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi của chúng ta:

"Đáng ngợi khen Chúa thay, Là Đấng hằng ngày gánh gánh nặng của chúng tôi, tức là Đức Chúa Trời sự cứu rỗi của chúng tôi." (Thi Thiên 68:19)

22. El Kanno [Eol Kan-nô] = Đức Chúa Trời ghen tỵ:

"Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời ghen tỵ, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời." (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5) * Bản dịch Phan Khôi dịch là "Đức Chúa Trời kỵ tà" không đúng với nguyên tác.

23. Immanuel [Im-ma-nu-eol] = Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta:

"Vậy nên, chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt trên là Em-ma-nu-ên." (Ê-sai 7:14)

"Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sanh một con trai, Rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên; nghĩa là: Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta." (Ma-thi-ơ 1:23)

 

Kết luận

 

Qua tất cả các danh xưng trên đây của Đức Chúa Trời, chúng ta nhận biết được các lẽ thật về Ngài. Những lẽ thật đó bày tỏ sự thực hữu và hằng hữu của Đức Chúa Trời, bày tỏ sự thánh khiết và quyền năng cả thể của Ngài. Những lẽ thật đó cũng bày tỏ Đức Chúa Trời có một và vĩ đại là vô cùng công bình, thương xót, và thành tín đối với nhân loại.

Cảm tạ Đức Chúa Trời, vì chúng ta được Ngài ở cùng chúng ta và ban cho chúng ta quyền phép trở nên con cái của Ngài.

 

Huỳnh Christian Timothy
20/05/2007

Share This:

Điều Răn: Tôn kính cha mẹ

1,992 views

 Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống
https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/10321-hieukinhchame

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết
https://od.lk/s/MV8xMTQ5MTIwODZf/DR05_TonKinhChaMe.pdf

Ý nghĩa của sự tôn kính

 

“Hãy tôn kính cha mẹ ngươi” là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là hoặc chúng ta tuân theo, hoặc chúng ta chống nghịch. Chúng ta không có sự chọn lựa nào khác và cũng không được phép lý luận. Chúa không phán bảo: “Hãy tôn kính cha mẹ ngươi nếu cha mẹ ngươi làm tròn bổn phận của họ, nếu cha mẹ ngươi yêu thương ngươi, nếu cha mẹ ngươi cư xử công bình với ngươi, nếu cha mẹ ngươi là những người đạo đức, gương mẫu…” Điều kiện duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì họ là cha mẹ của chúng ta, và lý do duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời.

Tôn kính là thái độ phải có của loài người đối với Đức Chúa Trời, của con cái đối với cha mẹ, và của mỗi người đối với thẩm quyền Đức Chúa Trời đặt để trên mình. Chữ “tôn kính” trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là tôn trọng và vâng phục. Sự tôn kính không phải chỉ được bày tỏ bằng lời nói mà còn phải thể hiện bằng việc làm. Đức Chúa Trời đã từng quở trách dân Israel và các thầy tế lễ của họ như sau:

“Con trai tôn kính cha mình, đầy tớ tôn kính chủ mình. Vậy nếu ta là cha, nào sự tôn kính thuộc về ta ở đâu? và nếu ta là chủ, nào sự kính sợ ta ở đâu? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy cùng các ngươi, hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh ta! Các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có khinh dể danh Ngài ở đâu?” (Ma-la-chi 1:6)

 

1. Tôn kính cha mẹ là tôn trọng và cung kính cha mẹ:

Sự tôn kính cha mẹ được thể hiện trước hết là qua thái độ của chúng ta đối với cha mẹ. Đối với những bậc trưởng thượng, Đức Chúa Trời đã dạy chúng ta tôn trọng và cung kính họ:

“Trước mặt người tóc bạc, ngươi hãy đứng dậy, kính người già cả, và kính sợ Đức Chúa Trời ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va.” (Lê-vi Ký 19:32)

Thái độ tôn trọng và cung kính đó cũng là điều chúng ta phải có đối với cha mẹ. Vì thế, chúng ta không thể cư xử với cha mẹ như ngang hàng với mình chứ đừng nói là thiếu tôn kính, thiếu lễ độ. Chúng ta tôn trọng và cung kính cha mẹ vì họ là cha mẹ của chúng ta chứ không phải vì họ có phẩm chất đạo đức xứng đáng để chúng ta tôn trọng và cung kính. Nhiều người biện minh cho sự thiếu lễ độ của họ đối với cha mẹ bằng cách nêu ra những khuyết điểm hay những lỗi lầm của cha mẹ. Dù cha mẹ chúng ta có bao nhiêu khuyết điểm hay lỗi lầm thì cũng không làm thay đổi sự kiện họ là cha mẹ của chúng ta. Và nếu họ là cha mẹ của chúng ta thì mệnh lệnh của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta là chúng ta phải tôn kính họ.

Hình phạt dành cho những đứa con không tôn trọng và cung kính cha mẹ là sự chết:

“Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:15)

“Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:17)

“Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó.” (Lê-vi Ký 20:9)

“Đáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ mình! Cả dân sự phải đáp: A-men!” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:16)

“Ngọn đèn của kẻ rủa cha mẹ mình sẽ tắt giữa vùng tăm tối mờ mịt.” (Châm Ngôn 20:20)

 

2. Tôn kính cha mẹ là vâng phục cha mẹ trong Chúa:

“Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm.” (Ê-phê-sô 6:1)

“Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa.” (Cô-lô-se 3:20)

Vâng phục cha mẹ cũng như vâng phục bất kỳ một thẩm quyền nào Chúa đặt để trên mình không phải là một sự vâng phục mù quáng. Sự vâng phục đó phải được đặt trên nền tảng của lời Chúa, vì vậy, Phao-lô mới viết rằng: “Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa.” Những câu Thánh Kinh sau đây giới hạn sự vâng phục của chúng ta đối với loài người:

“Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29)

“Còn bây giờ, có phải tôi mong người ta ưng chịu tôi hay là Đức Chúa Trời? Hay là tôi muốn đẹp lòng loài người chăng? Ví bằng tôi còn làm cho đẹp lòng loài người, thì tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ.” (Ga-la-ti 1:10)

Vâng phục cha mẹ trong Chúa là vâng lời cha mẹ trong mọi sự miễn là sự vâng lời đó không chống nghịch lại lời Chúa. Sự vâng phục đòi hỏi một sự trả giá và nhiều khi cái giá để trả vô cùng to lớn. Thánh Kinh khuyên chúng ta học lấy gương vâng phục của Đấng Christ:

“5 Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.” (Phi-líp 2:5-8)

“Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ.” (Lu-ca 2:51)

Khi cha mẹ có những ý muốn hoàn toàn trái nghịch lại lời Chúa, chúng ta được phép không vâng theo những ý muốn sai trái, tội lỗi đó nhưng không có nghĩa là chúng ta có thể bất kính với họ. Thái độ và lời nói của chúng ta đối với cha mẹ và những bậc có thẩm quyền Chúa đặt để trên mình phải luôn luôn mềm mại, hòa nhã. Bất kỳ một lời nói, một thái độ hỗn hào, vô lễ nào của chúng ta đối với cha mẹ đều là tội chết trước mặt Đức Chúa Trời mà Ngài đã nhều lần cảnh cáo trong Thánh Kinh.

Hình phạt dành cho những đứa con không vâng lời cha mẹ là sự chết:

“18 Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, 19 thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. 20 Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. 21 Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả Y-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ.” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:18-21)

 

3. Tôn kính cha mẹ là phụng dưỡng cha mẹ trong tuổi già của họ:

“Con cháu trước phải học làm điều thảo đối với nhà riêng mình và báo đáp cha mẹ; vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời.” (1 Ti-mô-thê 5:4)

Chữ “báo đáp” trong nguyên tác có nghĩa là “trả món nợ mà mình thiếu”. Nhiều người bỏ mặc cha mẹ không chăm sóc, không báo đáp và viện cớ rằng họ đã dâng hiến cho Đức Chúa Trời nên không còn tài vật để nuôi cha mẹ. Đức Chúa Jesus đã lên án thái độ giả hình này:

“4 Vì Đức Chúa Trời đã truyền điều răn nầy: Phải hiếu kính cha mẹ ngươi; lại, điều nầy: Ai mắng nhiếc cha mẹ thì phải chết. 5 Nhưng các ngươi lại nói rằng: Ai nói cùng cha mẹ rằng: Những điều mà tôi có thể giúp cha mẹ, đã dâng cho Đức Chúa Trời rồi, thì người ấy không cần phải hiếu kính cha mẹ. 6 Như vậy, các ngươi đã vì lời truyền khẩu mình mà bỏ lời Đức Chúa Trời. 7 Hỡi kẻ giả hình! Ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi phải lắm, mà rằng: 8 Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. 9 Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra.” (Ma-thi-ơ 15:4-9)

Ngày nay, vẫn có nhiều con dân Chúa tự hào dâng hiến rời rộng cho Đức Chúa Trời nhưng họ thật sự không màng đến những thiếu thốn vật chất của cha mẹ. Nhiều người thậm chí bắt cha mẹ phải làm việc trong nhà như đày tớ để đổi lại miếng cơm manh áo mà họ ban bố cho cha mẹ.

 

4. Tôn kính cha mẹ không phải là biến cha mẹ thành thần linh

Thực tế, có những người không hề vâng lời hoặc tôn kính cha mẹ khi cha mẹ còn sống, nhưng khi cha mẹ qua đời thì lại làm giỗ cúng trọng thể, xây mồ mã đồ sộ, tốn kém, để được người đời khen là “có hiếu.” Có những người, khi cha mẹ còn sống phải nhờ đến sự chăm sóc, phụng dưỡng của họ, nhưng khi cha mẹ qua đời, họ lại tin rằng cha mẹ có thể “phù hộ” cho họ nên họ lập bàn thờ để thờ lạy cha mẹ như những phúc thần.

Văn hóa Việt Nam đề cao và phát huy lễ nghĩa là một điểm tốt nhưng khi lễ nghĩa biến thành sùng bái, thần thánh hóa các bậc trưởng thượng thì trở thành phạm thượng, nghịch lại Đức Chúa Trời. Thánh Kinh bày tỏ rất rõ ràng thánh ý của Đức Chúa Trời là Ngài không nhường sự vinh hiển cho bất kỳ một ai. Mọi sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Ngài:

“Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!” (Ê-sai 42:8)

Khi chúng ta tôn thờ cha mẹ, tổ tiên như thần linh, xem họ như là những vị thần có thể bảo hộ, có thể ban phúc hoặc giáng họa cho chúng ta, thì chúng ta đã thần tượng hóa họ và đã đặt họ vào vị trí vinh hiển của Đức Chúa Trời. Cha mẹ, tổ tiên của chúng ta dầu tốt lành, nhân đức đến mức nào đi chăng nữa thì cũng vẫn là những tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời. Thánh Kinh khẳng định rõ điều này:

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma 3:23)

Lương tâm và trí khôn của chúng ta dạy cho chúng ta biết rõ trong thế gian không hề có một người nào là toàn vẹn, vì thế mới có câu: “Nhân vô thập toàn!” Xét về mặt đạo đức thì không một người nào đáng để chúng ta thờ lạy vì ai cũng có khuyết điểm. Xét về mặt quyền năng thì chỉ có Đức Chúa Trời Toàn Năng là Đấng tạo dựng nên muôn loài vạn vật, trong đó có loài người, mới xứng đáng để chúng ta thờ lạy. Thờ lạy là hình thức tôn kính cao nhất, và vì thế chỉ có thể dành riêng cho Đức Chúa Trời mà thôi.

 

Kết luận

 

“Hãy tôn kính cha mẹ” là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Và, cũng như bao nhiêu mệnh lệnh khác của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể nào làm tròn mệnh lệnh này nếu chúng ta không thật sự ở trong Chúa, nếu chúng ta chưa thật sự được Chúa biến đổi thành một con người mới (tái sinh). Nếu chúng ta không thể tôn kính cha mẹ mình thì chắc chắn chúng ta không thể có mối tương quan tốt với những người khác trong xã hội. Một trong những phương cách vô cùng hữu hiệu để nhìn biết một người có thật sự là môn đồ của Chúa hay không, đó là quan sát cách thức họ cư xử với cha mẹ và các bậc trưởng thượng. Nếu những người chưa tin Chúa mà có thể tôn kính cha mẹ và để lại gương sáng cho xã hội như 24 người con hiếu thảo của Trung Quốc thì người Tin Lành càng phải sáng chói trong sự tôn kính cha mẹ biết là dường nào!

Trên một phương diện khác, cha mẹ, tổ tiên chúng ta đều là vật thọ tạo bởi Đức Chúa Trời cho nên chúng ta không thể tôn kính họ ngang bằng với Đức Chúa Trời, nghĩa là không thờ lạy họ. Sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Đức Chúa Trời là Cha chung của muôn loài vạn vật. Lòng tôn kính cha mẹ chân thật sẽ thể hiện trong cách cư xử của chúng ta đối với cha mẹ. Chúng ta tôn kính, vâng phục, và phụng dưỡng cha mẹ khi họ còn sống, theo như mệnh lệnh của Chúa. Khi cha mẹ qua đời, chúng ta chôn cất tử tế và chăm sóc mộ phần của họ chu đáo nhưng không phung phí tiền bạc, của cải, công sức vào việc xây mồ, đắp mã, cốt lấy tiếng khen của thế gian; cũng không lập bàn thờ để thờ lạy như thần linh; và cũng không giỗ cúng, vì người chết không thể hưởng dụng những lễ vật được cúng tế.

 

Huỳnh Christian Timothy
13/05/2007

 

Share This:

Tên riêng của Đức Chúa Trời: YHVH

1,893 views

I. Tên riêng của Đức Chúa Trời

 

Tên riêng của Đức Chúa Trời do chính Ngài xưng nhận (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14, 15; 6:2, 3; Ê-sai 42:8), được ghi lại trong Thánh Kinh bằng tiếng Hê-bơ-rơ (Hebrew). Danh xưng này được phiên âm qua Anh ngữ là Jehovah, qua Việt ngữ là Giê-hô-va. Cũng có bản dịch Anh ngữ phiên âm là Yahveh, và phiên âm tương đương bên Việt ngữ là Gia-vê. Thật ra, đó là một tổng hợp giữa 4 phụ âm Hê-bơ-rơ: YHVH (hoặc YHWH) với các nguyên âm từ một danh xưng khác của Đức Chúa Trời là ADONAI (Đấng Chủ Tể), và phát âm thành YaHoVaH. Người Do-thái rất mực tôn kính Danh Chúa, không dám phát âm danh xưng YHVH, đã dùng danh xưng Adonai để thay thế trong khi phát âm tên riêng của Đức Chúa Trời. Theo thời gian, dần dần chính người Do-thái cũng không còn nhớ được cách phát âm chính xác của tên riêng Chúa.

Trong nguyên tác, Chúa xưng nhận Ngài là "TA THỰC HỮU". Xin đối chiếu  bản dịch Anh ngữ, bản dịch Việt ngữ, với nguyên tác tiếng Hê-bơ-rơ dưới đây:

– And God430 said559 unto413 Moses,4872 I AM1961 THAT834 I AM:1961

– Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là ĐẤNG TỰ HỮU, HẰNG HỮU

ויאמר559  אלהים430  אל413  משׁה4872  אהיה1961  אשׁר834  אהיה1961

* 559 = phán; 430 = Đức Chúa Trời; 413 = cùng; 4872 = Môi-se; 1961 = là, có, thực hữu; 834 = Đấng

Trong bản dịch Thánh Kinh tiếng Việt, chúng ta có tên riêng của Đức Chúa Trời được phiên âm thành "Đức Giê-hô-va." Nếu muốn dịch thay vì phiên âm, thì chúng ta có thể dịch tên riêng của Đức Chúa Trời thành "ĐẤNG THỰC HỮU". Đây là danh xưng độc đáo nhất của Đức Chúa Trời và được ghi lại 6,828 lần trong Cựu Ước. Danh xưng này đặc biệt liên quan đến sự thánh khiết của Ngài, liên quan đến sự nhân từ của Ngài, và liên quan đến sự công chính của Ngài.

 

II. Ý nghĩa tên riêng của Đức Chúa Trời

 

Danh xưng "Đức Giê-hô-va" hay "ĐẤNG THỰC HỮU" bao gồm những ý nghĩa sau đây:

1. Đức Chúa Trời là Đấng tự nhiên có và còn đến mãi mãi:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên Ngài không có sự bắt đầu và sự chấm dứt. Khi chúng ta nói đến bắt đầu và chấm dứt là chúng ta nói đến thời gian, nói đến sự hữu hạn. Đức Chúa Trời tạo ra thời gian cho nên Ngài không bị giới hạn hay lệ thuộc vào thời gian. Vì thế, Ngài xưng rằng ta là Đầu tiên và Cuối cùng, là An-pha và Ô-mê-ga (Ê-sai 44:6; Khải Huyền 21:6). Ngài có trước thời gian và Ngài vẫn tồn tại sau khi thời gian chấm dứt. Ngài ở trong thời gian lẫn ở ngoài thời gian. Ngài là sự vĩnh cửu! Và Ngài đã đặt để sự nhận biết đó trong lòng nhân loại:

"Phàm vật Đức Chúa Trời đã làm nên đều là tốt lành trong thì nó. Lại, Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người; dầu vậy, công việc Đức Chúa Trời làm từ ban đầu đến cuối cùng, người không thế hiểu được." (Truyền Đạo 3:11)

2. Đức Chúa Trời là độc nhất, vô nhị, và cao siêu tuyệt đối:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên ngoài Ngài không thể có một Đấng nào khác giống như Ngài và không một ai hay một sự gì có thể sánh được với Ngài. Chính Ngài khẳng định như vậy:

"6 Ta là đầu tiên và cuối cùng; ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác." (Ê-sai 44:6

"5 Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác, ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác nữa. Dầu ngươi không biết ta, ta sẽ thắt lưng ngươi, 6 hầu cho từ phía mặt trời mọc đến phía mặt trời lặn họ được biết rằng không có Đức Chúa Trời nào khác ngoài ta. Ta là Đức Giê-hô-va, không có đấng nào khác." (Ê-sai 45:5, 6)

"18 Vậy thì các ngươi có thể vì Đức Chúa Trời với ai, lấy ảnh tượng nào mà so sánh với Ngài được?" (Ê-sai 40:18)

"25 Đấng Thánh phán rằng: Vậy thì các ngươi sánh ta cùng ai? Ai sẽ bằng ta?" (Ê-sai 40:25)

3. Đức Chúa Trời là sự sống và nguồn của sự sống:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên Ngài chính là sự sống và là nguồn của sự sống. Tất cả những gì có sự sống đều phát xuất từ Ngài, đều do Ngài tạo dựng. Vì thế, Ngài là Đấng có quyền ban cho và lấy lại tùy theo ý muốn của Ngài (Gióp 1:21).

20 Thương mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vâng theo tiếng phán Ngài, và tríu mến Ngài; vì Ngài là sự sống ngươi và làm cho ngươi được sống lâu, đặng ngươi ở trên đất mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho các tổ phụ ngươi, là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 30:20)

"28 Vì tại trong Ngài, chúng ta được sống, động, và có…" (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:28a)

4. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, muôn vật bắt nguồn từ sự thực hữu của Ngài, muôn vật được dựng nên bởi chính Ngài:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên muôn vật được tạo thành bởi Ngài và được bảo dưỡng bởi Ngài (Sáng Thế Ký 1). Khi loài người và thế giới vật chất bị băng hoại bởi tội lỗi, thì Đức Chúa Trời lại ra tay tạo dựng nên mới cho những ai thật lòng ăn năn tội và tin nhận Ngài (Giăng 1:12, 13); và một ngày kia, Ngài cũng sẽ tái tạo trời mới đất mới, làm nơi ở mới và sản nghiệp đời đời cho những ai thuộc về Ngài:

"17 Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới." (2 Cô-rinh-tô 5:17)

"1 Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa." (Khải Huyền 21:1)

5. Đức Chúa Trời hoàn toàn tự do, hoàn toàn độc lập:

Vì Ngài tự nhiên có và còn đến mãi mãi, là sự sống và nguồn của sự sống, cho nên Ngài hoàn toàn tự do và độc lập. Ngài không lệ thuộc vào bất cứ một sự gì cho sự thực hữu của Ngài. Ngài muốn làm gì thì làm tùy theo ý chỉ của Ngài mà không lệ thuộc vào bất cứ một sự gì.

"Nơi Đức Chúa Trời có sự khôn ngoan và quyền năng; Mưu luận và thông minh đều thuộc về Ngài." (Gióp 12:13)

"Ai lường được Thần của Đức Chúa Trời, và làm mưu sĩ Ngài, đặng dạy Ngài điều gì? (Ê-sai 40:13)

"Đức Giê-hô-va phán ràng: Ta sẽ làm cho các sự nhân từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta hô danh Giê-hô-va trước mặt ngươi; làm ơn cho ai ta muốn làm ơn, và thương xót ai ta muốn thương xót." (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:19)

"Như vậy, Ngài muốn thương xót ai thì thương xót, và muốn làm cứng lòng ai thì làm." (Rô-ma 9:18)

6. Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trên muôn loài vạn vật:

Vì Ngài là Đấng Tạo Hóa của muôn loài vạn vật cho nên Ngài có quyền tể trị trên mọi sự. Ngài là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa. Ngài là Đức Giê-hô-va Vạn Quân.

"Kìa, trời và các từng trời cao hơn trời, đất và mọi vật ở nơi đất đều thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:4)

"Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng qui về Ngài; vì muôn vật trên các từng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được tôn cao làm Chúa tể của muôn vật." (1 Sử Ký 29:11)

"Chúa đã xây dựng cung đền Ngài trong các từng trời, đã lập vòng khung Ngài trên đất. Ngài kêu gọi nước biển và đổ ra trên mặt đất. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va." (A-mốt 9:6)

7. Đức Chúa Trời là Đấng muôn loài vạn vật ngưỡng trông và thờ phượng:

Vì Ngài là sự sống và nguồn của sự sống, là Đấng Tạo Hóa, là Đấng Tể trị của muôn loài vạn vật cho nên muôn loài vạn vật phải ngưỡng trông lên sự nhân từ, sự công chính của Ngài, và thờ phượng sự thánh khiết của Ngài.

"Con mắt muôn vật đều ngửa trông Chúa, Chúa ban cho chúng đồ ăn tùy theo thì." (Thi Thiên 145:15)

"Sự tiếp trợ chúng ta ở trong danh Đức Giê-hô-va, Là Đấng đã dựng nên trời và đất." (Thi Thiên 124:8)

"Ôi! chỉ một mình Chúa là Đức Giê-hô-va có một không hai; Chúa đã dựng nên các từng trời, và trời của các từng trời, cùng toàn cơ binh của nó, trái đất và các vật ở trên nó, biển và muôn vật ở dưới nó Chúa bảo tồn những vật ấy, và cơ binh của các từng trời đều thờ lạy Chúa." (Nê-hê-mi 9:6)

 

III. Sự vinh hiển trong tên riêng của Đức Chúa Trời

 

Tên riêng "ĐẤNG THỰC HỮU" của Đức Chúa Trời chiếu sáng toàn vẹn vinh hiển của Ngài, bao gồm: sự thánh khiết, sự công chính, và sự nhân từ. Thánh Kinh ghi lại cách thức Đức Chúa Trời cho phép Môi-se nhìn xem sự vinh hiển của Ngài như sau:

"5 Đức Giê-hô-va ngự xuống trong đám mây, đứng gần bên Môi-se và hô danh Giê-hô-va. 6 Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, 7 ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời." (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:5-7)

1. Sự thánh khiết:

Trước hết, Đức Chúa Trời hô danh Ngài là "Giê-hô-va", nghĩa là "ĐẤNG THỰC HỮU". Chúng ta đã biết, danh xưng Đấng Thực Hữu có nghĩa là: Đấng tự nhiên có và còn đến mãi mãi cho nên danh xưng đó nói lên sự thánh khiết của Đức Chúa Trời; bởi vì nghĩa đen của chữ "thánh" trong Thánh Kinh là: chỉ có một, hoàn toàn khác với tất cả những thứ khác, và hoàn toàn đôc lập với tất cả những thứ khác.

Đấng Thực Hữu là Thánh Khiết, vì Ngài chỉ có một,  hoàn toàn khác biệt với muôn sự, và không lệ thuộc vào bất cứ một sự gì.

2. Sự nhân từ:

Kế tiếp Đức Chúa Trời giải thích Ngài là: "Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi!", và đó là sự nhân từ của Đấng Thực Hữu.

3. Sự công chính:

Sau cùng, Đức Chúa Trời nhấn mạnh: "Nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời" để nói lên sự công chính của Ngài.

Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chính là sự chiếu sáng các thuộc tính thánh khiết, nhân từ, và công chính của Ngài. Khi Môi-se nhìn thấy sự vinh hiển của Chúa, ông cảm nhận được các thuộc tính của Chúa, và ông đã lật đật cúi đầu xuống đất mà thờ phượng Chúa.

Sau khi được trực diện với sự vinh hiển của Chúa và lắng nghe Chúa dùng ngôn ngữ loài người bày tỏ sự vinh hiển của Ngài, Gióp nhận ra sự công bình của mình là vô nghĩa trước Đức Chúa Trời và đã tuyên xưng:

"5 Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, Nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: 6 Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi." (Gióp 42:5, 6)

 

Kết luận

 

Đức Chúa Trời vĩ đại, cao siêu tuyệt đối, tự nhiên có, còn đến mãi mãi, hoàn toàn thánh thiện, không gì không làm được, không gì không biết được, hiện diện mọi nơi, hiện diện mọi lúc, biết hết mọi sự, và tể trị mọi sự đó chính là CHA của chúng ta. Ngài dựng nên loài người theo hình ảnh của Ngài để làm con của Ngài. Ngài muốn chúng ta đi vào trong tình yêu đời đời Ngài đã dành cho chúng ta và Ngài cũng đã trả một giá thật đắt để đem chúng ta đến với tình yêu đó.

Đức Chúa Trời ở trên chúng ta: luôn yêu thương, chăm sóc, và bảo vệ chúng ta. Đức Chúa Trời ở giữa chúng ta: cùng sống và đồng công với chúng ta trong mọi sự, ở bên cạnh chúng ta trong mỗi bước đường đời, và liên kết chúng ta lại với nhau trong Hội Thánh của Ngài. Đức Chúa Trời ở trong chúng ta: để an ủi, khuyên lơn, chỉ dạy, cáo trách chúng ta khi chúng ta lầm lỗi, và giúp ta dâng trình những điều cầu xin không thể nói nên lời:

"Chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người, và ở trong mọi người." (Ê-phê-sô 4:6)

Câu chúc phước mà Đức Chúa Trời truyền cho các thầy tế lễ chúc cho dân Y-sơ-ra-ên là:

"24 Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! 25 Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! 26 Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi! 27 Họ phải đặt danh ta trên dân Y-sơ-ra-ên như vầy, thì ta đây sẽ ban phước cho dân đó." (Dân Số Ký 6:24-27)

Chúng ta cần ghi nhớ sự tôn quý, cao trọng, và đầy dẫy vinh hiển của tên Chúa. Chúng ta cần phải sống trong danh Chúa, nghĩa là cẩn thận vâng giữ mọi điều Chúa dạy trong Thánh Kinh, sống một nếp sống phản chiếu sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, tức phản chiếu sự thánh khiết, nhân từ, và công chính của Ngài, thì chúng ta sẽ nhận được những phước hạnh đời đời của Đức Chúa Trời.

 

Huỳnh Christian Timothy
06/05/2007

 

Tham khảo

 

1. Walter A. Elwell, Baker Theological Dictionary of the Bible, Baker Book (1996)

2. Nathan Stone, Names of God, The Moody Bible Institute (1944)

3. James Strong, LL.D., S.T.D., The New Strong's Exhaustive Concordance of the Bible, Thomas Nelson Publisheers (1990)

Share This:

Danh tiếng tốt

1,636 views

Danh tiếng tốt của Cơ-đốc nhân

 

Thánh Kinh, trong Châm Ngôn 22:1a cho biết: "Danh tiếng tốt còn hơn tiền của nhiều."
Có nghĩa là: tiền bạc, vật chất không thể nào sánh bằng với danh tiếng tốt. Những người được tiếng tốt trong thế gian thường phải trả một cái giá để giữ vững nhân phẩm của mình, tạo ra danh tiếng tốt cho mình. Dầu vậy, không phải là họ xuất sắc, có tiếng tốt trong mọi lãnh vực, hay có thể giữ vững nhân phẩm trong mọi lãnh vực của đời sống. Hai mươi bốn người được ghi danh trong "Nhị thập tứ hiếu" là vì họ có lòng hiếu thảo vượt bực, bất chấp cảnh ngộ khó khăn, họ đã chu toàn bổn phận làm con, cho dù có những trường hợp cha mẹ đối xử bất công với họ. Tuy nhiên, khi xét qua một lãnh vực khác của đời sống, không chắc họ có được danh tiếng tốt như đã có trong lãnh vực hiếu thảo. Danh tiếng tốt trong thế gian, đến từ thế gian, vì thế, chỉ là một sự tương đối.

Chúng ta là con dân của Chúa, chúng ta không thuộc về thế gian (Giăng 15:19) cho nên danh tiếng tốt của chúng ta cũng không thuộc về thế gian và cũng không đến từ thế gian. Chúng ta không phải trả giá để được danh tiếng tốt, vì chính Đấng Christ đã trả giá cho chúng ta. Ngài đã trả bằng một giá rất đắc là dùng chính mạng sống của Ngài để phục hồi danh tiếng tốt cho chúng ta. Vì thế, danh tiếng tốt của chúng ta đến từ Chúa, được phục hồi bởi Chúa,  và là tuyệt đối, là thánh. Thánh Kinh chép rõ:

"Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà Vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài." (1 Phi-e-rơ 2:9)

"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men." (Khải Huyền 1:6)

Ở đây, chúng ta thấy các danh hiệu: "Thầy tế lễ nhà Vua", "Thầy tế lễ của Đức Chúa Trời", và "Dân Thánh", được chính Đấng Christ ban cho chúng ta qua sự Ngài rửa sạch tội lỗi của chúng ta bằng chính huyết của Ngài. Thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời cũng ban cho dân Israel danh hiệu "Thầy Tế Lễ" và "Dân Thánh":

"Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên." (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:6)

Nhìn vào sự ban cho của Đức Chúa Trời  đối với dân Israel, được ghi chép trong Thánh Kinh, mà chúng ta hiểu được sự ban cho của Đức Chúa Trời  đối với Hội Thánh ngày nay. Ngày xưa, dân Israel đã nhờ lễ Vượt Qua, chịu báp-tem dưới biển đỏ và dưới đám mây để trở thành một nước thầy tế lễ, một dân tộc thánh của Đức Chúa Trời (Phục Truyền Luật Lệ Ký 7:6; 14:2, 21; 28:9).

Trong lễ Vượt Qua, một chiên con, hoặc một dê con không tì vít bị giết, máu được bôi trên hai cột và mày cửa để thể hiện đức tin của dân Israel vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và hình bóng về sự đổ huyết chuộc tội cho toàn thể nhân loại của Đấng Christ. Bởi sự vâng phục của dân Israel mà Ngài đã giải cứu họ ra khỏi sự nô lệ thế gian, để làm thành một dân thuộc riêng về Ngài, thờ phượng Ngài, hầu việc Ngài, và vui hưởng phước hạnh trong Ngài (Xuất Ê-díp-tô-ký 12:1-28).

Thánh Kinh ví sự vượt qua biển Đỏ, và đi dưới đám mây của dân Israel là hình ảnh của lễ báp-tem (1 Cô-rinh-tô 10:2). Bước xuống biển Đỏ là hình ảnh lễ báp-tem bằng nước với ý nghĩa con người cũ ô uế, tội lỗi chết đi trong sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, như Ngài đã đoán phạt cả nhân loại trong thời Nô-ê. Ra khỏi biển Đỏ là hình ảnh của sự tái sinh, sống lại một con người mới trong Chúa. Đi dưới đám mây là hình ảnh lễ báp-tem bằng Thánh Linh, với ý nghĩa được Đức Thánh Linh thánh hóa và dẫn dắt trên hành trình đi về đất hứa.

Ngày nay, chúng ta nhận được danh hiệu "Thầy Tế Lễ", và "Dân Thánh" của Đức Chúa Trời khi chúng ta ăn năn tội và tin nhận sự đổ huyết chuộc tội của Đấng Christ. khi một người thật lòng ăn năn tội lỗi và tin nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình, người ấy thể hiện lòng ăn năn của mình qua lễ báp tem bằng nước, và Đấng Christ nhúng chìm người ấy vào trong Thánh Linh của Ngài, tức báp-tem cho họ bằng Thánh Linh, để khiến họ trở nên "Dân Thánh" và "Thầy Tế Lễ" của Đức Chúa Trời. Câu Thánh Kinh:

"Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy." (Giăng 1:12, 13)

Là nói đến sự tái sinh và sự báp-tem bằng Thánh Linh cho bất kỳ ai tin nhận Đấng Christ. Tái sinh là nhận được sự sống lại và sự sống đời đời trong Đấng Christ. Báp-tem bằng Thánh Linh là được nhúng chìm vào trong sự thánh khiết và quyền năng của Đức Thánh Linh. Sự báp-tem bằng Thánh Linh đi kèm với sự tái sinh, như sự sinh ra một người đi kèm theo năng lực của sự sống trong người đó. Được tái sinh mà không được nhúng chìm vào trong quyền năng của Đức Thánh Linh thì có khác gì một cái thai được sinh ra mà không có năng lực để hoạt động và tăng trưởng?

Điều kiện để được tái sinh (sống lại và sống đời đời), để nhận lãnh quyền phép của Đức Chúa Trời (được báp-tem bằng Thánh Linh), để trở nên con cái Đức Chúa Trời (Dân Thánh), để được hầu việc Ngài (chức tế lễ), là tin nhận Đấng Christ. Và một người chỉ thật sự tin nhận Đấng Christ khi người ấy công nhận mình là một tội nhân, thật lòng ăn năn tội, quyết tâm từ bỏ tội, tin nhận sự chết chuộc tội của Đấng Christ, và vâng giữ mọi điều Ngài đã truyền (Giăng 15:10).

Danh tiếng tốt của Cơ-đốc nhân là: "Dân Thánh" của Đức Chúa Trời; danh tiếng này nói lên phẩm chất của Cơ-đốc nhân. Những việc làm tốt đẹp thể hiện nhân phẩm của "Dân Thánh" được ghi trong Mười Điều Răn (Xuất Ê-díp-tô Ký 20; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5):

– Thờ lạy chỉ một mình Đức Chúa Trời;

– Không làm tượng, không thờ lạy hình tượng, và không hầu việc hình tượng;

– Không xúc phạm danh Chúa;

– Vâng giữ ngày Sa-bát thánh của Chúa;

– Hiếu kính cha mẹ;

– Không giết người;

– Không tà dâm;

– Không trộm cướp;

– Không làm chứng dối;

– Không tham lam.

Phẩm chất của "Dân Thánh" được ghi trong Ga-la-ti 5:22:

– Yêu thương,

– Vui mừng,

– Bình an,

– Nhịn nhục,

– Nhơn từ,

– Hiền lành,

– Trung tín,

– Mềm mại,

– Tiết độ;

mà không một luật pháp nào cấm cản những sự ấy!

Danh tiếng tốt của Cơ-đốc nhân còn là: "Thầy Tế Lễ của Nhà Vua", Thầy Tế Lễ của Đức Chúa Trời;" danh tiếng này nói lên các nhiệm vụ của Cơ-đốc nhân:

– Biệt riêng mình ra cho Chúa, giữ mình thánh khiết (2 Cô-rinh-tô 6:17; 1 Phi-e-rơ 1:15, 16);

– Thờ phượng Chúa bằng tâm thần và lẽ thật (Giăng 4:24);

– Dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Đức Chúa Trời (Rô-ma 12:1, 2);

– Cầu thay cho mọi người (1 Sa-mu-ên 12:23; Ê-phê-sô 6:18; 1 Ti-mô-thê 2:1);

– Sống cho Chúa và chết cho Chúa, không còn vì chính mình mà sống nữa nhưng để cho Đấng Christ sống trong chính mình (Rô-ma 14:7,8; Ga-la-ti 2:20).

 

Kết luận

 

Trong tác phẩm "Tâm Hồn Cao Thượng" có ghi lại lời khuyên của một người cha đối với con mình. Đại ý như sau: Ngày con chào đời, con đã cất vang tiếng khóc trong khi mọi người chung quanh đang mĩm cười chào đón con. Hãy sống sao cho đến ngày con lìa đời, mọi người chung quanh sẽ rơi lệ tiễn đưa con trong khi con mĩm cười giả biệt cuộc đời!

Chúng ta có thể áp dụng  sự dạy dỗ của lời khuyên nói trên vào trong sự sống đạo của chúng ta.

Nếu danh tiếng tốt đến từ thế gian đã là hơn tiền của nhiều thì danh tiếng tốt đến từ Đức Chúa Trời là quý báu đến dường nào? Chúng ta có thể lấy chi để so sánh với danh tiếng tốt mà Đức Chúa Trời  đã ban cho chúng ta trong Đấng Christ?

Chúng ta đã không làm gì để nhận lấy danh tốt từ nơi Đấng Christ, vì danh đó đã được ban cho chúng ta bởi ân điển của Chúa khi chúng ta tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài; nhưng chúng ta phải tiếp tục ở trong Chúa, và lời Chúa ở trong chúng ta, nghĩa là nghe và làm theo lời phán dạy của Chúa (Giăng 15:7; Ma-thi-ơ 6:21), nghĩa là trung tín với Chúa cho đến chết (Khải Huyền 2:10) để xứng đáng với danh xưng "Thầy tế lễ của nhà Vua", "Thầy tế lễ của Đức Chúa Trời", "Dân Thánh của Đức Chúa Trời."

Một ngày kia, khi chúng ta vào trong nước sáng láng của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ được nhận những danh mới. Đức Chúa Jesus hứa với những ai vâng giữ đạo Chúa, không chối bỏ danh Ngài, Ngài sẽ ban cho họ: Danh của Đức Chúa Trời, danh của thành Đức Chúa Trời, cùng danh mới của Ngài (Khải Huyền 3:12).

 

Huỳnh Christian Timothy
29/04/2007

Share This:

Khúc tình ca đau thương

1,595 views

1. Tiếng gọi của tình yêu (5:2)

"Tôi ngủ, nhưng lòng tôi tỉnh thức. Ấy là tiếng của lương nhơn tôi gõ cửa, mà rằng: Hỡi em gái ta, bạn tình ta, chim bò câu ta, kẻ toàn hảo của ta ơi, hãy mở cửa cho ta! Vì đầu ta đầy sương móc, lọn tóc ta thấm giọt ban đêm."

Ngủ là nhu cầu của thể xác. Cô gái đang ngủ nhưng lòng cô tỉnh thức vì lòng cô luôn hướng về người mình yêu; vì thế, khi nghe tiếng gỏ cửa của người yêu và lời kêu gọi của người yêu, cô liền nhận biết.

Trong cuộc sống của tín đồ Đấng Christ, chúng ta phải giải quyết những nhu cầu vật chất, nhưng lòng chúng ta luôn hướng về Đấng Christ. Mặc dù các nhu cầu của thể xác cần phải được giải quyết nhưng điều đó không trở ngại đến tình cảm trong linh hồn của chúng ta. Lời Chúa dạy chúng ta, dù sống giữa thế gian, dùng của thế gian, nhưng nên như kẻ chẳng dùng vậy, vì hình trạng thế gian nầy qua đi (1 Cô-rinh-tô 7:31). Chúa dạy chúng ta "hãy tỉnh thức" (Ma-thi-ơ 24:42) có nghĩa là hãy tỉnh thức trong linh hồn của chúng ta, đừng để cho những nhu cầu vật chất khiến cho chúng ta xao lãng mối tương giao giữa chúng ta với Chúa. Nhờ lòng tỉnh thức mà chúng ta nhận ra tiếng gỏ cửa của Chúa, nhận ra Chúa đang muốn tương giao với chúng ta, và nghe được những lời êm dịu của Ngài.

 

2. Lòng vị kỷ (5:3)

"Tôi đã cổi áo ngoài rồi, làm sao mặc nó lại? Tôi đã rửa chơn rồi, lẽ nào làm lấm lại?"

Nàng Sa-lu-mít trong Nhã Ca được người yêu đến thăm, trong một thời điểm bất ngờ và bất tiện. Có lẽ người yêu của nàng từ xa trở về, và đã nôn nóng đi suốt đêm trong gió sương… Đêm đã khuya, nàng đã rửa chân, đã cởi áo ngoài, đang ngủ… Bây giờ nghe tiếng gọi cửa của người yêu nàng chần chừ.

Chúa luôn luôn tôn trọng sự tự do lựa chọn của chúng ta. Ngài muốn tương giao với chúng ta, Ngài muốn ban phước cho chúng ta, nhưng chúng ta phải chủ động trong sự đón nhận Chúa và mọi ơn phước của Ngài. Bình thường, chúng ta dễ dàng bày tỏ lòng yêu kính Chúa nhưng khi phải trả giá để xác chứng tình yêu của mình, chúng ta thường thất bại. Bởi vì, thực tế phủ phàng cho thấy phần lớn trong chúng ta yêu chính mình hơn là yêu Chúa! Không phải chúng ta không yêu Chúa, nhưng là chúng ta không yêu Chúa đủ, chúng ta không yêu Chúa hơn yêu chính mình.

Khi Chúa hỏi Phi-e-rơ: "Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng?" Phi-e-rơ đã trả lời rằng: "Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa." Trong câu trả lời của Phi-e-rơ, ông đã xác nhận ông yêu Chúa hơn tất cả mọi sự và ông tin rằng Chúa biết tình yêu ông dành cho Chúa. Câu Chúa hỏi Phi-e-rơ cũng là câu Chúa hỏi mỗi một người muốn đi theo Chúa. Mác 8:34 chép như sau: "Đoạn, Ngài kêu dân chúng và môn đồ, mà phán rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta." Lời phán của Chúa không dành riêng cho một thành phần nào. Lời phán của Chúa dành cho bất kỳ ai muốn đi theo Chúa. Chúng ta chỉ có thể hoặc là không yêu Chúa, hoặc là hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà yêu Chúa hơn tất cả mọi sự, yêu Chúa hơn cả chính mạng sống của mình. Chúa không chấp nhận sự hâm hẫm, không nóng mà cũng không lạnh.

Đã bao nhiêu lần chúng ta chần chừ trước tiếng gọi yêu thương của Chúa? Đã bao nhiêu lần chúng ta bỏ qua sự nhóm lại thờ phượng Chúa, bỏ qua cơ hội tương giao với Chúa, bỏ qua cơ hội hầu việc Chúa? Đã bao nhiêu lần chúng ta phụ bạc tình yêu của Chúa? Chúa là trên hết trong đời sống của chúng ta hay là tiện nghi vật chất, hay là thú vui của đời này, hay là công ăn việc làm, hay là tình cảm của những người thân là trên hết trong đời sống chúng ta?

 

3. Cơ hội đã qua (5:4-6)

"4 Lương nhơn tôi thò tay vào lỗ cửa, lòng dạ tôi cảm động vì cớ người. 5 Tôi bèn chổi dậy đặng mở cửa cho lương nhơn tôi; Tay tôi nhỏ giọt một dược, và ngón tay tôi chảy một dược ròng trên nạm chốt cửa. 6 Tôi mở cửa cho lương nhơn tôi, nhưng người đã lánh đi khỏi rồi. Đương khi người nói lòng tôi mất vía. Tôi tìm kiếm người, nhưng không có gặp; Tôi gọi người, song người chẳng đáp."

Hành động thò tay vào lỗ cửa nói lên sự khắc khoải trong khi chờ đợi. Người yêu của nàng Sa-lu-mít gọi hoài không được nên thò tay vào lỗ cửa như muốn tìm cách để tự mình mở cửa, và cũng có thể là để rưới chất dầu thơm chàng mang đến tặng nàng, để nàng biết rằng chàng đã đến và đã chờ đợi. Hành động ấy khiến cho nàng cảm động và chỗi dậy để mở cửa. Tuy nhiên, cơ hội đã qua, người yêu của nàng Sa-lu-mít đã đi khỏi rồi. Câu "Đương khi người nói lòng tôi mất vía" có thể dịch là: "Đương khi người nói thì tôi không chú tâm."

Đối với rất nhiều con dân Chúa, ngày tháng trôi qua trong cuộc đời của chúng ta, Chúa đứng chờ khắc khoải ngoài cửa với tiếng gỏ và những lời yêu thương êm dịu nhưng chúng ta không chú tâm vì chúng ta có quá nhiều điều khác để bận tâm. Đến khi chúng ta quay lại với Chúa, thì Ngài đã lìa khỏi chúng ta rồi. Chứng tích tình yêu của Chúa vẫn còn lưu lại trong đời sống của chúng ta, nhưng chúng ta không còn tìm thấy Ngài nữa. Chúng ta kêu cầu Chúa, song Ngài chẳng đáp lời!

 

4. Nỗi oan (5:7)

"Kẻ canh tuần quanh thành gặp tôi, đánh tôi, và làm tôi bị thương; Các kẻ canh giữ vách thành cất lấy lúp khỏi tôi."

Trong cơn hối hận và bối rối, nàng Su-la-mít chạy ra đường phố mong bắt kịp người yêu, nhưng lại bị lính tuần tra và lính canh vách thành hiểu lầm nàng là phụ nữ xấu nết, bắt giữ và đánh đập. Theo phong tục của vùng Trung Đông, phụ nữ không thể nửa đêm lang thang một mình trên đường phố. Chỉ những phụ nữ xấu nết mới mạo hiểm vi phạm luật.

Có một lúc trong cuộc đời đi theo Chúa của chúng ta, khi chúng ta ý thức được Chúa đã ra khỏi đời sống của mình vì mình đã không yêu Chúa đủ để đáp lại tiếng gọi của Ngài, chúng ta sẽ mạo hiểm để tìm lại tình yêu ban đầu. Khi đó có thể chúng ta phải trả một giá rất đắt. Chúng ta sẽ bị hiểu lầm, bị làm nhục, bị mất mát nhiều thứ…

Cái giá phải trả lúc ban đầu để đi theo Chúa khi Chúa mời gọi chúng ta chắc chắn là nhẹ hơn cái giá chúng ta phải trả để tìm lại tình yêu ban đầu với Chúa, khi Ngài đã rời khỏi chúng ta vì tấm lòng hâm hẫm của chúng ta!

 

5. Tương tư (5:8)

"Hỡi các con gái Giê-ru-sa-lem, ta ép nài các ngươi, nếu gặp lương nhơn ta, khá nói với người rằng ta có bịnh vì ái tình."

Trong nỗi nhục nhã, đau thương, nàng Sa-lu-mít van nài các thiếu nữ của thành Giê-ru-sa-lem, nếu gặp được người yêu của nàng, hãy nói cho chàng biết rằng nàng "có bịnh vì ái tình".

Khi Chúa ra khỏi đời sống của chúng ta rồi chúng ta mới ý thức được là chúng ta cần Chúa biết là bao nhiêu. Chúa ra khỏi đời sống của chúng ta là vì chúng ta không hết lòng yêu kính Chúa, là vì chúng ta không đáp lại tiếng gọi của Chúa.

Khi chúng ta không còn cơ hội để đi nhóm họp thờ phượng Chúa, học lời Chúa, chúng ta mới hối tiếc những lúc chúng ta trể nãi trong sự nhóm lại hoặc bỏ qua sự nhóm lại.

 

Kết luận

Tình yêu Chúa dành cho chúng ta là một tình yêu tuyệt đối. Ngài đã yêu chúng ta hơn cả chính mình Ngài. Chúa muốn chúng ta đáp ứng Ngài cũng bằng một tình yêu tuyệt đối: "hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí" yêu Chúa (Lu-ca 10:27). Tình yêu tuyệt đối của chúng ta dành cho Chúa được bày tỏ qua sự vâng phục lời Chúa cách trọn vẹn (Giăng 14:21-24; 1 Giăng 5:3). Lý do duy nhất khiến chúng ta không đáp lại những lời kêu gọi của Chúa là vì chúng ta yêu chính mình hơn là yêu Chúa. Nếu chúng ta không hết lòng yêu Chúa, bỏ qua tiếng gọi của Chúa, sẽ đến một lúc chúng ta không còn gặp được Chúa. Khi đó, chúng ta phải trả một giá rất đắt để tìm lại sự tương giao với Ngài.

 

Huỳnh Christian Timothy
22/04/2007

Share This:

Nếu Đức Chúa Jesus không sống lại… (2)

1,640 views

 

Thánh Kinh: 1 Cô-rinh-tô 15


"Lại nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích. Và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình."
(1 Cô-rinh-tô 15:14, 17)
 


Dẫn nhập 

Thời gian gần đây, những người vô tín tung ra các sách báo, phim ảnh, và tin tức, rằng: Chúa Jesus có con với Ma-ri Ma-đờ-len, và dòng dõi của Chúa còn lưu truyền cho đến hôm nay; rằng: vừa tìm thấy chỗ chôn Chúa và trong đó vẫn còn hài cốt của Ngài; gần đây nhất, ngay trong mùa kỷ niệm Chúa Phục Sinh, ngày 4 tháng 4 vừa qua, một mục sư thuộc giáo hội Anh Giáo, tên là Jeffrey John (một người đồng tính luyến ái) giảng trên đài BBC [1], rằng: Sự giảng dạy truyền thống của Cơ-đốc Giáo về việc Đấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá vì tội lỗi của nhân loại là "gớm ghiếc", "điên khùng", và khiến cho "Đức Chúa Trời giống như một kẻ bệnh tâm thần".

Đọc Tiếp →

Share This:

Nếu Đức Chúa Jesus không sống lại…

1,625 views

I. Những lẽ thật và nguyên tắc của Tin Lành

 

Chúng ta đều biết, Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời bao gồm những lẽ thật và nguyên tắc sau đây:

 

1. Lẽ thật:

          – Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, Ngài đã dựng nên trời đất và muôn vật, trong đó có loài người. (Sáng Thế Ký 1 và 2)

          – Đức Chúa Trời dựng nên loài người theo như hình ảnh của Ngài để làm con của Ngài và cai trị đất cùng muôn vật trên đất. (Sáng Thế Ký 1:26-28; Lu-ca 3:38)

          – Loài người đã phạm tội không vâng phục Đức Chúa Trời, hành động đó gọi là tội lỗi. Tội lỗi lan truyền đến tất cả mọi người, mang đau khổ và sự chết vào trong thế gian. (Sáng Thế Ký 3; Rô-ma 3:23; 5:12-21)

          – Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, không muốn một ai đau khổ và chết mất nên đã ban cho loài người ơn cứu rỗi. (Giăng 3:16; 2 Ti-mô-thy 2:4)

          – Đức Chúa Jesus Christ là đường đi, lẽ thật, và sự sống (Giăng 14:6). Ngài chịu đau đớn và chịu chết trên thập tự giá vì tội lỗi của nhân loại để nhân loại được cứu ra khỏi tội lỗi và sự chết. (Hê-bơ-rơ 9:11-28)

          – Dưới trời không có một danh nào khác ban cho loài người để loài người nhờ vào đó mà được cứu rỗi. (Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12)

          – Những ai tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ sẽ được ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời, được tái sinh và sống đời đời với Đức Chúa Trời trong hạnh phúc. (Giăng 1:12, 13; 3:16; 11:25, 26; Khải Huyền 21, 22:1-5)

 

2. Nguyên tắc:

Muốn nhận được Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời một người phải theo đúng các nguyên tắc sau đây:

          thật sự ăn năn tội lỗi của mình. Ăn năn tội có nghĩa: (1) công nhận mình là một tội nhân (1 Giăng 1:8), đã có những ý nghĩ, lời nói, việc làm ngược lại luật đạo đức của Đức Chúa Trời đã ghi khắc trong lương tâm loài người (Rô-ma 1:18-32), và trên hết, là không biết tôn thờ Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng mình mà lại thờ lạy các hình tượng do tay loài người tạo ra (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-17); (2) thật sự muốn từ bỏ tội lỗi. (Ma-thi-ơ 4:17)

          – thật sự tin nhận Đức Chúa Jesus là Cứu Chúa. Tin rằng Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 16:16): (1) đã nhập thế làm người để gánh lấy hình phạt cho tội lỗi của toàn thể nhân loại qua cái chết của Ngài trên thập tự giá (Phi-líp 2:6-8; Hê-bơ-rơ 9:28); (2) đã sống lại từ trong sự chết.

          – công khai tuyên xưng đức tin. Lòng tin nhận Đức Chúa Jesus là Cứu Chúa cần được tuyên xưng. Đó là lời dạy của Đức Thánh Linh: "Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi." (Rô-ma 10:9, 10)

Muốn tiếp tục ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho đến ngày Đức Chúa Jesus Christ hiện ra ban sự cứu rỗi ấy (Hê-bơ-rơ 9:28; 1 Phi-e-rơ 1:5), một người phải:

          – Kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Bỏ đi nếp sống cũ tội lỗi, vốn nuông chìu theo tư dục của xác thịt để sống một nếp sống mới thánh khiết bởi Thánh Linh trong sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh (Rô-ma 6-8, Ga-la-ti 5); đó là một đời sống kết quả với sự ăn năn (Ma-thi-ơ 3:8; Lu-ca 3:8; Rô-ma 6:22; 7:4). Một người không kết quả xứng đáng thì sẽ bị Đức Chúa Trời loại bỏ. (Giăng 15:2; 6).

Một đời sống kết quả xứng đáng với sự ăn năn là một đời sống trĩu đầy trái của Đức Thánh Linh: "Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ" (Ga-la-ti 5:22). Một đời sống kết quả trong Chúa là một đời sống nên thánh, nghĩa là đã được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời, như Đức Thánh Linh đã cậy Phao-lô viết ra như sau: "Vả, chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết; vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả." (Rô-ma 14:7, 8) Và, Phao-lô đã sống đúng theo lời dạy của Đức Thánh Linh: "Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi." (Ga-la-ti 2:20). Thánh Kinh chép: "vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời." (Hê-bơ-rơ 12:4)

          – Trung tín cho đến chết. Nghĩa là sẵn lòng chịu khổ vì danh Chúa cho đến chết: "Đoạn, Ngài phải cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.  Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu" (Lu-ca 9:23, 24). "Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống." (Khải Huyền 2:10)

 

II. Nếu Đức Chúa Jesus không sống lại…

 

1. Sự giảng dạy Tin Lành trở thành luống công:

Chữ luống công trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là: Trống không, không có thật. Nếu Đức Chúa Jesus không sống lại thì sự giảng dạy Tin Lành sẽ trở thành luống công, chẳng khác gì một người rao bán hàng, giới thiệu những nét độc đáo và sự công dụng của món hàng, nhưng khi có người muốn mua hàng thì không có hàng để bán.

Vì sự giảng dạy của Tin Lành đặt trên lẽ thật: hễ ai ăn năn tội và tin nhận Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời thì được tha tội, được làm cho sạch tội, được sống lại, và được sống đời đời, cho nên, nếu Đức Chúa Jesus không sống lại thì những ai tin Ngài cũng không thể nào được sống lại, mà đã không được sống lại thì không thể nhận được sự sống đời đời. Và như vậy, những điều được rao giảng về Tin Lành chỉ là dối trá.

2. Đức tin chúng ta vào Tin Lành trở thành vô ích:

Nếu sự rao giảng Tin Lành trở thành luống công thì đức tin của người tin vào Tin Lành cũng trở thành vô ích, giống như người mua hàng tin vào lời quảng cáo của người bán hàng, nhưng món hàng không có thật. Đức tin dù có chân thành và mãnh liệt đến đâu nhưng nếu điều chúng ta tin không có thật thì đức tin đó chỉ là vô ích mà thôi.

3. Chúng ta vẫn còn ở trong tội lỗi mình:

Và, nếu Đức Chúa Jesus không sống lại thì toàn thể nhân loại vẫn còn ở trong tội lỗi. Tin Lành là Con Một của Đức Chúa Trời đã nhập thế làm người để chết thay cho tội lỗi của toàn thể nhân loại hầu cho toàn thể nhân loại được tha tội và được sạch tội. Nếu Đức Chúa Jesus là Con của Đức Chúa Trời thì Ngài là Đấng vô hạn, Ngài có thể chết, nhưng sự chết không cầm quyền trên Ngài. Vì thế, nếu Đức Chúa Jesus không sống lại thì Ngài không phải là Con Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Jesus không phải là Con Đức Chúa Trời thì Ngài không thể gánh thay tội lỗi cho toàn thể nhân loại.

Một thiên sứ vô tội có thể chết thay cho một tội nhân nhưng không thể chết thay cho toàn thể nhân loại. Và, dầu cho có một thiên sứ chết thay cho một tội nhân, thì sau khi chết thay, thiên sứ đó không thể sống lại, vì sự sống của thiên sứ ấy là hữu hạn, vì thiên sứ cũng là loài thọ tạo, không có quyền trên sự sống và sự chết. Nhưng Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời mang cùng một bản thể với Đức Chúa Trời cho nên Ngài cũng chính là Đức Chúa Trời (Giăng 1:1), là Đấng vô hạn, là nguồn của sự sống, cầm quyền trên sự sống và sự chết. Chỉ có một Đấng vô hạn mới có thể chết thay cho và cứu chuộc toàn thể loài người hữu hạn, và chỉ có Đấng vô hạn, nguồn của sự sống mới cầm quyền trên sự chết, cho nên dù có chết, Ngài vẫn chiến thắng quyền lực của sự chết bằng chính sự sống của Ngài.

Sự sống lại của Đức Chúa Jesus là chứng cớ vững chắc Ngài là Con của Đức Chúa Trời, là Đấng Christ đã đến thế gian: để giãi bày Cha cho nhân loại; để cầu thay cho tội lỗi của nhân loại và dâng chính mình làm sinh tế chuộc tội cho nhân loại; để cai trị và ban quyền cai trị cho những ai tin nhận Ngài.

Ngài có thể chết nhưng Ngài có quyền trên sự chết. Ngài chịu chết thay cho toàn thể nhân loại để thỏa mãn tình yêu và sự công chính của Đức Chúa Trời: Tội lỗi của loài người phải bị trừng phạt, nhưng Đức Chúa Trời không muốn cho một người nào bị chết mất (nghĩa là: "bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài." 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9); và như vậy, hễ ai tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì phải được tha tội, được sạch tội, được sống lại, và được sống đời đời.

 

Kết luận

 

Tất cả những ai thật sự ăn năn tội, tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ đều được tái sinh và kinh nghiệm được sự sống mới trong Đấng Christ (Giăng 1:12, 13; 2 Cô-rinh-tô 5:17). Chính sự tiêu tan mặc cảm tội lỗi (1 Giăng 1:9), sự bình an phước hạnh trong mọi cảnh ngộ của đời sống (Giăng 14:27), năng lực làm được điều lành, thắng được điều ác (Phi-líp 4:13), và tiếng của Đức Thánh Linh trong lòng của người được tái sinh (Giăng 16:13) là ấn chứng cho những lẽ thật của Thánh Kinh. Lẽ thật trọng đại nhất của Thánh Kinh nằm trong lời phán của Đức Chúa Jesus Christ: "Ta là sự sống lại và sự sống: Kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi; còn ai sống và tin ta thì không hề chết!" (Giăng 11:25, 26). Và câu hỏi của Đức Chúa Jesus Christ gần hai ngàn năm qua vẫn vang vọng trong lòng mỗi người: "Ngươi tin điều đó chăng?"

 

Huỳnh Christian Timothy
08/04/2007

 

[1] Christianity's traditional teaching on Christ's crucifixion for the sins of mankind is "repulsive," "insane" and makes "God sound like a psychopath." http://worldnetdaily.com/news/article.asp?ARTICLE_ID=54974

Share This:

Điều Răn: Hãy Nhớ Ngày Nghỉ…

2,876 views

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe


Phần 1
Phần 2

Phần 3

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống

https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/sets/103_giaouocdieuranluatphap

I. Nguồn gốc và ý nghĩa của ngày Sa-bát

Theo nguyên tác Hebrew của Thánh Kinh, chữ “ngày nghỉ” trong điều răn thứ tư là “ngày Sa-bát”, và Sa-bát có nghĩa là ngưng làm việc, ngưng lao động. Sa-bát không có nghĩa là nghỉ ngơi để lấy sức như vẫn thường bị lầm tưởng, mà chỉ đơn giản có nghĩa là ngưng làm việc, ngưng làm một điều gì đó vì đã hoàn tất hoặc vì không muốn tiếp tục làm. Khi được hiểu đúng nghĩa như vậy, thì sẽ không gây ra sự thắc mắc là tại sao Đức Chúa Trời lại cần phải nghỉ ngơi để lấy sức!

Sáng Thế Ký 2:3 và Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11 cho chúng ta biết Đức Chúa Trời “ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh” cho nên ngày Sa-bát, hay ngày nghỉ chính là ngày thứ bảy trong tuần lễ. Đức Chúa Jesus cho biết “Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người” (Mác 2:27).

Như vậy, chúng ta có thể kết luận như sau: Ngày Sa-bát được chính Đức Chúa Trời dựng nên trong công trình sáng tạo trời đất. Ngày Sa-bát được thiết lập trước khi điều răn và luật pháp được ban hành. Ngày Sa-bát là ngày thứ bảy trong tuần lễ. Ngày Sa-bát được Đức Chúa Trời ban phước và đặt làm ngày thánh, tức là một ngày biệt riêng ra. Ngày Sa-bát có nghĩa là ngày nghỉ làm việc. Ngày Sa-bát được dựng nên vì loài người, cũng như trời đất và muôn vật được dựng nên vì loài người.

Xét về ý nghĩa thuộc linh, ngày Sa-bát là hình ảnh của sự yên nghỉ đời đời trong Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 4:1-11). Khải Huyền 14:13 nói đến sự yên nghỉ của những người chết trong Chúa.

 

II. Mối tương quan giữa ngày Sa-bát và mười điều răn

Thánh Kinh ghi chép lại mười điều răn Đức Chúa Trời ban truyền cho dân Israel. Mười điều răn đó là giao ước giữa Đức Chúa Trời với dân Israel:

“Môi-se ở đó cùng Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mười đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước; Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là mười điều răn.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28)

Điều răn thứ tư trong mười điều răn là:

“Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8)

Nếu xét tổng quát về nội dung và ý nghĩa  của mười điều răn, chúng ta sẽ thấy ba điều răn đầu tiên nói đến bổn phận của loài người đối với Đức Chúa Trời, là Đấng tạo dựng nên họ và giải cứu họ. Sáu điều răn sau cùng nói đến bổn phận của loài người đối với nhau. Riêng điều răn thứ tư vừa là bổn phận của loài ngườ đối với Đức Chúa Trời vừa là bổn phận của loài người đối với chính mình. Đối với Đức Chúa Trời, ngày thứ bảy được biệt riêng (làm ngày thánh) để loài người tương giao với Chúa và thờ phượng Ngài một cách đặc biệt. Đối với loài người, ngày thứ bảy họ được nghỉ làm việc, được tạm gác những sự khó nhọc trong đời sống lại để nhận lấy ơn phước đặc biệt Chúa ban trong sự gần gũi tương giao với Chúa, và với nhau. Vì thế cho nên Đức Chúa Jesus mới phán “vì loài người mà lập ngày Sa-bát”.

Điều quan trọng là, ngày Sa-bát đã được thiết lập từ buổi sáng thế, và khi Đức Chúa Trời kết giao ước với dân Israel thì Ngài biến sự giữ ngày Sa-bát thành một giao ước và một dấu hiệu để biệt riêng dân Israel với các dân khác:

“Phần ngươi, hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nhất là các ngươi hãy giữ ngày Sa-bát ta, vì là một dấu giữa ta và các ngươi, trải qua mọi đời, để thiên hạ biết rằng ta, là Đức Giê-hô-va, làm cho các ngươi nên thánh.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:13)

 

III. Ngày Sa-bát và Cơ-đốc nhân

Xưa nay có nhiều cuộc tranh luận thần học về việc Cơ-đốc nhân có cần giữ ngày Sa-bát hay không.

Quan điểm thứ nhất cho rằng Cơ-đốc nhân không cần phải tuân giữ ngày Sa-bát vì mười điều răn thuộc về giao ước cũ giữa Đức Chúa Trời và dân Israel. Những người bảo vệ quan điểm này dùng những câu Thánh Kinh sau đây để chứng minh tín đồ không còn bị luật pháp ràng buộc:

“Nhưng bây giờ chúng ta đã chết về luật pháp, là điều bắt buộc mình, thì được buông tha khỏi luật pháp đặng hầu việc Đức Chúa Trời theo cách mới của Thánh Linh, chớ không theo cách cũ của văn tự.” (Rô-ma 7:6)

“Vì vậy, chớ có ai đoán xét anh em về của ăn uống, hoặc ngày lễ, hoặc ngày mặt trăng mới, hoặc ngày Sa-bát.” (Cô-lô-se 2:16)

Quan điểm thứ hai cho rằng Cơ-đốc nhân vẫn phải tuân giữ mười điều răn trong đó có điều răn giữ ngày Sa-bát; không giữ ngày Sa-bát là vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời và là dấu hiệu của sự bội đạo.

Chúng ta hãy dựa vào lời Chúa là Thánh Kinh và sự soi dẫn của Đức Thánh Linh để tìm hiểu lẽ thật.

Đức Thánh Linh, qua tác giả của Thi Thiên 119, khẳng định các điều răn của Đức Chúa Trời là chân thật và còn đến đời đời:

“Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài ở gần; Các điều răn Ngài là chân thật. Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời.” (Thi Thiên 119:151, 152)

Đức Chúa Jesus khẳng định luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời không hề thay đổi: 

“Đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được. Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong nước thiên đàng.” (Ma-thi-ơ 5:18, 19)

Đức Chúa Jesus phán rằng có nhiều người nghe theo truyền khẩu của loài người mà phạm điều răn của Đức Chúa Trời:

“Ngài đáp rằng: Còn các ngươi sao cũng vì cớ lời truyền khẩu mình mà phạm điều răn của Đức Chúa Trời?” (Ma-thi- ơ 15:3)

Đức Thánh Linh, qua Sứ Đồ Phao-lô răn dạy Hội Thánh phải tuân giữ điều răn của Đức Chúa Trời cho đến ngày Đấng Christ hiện ra:

“Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.” (1 Ti-m ô-th ê 6:14)

Đức Thánh Linh, qua Sứ Đồ Giăng, cho biết lòng yêu mến Đức Chúa Trời của chúng ta thể hiện qua sự chúng ta vâng giữ điều răn của Ngài:

“Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề.” (1 Giăng 5:3)

Như vậy, rõ ràng là Cơ-đốc nhân có bổn phận phải vâng giữ mọi điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời như đã chép trong Thánh Kinh. Thế thì, chúng ta hiểu làm sao về những câu Thánh Kinh trong Rô-ma 7:4-6 và Cô-lô-se 2:16? Thiết tưởng Ga-la-ti 5:4 sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề cho chúng ta;

“Anh em thảy đều muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình, thì đã lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển rồi.”

Phao-lô viết thư quở trách Hội Thánh Ga-la-ti không phải vì họ sống đời sống tốt đẹp, vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, nhưng ông quở trách họ vì họ cậy vào việc vâng giữ các điều răn của Chúa để được cứu rỗi! Nội dung chính của thư Ga-la-ti lên án việc nhờ cậy việc làm công đức để được cứu rỗi; nhưng trong đoạn năm, Phao-lô khuyên Hội Thánh Ga-la-ti phải bước theo Thánh Linh, trừ bỏ các việc làm tội lỗi của xác thịt, nghĩa là phải sống theo điều răn của Đức Chúa Trời.

Phân đoạn Rô-ma 7:6 nói đến việc Cơ-đốc nhân được thoát khỏi món nợ đã gây ra đối với luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời, nhưng không có nghĩa là luật pháp và điều răn không còn, vì “luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành” (Rô-ma 7:12). Một người bị luật pháp nhốt tù vì vi phạm luật pháp, khi được trả tự do vì có người khác tình nguyện gánh thay hình phạt, không có nghĩa là người ấy có quyền vi phạm luật pháp. Luật pháp vẫn còn đó, nhưng người ấy không còn bị chế tài bởi luật pháp, vì sự phạm pháp của người ấy đã có người gánh thế. Nếu người ấy lại phạm pháp, thì lập tức sẽ bị luật pháp chế tài. Sự tự do chúng ta có trong Chúa là sự thoát khỏi hình phạt của luật pháp và được ban cho Thánh Linh để chúng ta có thể vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời.

Cô-lô-se 2:16 khuyên Cơ-đốc nhân chớ để cho bất kỳ ai đoán xét mình về những nghi lễ của Do-thái Giáo, đặc biệt chớ để cho ai xét đoán mình về việc giữ ngày Sa-bát. Điều này không có nghĩa là Cơ-đốc nhân không cần giữ ngày Sa-bát, nhưng Cơ-đốc nhân giữ ngày Sa-bát theo đúng ý nghĩa Chúa dạy chứ không giữ theo lối hình thức và truyền khẩu của người Pha-ri-si. Đức Chúa Jesus là tấm gương sáng cho chúng ta về việc chớ để bất kỳ ai xét đoán chúng ta về việc giữ ngày Sa-bát theo tiêu chuẩn và luật lệ do loài người đặt ra.

Là tín đồ của Đấng Christ, chúng ta không bị ràng buộc phải làm một điều gì đó để được cứu rỗi, ngoại trừ thật lòng ăn năn tội và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Một người thật sự ăn năn tội là một người dứt khoát không muốn sống trong tội, không muốn phạm tội. Khi chúng ta thật sự ăn năn tội và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì Ngài tái sinh chúng ta. Tái sinh có nghĩa là Đức Chúa Trời tái tạo dựng chúng ta thành một tạo vật mới (2 Cô-rinh-tô 5:17) bởi quyền năng của Đức Thánh Linh (Giăng 1:13; 3:5, 6) và ban cho chúng ta Thánh Linh để chúng ta có thể sống một đời sống mới “vừa muốn, vừa làm theo ý tốt Ngài” (Phi-líp 2:13), bởi sự thêm sức của Ngài (Phi-líp 4:13). Vì thế, tín đồ của Đấng Christ không vâng giữ điều răn và luật pháp để được cứu rỗi, nhưng vâng giữ điều răn và luật pháp của Chúa vì đó là bản chất của một người được dựng nên mới trong Chúa. Một người chân thật yêu kính Chúa, sống cho Chúa sẽ luôn luôn vâng giữ tất cả những gì học được từ trong lời Chúa, là Thánh Kinh.

Chúng ta không vâng giữ điều răn và luật pháp để được cứu, nhưng chúng ta được cứu để sống theo, để vui thỏa điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Đó cũng là ý nghĩa của câu phán: “Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn” (Ma-thi-ơ 5:17).

Chúng ta cũng cần biết thêm là, Tiên Tri Ê-sai và Tiên Tri Ê-xê-chi-ên đã tiên tri trước trong một ngàn năm bình an, ngày Sa-bát và các nghi thức tế lễ sẽ được tái lập. Và, dân sự trên đất, không riêng gì dân Israel, sẽ thờ phượng Chúa trong những ngày Sa-bát:

“Đức Giê-hô-va phán: Từ ngày trăng mới nầy đến ngày trăng mới khác, từ ngày Sa-bát nọ đến ngày Sa-bát kia, mọi xác thịt sẽ đến thờ lạy trước mặt ta.” (Ê-sai 66:23)

“Những ngày Sa-bát và ngày trăng mới, dân sự của đất sẽ thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va nơi lối vào hiên cửa ấy.” (Ê-xê-chi-ên 46:3)

IV. Nguyên tắc giữ ngày Sa-bát

– Ngày Sa-bát là ngày thứ bảy trong tuần (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:9-10)

– Mọi người và cả súc vật không làm việc trong ngày Sa-bát (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:10; Lê-vi Ký 23:3; Phục Truyền Lật Lệ Ký 5:14)

– Không mua bán trong ngày Sa-bát (Nê-hê-mi 10:31; 13:15-17)

– Không mang vác nặng trong ngày Sa-bát (Nê-hê-mi 13:19; Giê-rê-mi 17:21)

– Nhóm họp để thờ phượng Chúa trong ngày Sa-bát (Lê-vi Ký 23:3; Ma-thi-ơ  12:5; Giăng 7:23)

– Dâng hiến cho Chúa trong ngày Sa-bát (Dân Số Ký 28:9-10)

– Giảng đạo trong ngày Sa-bát (Lu-ca 4:31; 6:6; Công Vụ Các Sứ Đồ 13:14, 15, 44; 17:2; 18:4)

– Đọc lời Chúa trong ngày Sa-bát (Công Vụ Các Sứ Đồ 13;27; 15:21)

– Làm việc thiện trong ngày Sa-bát (Ma-thi-ơ 12:12; 13:16; Giăng 9:14)

– Được phép giải quyết những nhu cầu thiết thực như ăn uống, bảo vệ tài sản trong lúc cấp bách (Ma-thi-ơ 12:1; Lu-ca 13:15; 14:1)

 

V. Phước hạnh của sự giữ ngày Sa-bát

“1 Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy giữ điều chánh trực, và làm sự công bình; vì sự cứu rỗi của ta gần đến, sự công bình của ta sắp được bày tỏ. 2 Phước thay cho người làm điều đó, và con người cầm vững sự đó, giữ ngày Sa-bát đặng đừng làm ô uế, cấm tay mình không làm một điều ác nào! 3 Người dân ngoại liên hiệp cùng Đức Giê-hô-va chớ nên nói rằng: Đức Giê-hô-va chắc sẽ biệt ta ra khỏi dân Ngài. Kẻ hoạn cũng chớ nên nói rằng: Nầy, ta là cây khô. 4 Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Những kẻ hoạn hay giữ các ngày Sa-bát ta, lựa điều đẹp lòng ta, cầm vững lời giao ước ta, 5 thì ta sẽ ban cho họ tại trong nhà ta và trong tường ta một chỗ, và một danh tốt hơn danh của con trai con gái; ta lại sẽ ban cho họ một danh đời đời chẳng hề dứt đi. 6 Các người dân ngoại về cùng Đức Giê-hô-va, đặng hầu việc Ngài, đặng yêu mến danh Đức Giê-hô-va, đặng làm tôi tớ Ngài; tức là hết thảy những kẻ giữ ngày Sa-bát cho khỏi ô uế, và cầm vững lời giao ước ta, 7 thì ta sẽ đem họ vui mừng trong nhà cầu nguyện ta. Của lễ thiêu và hi sinh họ dâng trên bàn thờ ta, sẽ được nhận lấy; vì nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.” (Ê-sai 56:1-7)

“13 Nếu ngươi ngừa giữ chơn mình trong ngày Sa-bát, không làm vừa ý mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, coi người thánh của Đức Giê-hô-va là đáng kính; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình, 14 bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích, ta sẽ làm cho ngươi cỡi lên các nơi cao trên đất, và lấy sản nghiệp của Gia-cốp, tổ phụ ngươi, mà nuôi ngươi; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy.” (Ê-sai 58:13, 14)

 

Kết luận

Cơ-đốc nhân không giữ ngày Sa-bát hay các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời để được sự cứu rỗi, nhưng Cơ-đốc nhân giữ ngày Sa-bát cùng các điều răn và luật pháp của Chúa vì yêu mến Chúa, hiểu biết lời Chúa, vâng theo ý Chúa. Không giữ ngày Sa-bát có thể không khiến cho một người mất đi sự cứu rỗi, nhưng chắc chắn là người đó sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng:

“Đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được. Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong nước thiên đàng.” (Ma-thi-ơ 5:18, 19)

Huỳnh Christian Timothy
01/04/2007
 

 

Share This:

Lấy danh Chúa làm chơi

1,999 views

I. Lấy danh Chúa làm chơi trong sự thề

 Thề là một đặc điểm trong quan hệ xã hội giữa loài người với nhau, giữa loài người với thần tượng, và giữa loài người với Đức Chúa Trời. Thề là hứa một cách nghiêm trọng với lòng chân thật rằng mình sẽ làm hay sẽ không làm một điều gì, hoặc tuyên bố một cách nghiêm trọng với lòng chân thật rằng mình đã làm hay không hề làm một điều gì. Để chứng tỏ sự nghiêm trọng và chân thành của một lời thề, ngưòi ta thường nhân danh một bậc cao trọng hơn mình để thề. Thánh Kinh ghi lại nhiều lời thề nhân danh Đức Chúa Trời. Lời thề đầu tiên giữa loài người với nhau được ghi lại trong Thánh Kinh là lời thề của Áp-ra-ham với vua Sô-đôm (Sáng Thế Ký 14). Vua Sô-đôm bị thất trận, nhờ Áp-ra-ham giải cứu và thu về các tài vật đã bị quân giặc cướp đi. Để tỏ lòng cảm kích, vua Sô-đôm giao nộp hết các tài vật thu về được cho Áp-ra-ham, nhưng Á-ra-ham đã khẳng khái từ chối và nhân danh Đức Giê-hô-va để tuyên bố rằng ông sẽ không lấy bất kỳ một món vật nào của vua Sô-đôm:

"Áp-ram đáp lại rằng: Tôi giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí cao, Chúa Tể của trời và đất, mà thề rằng: Hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề lấy; e vua nói được rằng: Nhờ ta làm cho Áp-ram giàu có." (Sáng Thế Ký 14:22, 23)

Trong một trường hợp khác, Vua A-bi-mê-léc nhìn thấy Đức Chúa Trời ở cùng Áp-ra-ham nên kiêng sợ và đòi Áp-ra-ham nhân danh Đức Chúa Trời để thề rằng Áp-ra-ham sẽ không gạt vua và dòng giống của vua:

"Vậy bây giờ, hãy chỉ danh Đức Chúa Trời mà thề rằng: Ngươi sẽ chẳng gạt ta, con ta cùng dòng giống ta. Nhưng ngươi sẽ đãi ta và xứ ngươi đương trú ngụ, một lòng tử tế như ta đã đãi ngươi vậy.  Áp-ra-ham đáp rằng: Tôi xin thề." (Sáng Thế Ký 14:23, 24)

Sự nhân danh Đức Giê-hô-va để thề được chính Ngài cho phép. Trường hợp điển hình được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 22:10, 11:

"Nhược bằng người nào giao lừa, bò, chiên, hoặc súc vật nào khác cho kẻ lân cận mình giữ và bị chết, gãy một giò hay là bị đuổi đi, không ai thấy, thì hai đàng phải lấy danh Đức Giê-hô-va mà thề, hầu cho biết rằng người giữ súc vật có đặt tay trên tài vật của kẻ lân cận mình chăng. Người chủ con vật phải nhận lời thề, và người kia chẳng bồi thường."

Nhưng Chúa cũng cảnh cáo:

"Các ngươi chớ chỉ danh ta mà thề dối, vì ngươi làm ô danh của Đức Chúa Trời mình: Ta là Đức Giê-hô-va." (Lê-vi Ký 19:12)

Chính Đức Chúa Trời cũng nhân danh của Ngài khi thề ban phước cho Áp-ra-ham:

"Đức Giê-hô-va phán rằng: Vì ngươi đã làm điều đó, không tiếc con ngươi, tức con một ngươi, thì ta lấy chánh mình ta mà thề rằng: sẽ ban phước cho ngươi, thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời, đông như cát bờ biển, và dòng dõi đó sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch. Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta, nên các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước." (Sáng Thế Ký 22:16-18)

Ngài chỉ sự hằng sống của Ngài khi thề đoán phạt dân Israel:

"Hãy nói với dân chúng: Đức Giê-hô-va nói rằng: Ta chỉ sự hằng-sống ta mà thề, ta sẽ đãi các ngươi tùy theo lời ta đã nghe các ngươi nói." (Dân Số Ký 14:28)

Thánh Kinh giải thích về sự Đức Chúa Trời nhân danh chính Ngài mà thề như sau:

"Khi Đức Chúa Trời hứa cùng Áp-ra-ham, và vì không thể chỉ Đấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình Ngài mà thề với người." (Hê-bơ-rơ 6:13)

Khi một người nhân danh Chúa để thề mà không giữ trọn lời thề của mình thì người ấy đã lấy danh Chúa mà làm chơi. Ngày chúng ta tin nhận Chúa, ngày chúng ta chịu lễ báp-tem, và mỗi khi chúng ta dự tiệc thánh, là chúng ta đã nhân danh Chúa mà thề dâng hiến lòng mình cho Chúa, dâng hiến đời sống mình cho Chúa, tuyên bố chịu chết đi con người cũ và sống lại một con người mới trong Chúa, hứa sẽ rao truyền sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến. Vì thế, khi chúng ta để cho bất cứ một điều gì làm chủ lòng mình thay vì Chúa, từ sự ham mến vật chất của thế gian, sự yêu chuộng một người nào, cho đến sự kiêu ngạo… là chúng ta đã lấy danh Chúa làm chơi. Vì thế, khi chúng ta hành xử theo bản tính cũ thuộc về xác thịt: tà dâm, ganh ghét, hận thù, tham lam, dối trá, kiêu ngạo, xấc xược, bất kính hoặc không chăm sóc cha mẹ, không thương xót, mê ăn uống… là chúng ta đã lấy danh Chúa làm chơi. Vì thế, khi chúng ta không rao truyền sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến, nghĩa là không rao giảng Tin Lành của Chúa là chúng ta đã lấy danh Chúa làm chơi.

Vì "thề" có nghĩa là hứa hoặc công bố, cho nên khi chúng ta hứa hoặc công bố trong danh Chúa là chúng ta đã nhân danh Chúa để thề. Chúng ta làm lễ báp-tem trong danh Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta dự tiệc thánh trong danh Đấng Christ. Nếu chúng ta không sống đúng với lời hứa hoặc lời công bố trong danh Chúa, là chúng ta đã lấy danh Chúa làm chơi. Nói cách khác, một tín đồ sống trong tội lỗi là một tín đồ đang lấy danh Chúa làm chơi. 

II. Lấy danh Chúa làm chơi trong sự đùa giỡn, rủa sả, vô cớ gọi danh Chúa

Có nhiều người, kể cả những người trong hàng ngũ lãnh đạo Hội Thánh, đặc biệt là những người làm mục vụ qua các phương tiện truyền thông như sách, báo, phim, ảnh… đã đem danh Chúa, đem các chức vụ thánh Chúa đặt ra trong Hội Thánh như chức vụ chăn bầy, chức vụ truyền giáo…, hoặc đem cả lời Chúa ra để làm trò mua vui mà không biết rằng mình đang phạm vào điều răn thứ ba.

Có người đặt ra những câu chuyện vui, trong đó kể rằng Chúa phán thế này, Chúa phán thế nọ… đặt những câu nói tếu cho Chúa mà không biết mình đang phạm tội bất kính. Có người đem các danh từ riêng trong Thánh Kinh ra đọc trại đi, thành những âm thanh ngờ nghệch để cười chơi. Có người quen miệng dùng danh Chúa trong những câu rủa sả, mắng nhiếc. Và, có người luôn miệng kêu danh Chúa một cách vô cớ, mà chúng ta thường nói là thói quen mở miệng kêu trời! 

III. Lấy danh Chúa làm chơi trong sự cầu nguyện, thờ phượng, rao giảng chiếu lệ

Một hình thức lấy danh Chúa làm chơi mà hầu hết các Cơ-đốc nhân đều vấp phạm, đó là trong khi cầu nguyện, trong khi rao giảng, trong khi thờ phượng Chúa… miệng nói đến danh Chúa, hoặc trực tiếp thưa chuyện với Chúa mà lòng thì không hề nghĩ đến Chúa.

Họ cầu nguyện như cái máy, cầu nguyện chiếu lệ, hoặc cố vận dụng những ngôn từ hoa mỹ cho người khác nghe và thán phục sự cầu nguyện của họ chứ không phải đang chân thành thưa chuyện với Chúa.

Họ làm chứng, rao giảng về Chúa nhưng lòng họ đang tìm cách phô trương kiến thức, tài hùng biện của mình mong người nghe thán phục, hoặc họ đang nghĩ đến những điều khác, chỉ mong sao cho xong việc, hết trách nhiệm.

Họ đến dự nhóm họp thờ phượng Chúa, miệng hát thánh ca, đọc Thánh Kinh nhưng chỉ là một thói quen chiếu lệ, không có sự rung cảm từ đáy lòng trước tình yêu và sự oai nghiêm, thánh khiết của Chúa. Vì thế, ngay trong giờ thờ phượng, họ xì xào bàn tán chuyện làm ăn, mua bán, chơi hụi… thậm chí, còn có người cắt móng tay, móng chân! 

IV. Lấy danh Chúa làm chơi trong sự mưu lợi bất chính 

Ngày nay, nhiều người mượn danh Chúa để tạo dựng địa vị, danh tiếng, tài sản cho bản thân, hoặc cho gia đình và dòng họ của mình. Hầu việc Chúa, đối với họ trở thành một nghề nghiệp chuyên môn. Một người có thể chọn lựa đến quản nhiệm một Hội Thánh dựa trên những quyền lợi vật chất mà Hội Thánh có thể cung cấp cho mình, chứ không dựa trên tiếng gọi của Chúa. Ưu tiên một dường như luôn luôn thuộc về những Hội Thánh đông tín đồ, trả lương cao cho người chăn. Nhìn chung, nhiều bầy chiên bé nhỏ, nghèo vật chất không có người đến chăn nhưng nhiều Hội Thánh có đến bốn năm người chăn. Khi nói đến sự khan hiếm người chăn, chúng ta phải hiểu rằng, không phải khan hiếm những người mang danh là người chăn, mà là khan hiếm những người chăn thật sự bước vào chức vụ vì: "yêu Chúa hơn tất cả mọi sự" và được Chúa giao cho công tác "Hãy chăn chiên ta!"

Nói đến việc lấy danh Chúa để mưu lợi bất chính thì không thể không nói đến những tay lường gạt nổi tiếng trên truyền hình. Ngày 23/03/2007 vừa qua, đài truyền hình ABC tại Hoa Kỳ, trong chương trình 20/20 đã nêu lên sự lạm dụng tiền bạc của những người được gọi là các nhà "truyền giáo Ti Vi". Mỗi nhà "truyền giáo Ti Vi" này sống giàu sang nhung lụa trên số tiền dâng hiến, đóng góp của những người nhẹ dạ. 

Kết luận 

Một ngày kia, Đức Chúa Trời sẽ phán xét một cách công chính tất cả những sự "lấy danh Chúa làm chơi". Vì:

"Đức Chúa Trời chẳng chịu khinh dễ đâu!" (Ga-la-ti 6:7)

"Vả, ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt." (Ma-thi-ơ 12:36, 37)

Nguyện Đức Thánh Linh luôn nhắc nhở để chúng ta đừng phạm tội "lấy danh Chúa làm chơi", và luôn cáo trách khi chúng ta lỡ vấp phạm để chúng ta biết mà ăn năn.

Share This:

Điều Răn: Nước Mỹ và Hình Tượng

2,698 views

I. Tội lỗi của nước Mỹ

Vào ngày 28/10/1886, vào lúc nước Mỹ vừa tròn 110 tuổi, pho tượng “Tự do chiếu sáng toàn thế giới” thường được gọi là “Tượng Nữ Thần Tự Do” do nước Pháp trao tặng nước Mỹ trong tình hữu nghị đã được khánh thành. Pho tượng khổng lồ cao151 feet (46 mét), nặng 150 tấn này tọa lạc trên đảo Ellis thuộc Tiểu Bang New York và New Jersey. Nguồn gốc của tượng “Nữ Thần Tự Do” phát sinh từ huyền thoại Nữ Thần Tự Do của La-mã (Libertas Goddess). Trong 121 năm qua, tượng “Nữ Thần Tự Do” đã trở thành biểu tượng của tự do cho toàn thế giới và biết bao nhiêu di dân đã đến cầu nguyện, dâng hoa, quỳ lạy trước bức tượng này, để cảm tạ sự tự do mà họ tìm được trên đất Mỹ.

Đọc Tiếp →

Share This:

Dọn mình thánh khiết

1,837 views

I. Sự dọn mình của các thầy tế lễ thời Cựu Ước

 

17 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se nữa rằng:

18 Ngươi hãy làm một cái thùng với chân thùng bằng đồng, đặng rửa mình ở trong, rồi để giữa khoảng của hội mạc và bàn thờ, và đổ nước vào.

19 A-rôn cùng các con trai người sẽ rửa tay và chân mình ở trong.

20 Khi họ vào hội mạc sẽ lấy nước rửa mình, hầu cho họ khỏi chết; và khi lại gần bàn thờ đặng phụng sự, tức là xông của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, họ cũng phải giữ như vậy.

21 Thế thì, họ hãy rửa tay và chân, hầu cho khỏi chết. Ấy là một lệ đời đời cho A-rôn, cùng dòng dõi người trải qua các đời.

 

Năm câu Thánh Kinh trên đây ghi lại mệnh lệnh của Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se về việc sắm sẵn một thùng chứa nước bằng đồng làm chỗ rửa mình cho các thầy tế lễ. Thùng chứa nước này được đặt ngay giữa hội mạc. Mỗi ngày hai bận, trước khi các thầy tế lễ vào nơi thánh trong đền tạm để làm đèn và dâng hương cho Đức Giê-hô–va (Xuất Ê-díp-tô Ký 30:7, 8), hoặc mỗi khi vào nơi thánh dâng tế lễ, thì phải rửa tay và chân với nước chứa trong thùng, để khỏi bị chết khi ra mắt Chúa.

Khi từ lều riêng đi đến đền tạm để phục vụ, chắc chắn các thầy tế lễ đã tắm rửa sạch sẽ trước khi mặc lễ phục. Nhưng khi bước vào hội mạc, họ vẫn phải rửa tay và chân trước khi bước vào nơi thánh. Họ phải rửa tay vì tay của họ sắp làm những công tác thờ phượng Chúa như chuẩn bị đèn, thắp đèn, và xông hương, hoặc dâng các sinh tế. Họ phải rửa chân cho sạch hết bụi đường vì họ sắp sửa bước vào nơi thánh. Ngày xưa, Môi-se đã phải cởi giày ra vì vùng đất chung quanh bụi gai cháy đã trở nên thánh bởi sự hiện diện của Chúa ở giữa bụi gai. Ý nghĩa của sự rửa này không chỉ nhằm vào việc tẩy uế tay chân, mà còn mang lấy ý nghĩa về sự tẩy uế thuộc linh mỗi khi chúng ta ra mắt Đức Chúa Trời.

 

II. Địa vị thầy tế lễ của Cơ-đốc nhân

 

Mỗi một Cơ-đốc nhân là một công dân thánh của nước trời và là một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời chí cao:

"Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài." (I Phi-e-rơ 2:9)

"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men." (Khải Huyền 1:6)

 

III. Nhiệm vụ thầy tế lễ của Cơ-đốc nhân

 

Thầy tế lễ của Đức Chúa Trời có nhiệm vụ thờ phượng Chúa qua sự thắp đèn, xông hương, và dâng của tế lễ. Các nghi thức thắp đèn, xông hương, và dâng tế lễ của các thầy tế lễ thời Cựu Ước là hình ảnh về sự chiếu sáng vinh hiển của Đức Chúa Trời, dâng lời cảm tạ, ngợi khen, và dâng chính thân thể mình trong sự thờ phượng Chúa của chúng ta ngày hôm nay.

1. Nghi thức thắp đèn: Thời Cựu Ước, chân đèn tượng trưng cho dân Israel, dầu thắp đèn là điều răn và luật pháp của Chúa, ánh sáng là nếp sống thánh khiết theo điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Thời Tân Ước, chân đèn là Hội Thánh, dầu thắp đèn là lời Chúa, ánh sáng là nếp sống đạo của Cơ-đốc nhân. Vì thế, Đức Chúa Jesus phán:

"14 Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành trên núi thì không khi nào bị khuất được: 15 cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người ta để trên chơn đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà. 16 Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời." (Ma-thi-ơ 5:14-16)

Nhiệm vụ thắp đèn của chúng ta ngày nay là sống theo lời Chúa. Mỗi ý tưởng, lời nói, hành động của chúng ta phải chiếu sáng vinh hiển của Chúa.

"Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm." (I Cô-rinh-tô 10:31)

2. Nghi thức xông hương: Thời Cựu Ước, ngoài những dịp tế lễ, mỗi ngày hai buổi sáng chiều, thầy tế lễ xông hương trong nơi thánh của đền tạm. Hương dùng để xông trong đền tạm là loại hương được bào chế theo chỉ thị của Đức Chúa Trời và không một thức hương nào khác được dùng để dâng lên cho Ngài. Sự dâng hương bày tỏ sự tôn kính và cảm tạ Chúa, nhưng sự tôn kính và cảm tạ này phải được thi hành theo ý Chúa chứ không phải theo ý riêng của loài người. Thức hương đó cũng không được dùng vào việc chi khác hoặc dùng cho loài người. Nghĩa là sự tôn kính và cảm tạ tối cao chỉ có thể dành cho Đức Chúa Trời chứ không thể dành cho ai khác. (Xuất Ê-díp-tô Ký 30:7-8, 34-38). Thời Tân Ước, sự xông hương cho Đức Chúa Trời chính là sự tôn kính và cảm tạ Chúa của chúng ta mỗi ngày. Chúng ta nên xông hương lên Chúa ngày hai bận sáng chiều như các thầy tế lễ thời Cựu Ước. Hãy bắt đầu một ngày mới với lời cầu nguyện tôn vinh và cảm tạ Đức Chúa Trời. Hãy chấm dứt một ngày cũng với lời cầu nguyện tôn vinh và cảm tạ Đức Chúa Trời. (Khải Huyền 5:8)

"Hãy thường thường nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta." (Ê-phê-sô 5:20)

"Mặc dầu anh em nói hãy làm, cũng phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha." (Cô-lô-se 3:17)

"phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy." (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:18)

"Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra." (Hê-bơ-rơ 13:15)

3. Nghi thức dâng tế lễ: Thời Cựu Ước, có ba loại tế lễ khác nhau: tế lễ về sự chuộc tội, tế lễ về sự phục hòa (tế lễ thù ân), và tế lễ tự nguyện. Tế lễ tự nguyện không bị ràng buộc bởi luật pháp, bao gồm tế lễ về sự hứa nguyện, tế lễ về sự cảm tạ, và tế lễ về sự dâng hiến lạc ý. Dâng hiến lạc ý là những sự dâng hiến tỏ lòng tôn kính Chúa. Thời Tân Ước, tế lễ về sự chuộc tội đã được chính Đức Chúa Jesus thực hiện bằng cách dâng chính thân Ngài một lần đủ cả cho sự chuộc tội của toàn thể nhân loại (Hê-bơ-rơ 9:28); tế lễ phục hòa cũng đã được chính Đức Chúa Jesus thực hiện qua sự thiết lập tiệc thánh. Ngày nay, trong địa vị thầy tế lễ, Cơ-đốc nhân chỉ còn dâng các tế lễ tự nguyện: là dâng của lễ cảm tạ sự chăm sóc của Chúa qua sự dâng hiến một phần mười các hoa lợi, dâng của lễ lạc ý bày tỏ lòng yêu kính Chúa qua các sự dâng hiến như dâng hiến tiền bạc, thời gian, công sức cho công tác truyền giáo, và dâng của lễ về sự hứa nguyện của mình với Chúa qua sự dâng hiến chính thân thể mình:

"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em." (Rô-ma 12:1)

"19 Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? 20 Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời." (I Cô-rinh-tô 6:19, 20)

 

Kết luận

 

Vì chúng ta là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời thi hành nhiệm vụ của mình mỗi ngày trước sự hiện diện thánh của Chúa, cho nên chúng ta phải cẩn thận dọn mình trước khi thi hành nhiệm vụ. Ngày xưa, Đức Chúa Jesus phán cùng các sứ đồ rằng, họ đã được trong sạch nhờ vào lời phán của Ngài (Giăng 15:3). Và, trong khi cầu thay cho các sứ đồ, Đức Chúa Jesus đã xin Đức Chúa Cha lấy lẽ thật là lời Chúa làm cho họ được nên thánh (Giăng 17:17). Sứ đồ Phao-lô cũng dạy cho tín đồ Ê-phê-sô biết rằng Đấng Christ đã dùng "đạo để khiến cho Hội Thánh được tinh sạch" (Ê-phê-sô 5:26); và Sứ Đồ Phi-e-rơ đã cho biết "đạo" đó chính là lời hằng sống của Đức Chúa Trời: "Nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là đạo Tin Lành đã giảng ra cho anh em." (I Phi-e-rơ 1:25)

Như vậy, chúng ta cần phải thanh tẩy chính mình mỗi ngày bằng lời của Chúa. Trước khi cầu nguyện, trước khi giảng đạo, trước khi dâng hiến, trước khi tôn vinh, ca ngợi Chúa… nói tóm lại, trưóc khi nhân danh Chúa để làm một điều gì, chúng ta phải nhờ lời Chúa tra xét, tẩy rửa chúng ta để chúng ta không lưu giữ một chút tội lỗi nào trong chúng ta mà vi phạm sự thánh khiết của Chúa. Lời của Chúa sẽ chỉ ra tội lỗi, dẫn chúng ta đến sự ăn năn, và sự ăn năn dẫn chúng ta đến sự được tha tội và được làm cho sạch tội:

"16 Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, 17 hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành. " (II Ti-mô-thê 3:16, 17)

"Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng." (Hê-bơ-rơ 4:12)

"Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác." (I Giăng 1:9)

 

Huỳnh Christian Timothy
11/03/2007

Share This:

Tiêu Chuẩn của Sự Chọn Lựa

1,638 views

Hậu quả của sự chọn lựa


Thánh Kinh ghi lại nhiều hậu quả thảm khốc phát sinh từ sự chọn lựa của loài người. Dưới đây là một vài trường hợp điển hình:

Không vâng lời: Sự chọn lựa ăn trái cây biết điều thiện và điều ác của ông A-đam và bà Ê-va đã đem tội lỗi, đau khổ, và sự chết vào trong thế gian; đã khiến cho Đức Chúa Trời Ngôi Con toàn năng, vinh hiển, không thể chết phải nhập thế làm người, chịu yếu đuối, sĩ nhục, và chịu chết, (Sáng Thế Ký 3).

Theo ý riêng: Sự chọn lựa có con theo ý riêng của ông Áp-ra-ham và bà Sa-ra đã khiến cho mấy ngàn năm nay hai dân tộc Ả-rập và Do-thái tranh chấp, hận thù, tương tàn, đem bất an đến cho toàn thế giới, (Sáng Thế Ký 15, 16, 21).

Tham của người: Sự tham muốn vợ người khác của Vua Đa-vít đã đem lại đại họa lưu truyền trong gia đình của ông; anh hiếp em, anh em tàn sát lẫn nhau, con chiếm ngôi cha, (II Sa-mu-ên 11, 13, 15, 18).

Kiêu ngạo, khoe khoang: Sự kiêu ngạo, khoe khoang của Vua Ê-xê-chia đã khiến cho toàn bộ báu vật của Israel bị Vua Ba-by-lôn cướp lấy, (II Sử Ký 32:31; II Các Vua 20:12-18).

Bên cạnh những chọn lựa mang đến hậu quả thảm khốc, cũng có những chọn lựa mang đến phước hạnh:

Thánh sạch: Sự chọn lựa giữ mình thánh sạch của Giô-sép đã khiến cho ông trở thành tể tướng Ai-cập và hai con của ông trở thành hai chi phái trong số 12 chi phái của Israel (Sáng Thế Ký 37-48).

Nhân đức: Sự chọn lựa đầy lòng nhân đức của Ru-tơ đã khiến cho bà trở thành tổ mẫu về phần xác của Đức Chúa Jesus (Ru-tơ).

Công bình: Sự lựa chọn của Hoàng Hậu Ê-xơ-tê đem lại sự giải phóng cho dân tộc của bà (Ê-xơ-tê).

 

Tiêu chuẩn của sự chọn lựa

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để vào trang download audio


Mỗi sự chọn lựa đều dựa trên một số tiêu chuẩn đã được quy định trước. Những tiêu chuẩn chọn lựa thường là do chính người chọn lựa thiết lập. Hai người cùng chọn lựa mua một chiếc xe mới nhưng tiêu chuẩn chọn lựa có thể khác nhau. Tiêu chuẩn của người thứ nhất có thể là: sang-đẹp-bền, trong khi tiêu chuẩn của người thứ nhì là: rẽ-bền-đẹp. Là con dân Thiên Chúa, chúng ta nên thực hiện những chọn lựa của mình dựa trên các tiêu chuẩn do chính Chúa quy định. Các tiêu chuẩn này được trình bày rõ ràng trong Thánh Kinh và được chính Đức Thánh Linh nhắc nhở trong lòng của chúng ta, hoặc Ngài dùng người khác nhắc nhở chúng ta khi chúng ta đối diên với sự chọn lựa. Sứ Đồ Phao-lô đã tổng kết các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời trong Phi-líp 4:8, như sau:

"Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều cho chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến."

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của các tiêu chuẩn này:

Chân thật: là sự chọn lựa của mình không đi ngược lại lời Chúa. Thánh Kinh là lời Chúa và là thẩm quyền tuyệt đối trong đời sống của người đi theo Chúa (II Phi-e-rơ 1:20, 21; II Ti-mô-thê 3:16, 17). Mọi sự chọn lựa của chúng ta đều phải hoàn toàn dựa trên lời Chúa thay vì dựa vào tri thức của đời này, hay dựa vào cảm xúc của xác thịt. Chính Đức Chúa Jesus tuyên bố lời Chúa là lẽ thật (Giăng 17:7). Trên một phương diện khác, Đức Chúa Jesus chính là lời Chúa, danh xưng của Ngài là NGÔI LỜI (Giăng 1;1, Khải Huyền 19:13), Ngài đến thế gian để giãi bày Đức Chúa Cha cho chúng ta (Giăng 1:18), và Ngài tự xưng mình là lẽ thật (Giăng 14:6); cho nên sự chọn lựa của chúng ta cần phải không đi ngược lại mọi điều mà Đức Chúa Jesus đã truyền cho chúng ta (Ma-thi-ơ 28:20). Ngài là Đấng mà "trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá" (I Phi-e-rơ 2:22).

Đáng tôn: là sự chọn lựa của mình được thi hành trong danh Chúa, làm vinh hiển danh Chúa. Cô-lô-se 3:17 "Mặc dầu anh em nói hay làm, cũng phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha." Và như thế, những sự chọn lựa của chúng ta khiến cho người khác tôn vinh Chúa:

"Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời." (Ma-thi-ơ 5:16).

"Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm." (I Cô-rinh-tô 10:31)

Sự lựa chọn của ba chàng nô lệ Hê-bơ-rơ thời Vua Nê-bu-cát-nết-xa, không sấp mình thờ lạy tượng vua, đã khiến cho danh Chúa được vinh hiển, chính Vua Nê-bu-cát-nết-xa đã ra chiếu chỉ tôn vinh Chúa:

"Vua Nê-bu-cát-nết-sa lại cất tiếng nói rằng: Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô! Ngài đã sai thiên sứ Ngài và giải cứu các tôi tớ Ngài nhờ cậy Ngài, họ đã trái mạng vua, và liều bỏ thân thể mình, hầu để không hầu việc và không thờ phượng thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời mình.

Cho nên ta ban chiếu chỉ nầy: Bất kỳ dân nào, nước nào, thứ tiếng nào, hễ có người nói xấu đến Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, thì sẽ bị phân thây, nhà nó sẽ phải thành ra đống phân, vì không có thần nào khác có thể giải cứu được thể nầy." (Đa-ni-ên 3:28, 29)

Công bình: là sự chọn lựa của mình được thực hiện trong đức tin. Chúng ta được xưng công bình vì có đức tin vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Chúng ta cần thực hiện các sự chọn lựa của mình trong đức tin nơi Chúa, cho dù, theo lý trí của xác thịt, theo tiêu chuẩn của thế gian, sự chọn lựa của chúng ta bị xem là rồ dại. Áp-ra-ham chọn lựa dâng Y-sác trong đức tin vì ông tin rằng "Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến cho kẻ chết sống lại." (Hê-bơ-rơ 11:19). Ba trăm người Israel không vũ khí đi theo Ghê-đê-ôn để tấn công 135,000 người có tài cầm gươm của dân Mê-đi-an (Các Quan Xét 7, 8) đã làm một sự chọn lựa bởi đức tin.

"Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin." (Rô-ma 5:1)

"Phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi." (Rô-ma 14:23).

Trên một phương diện khác, sự lựa chọn của chúng ta không thể là nguồn gốc đem đến bất công cho người khác.

Thánh sạch: là sự chọn lựa của mình không vì lợi nhơ bẩn (I Phi-e-rơ 5:2), không vì danh vọng giả dối (Ga-la-ti 5:26), không vì muốn lấy lòng loài người mà làm buồn lòng Chúa (Ga-la-ti 1:10). Chính Sứ Đồ Phi-e-rơ cũng đã có lần làm một sự lựa chọn không thánh sạch khi ông sợ mất lòng những người tín đồ gốc Do-thái mà không dám ngồi ăn chung với các tín đồ gốc dân ngoại tại thành An-ti-ốt. Sứ Đồ Phao-lô đã quở trách Sứ Đồ Phi-e-rơ ngay trước mặt Hội Thánh (Ga-la-ti 2:11-14).

Đáng yêu chuộng: là sự chọn lựa đem lại ích lợi cho nếp sống đạo, đáng làm gương tốt. Có những chọn lựa đáng yêu chuộng được ghi chép trong Thánh Kinh như sau:

"Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy." (I Cô-rinh-tô 11:1)

"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào." (Rô-ma 12:1, 2)

Có tiếng tốt: là sự chọn lựa mà mọi người, ngay cả kẻ thù của chúng ta, cũng không thể chê trách. Đó là những chọn lựa đem lại ích lợi cho xã hội. Lời Chúa dạy:

"Vậy đương lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người; nhứt là cho anh em chúng ta trong đức tin." (Ga-la-ti 6:10)

"Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời." (I Phi-e-rơ 2:15)

Có nhân đức đáng khen: là sự lựa chọn đem lại ích lợi cho người khác, ngay cả cho kẻ thù nghịch và kẻ ghét mình hơn là cho chính mình:

"Nhưng ta phán cùng các ngươi, là người nghe ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình." (Lu-ca 6:27)

"Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều làm gương tốt. Chớ ai tìm lợi riêng cho mình, nhưng ai nấy hãy tìm cho kẻ khác." (I Cô-rinh-tô 10:23, 24).

 

Kết luận


Mỗi chọn lựa trong cuộc đời của chúng ta, dù lớn hay nhỏ, cần phải hội đủ bảy tiêu chuẩn trên đây. Đối với Đức Chúa Trời lớn hay nhỏ không quan trọng bằng thánh khiết hay ô uế. Biết lựa chọn theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời là chúng ta sống một đời sống tràn đầy phước hạnh, một đời sống thỏa lòng, một đời sống sung mãn, một đời sống: "bước đi theo Thánh Linh" (Ga-la-ti 5:16), "bước đi trong Đấng Christ" (Cô-lô-se 2:6).

Và, đó là ấn chứng chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời: "Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời" (Rô-ma 8:14).

Hãy học tập để cho những tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời thấm nhuần trong chúng ta đến nỗi mỗi sự chọn lựa của chúng ta đều trở thành sự chọn lựa một cách vô ý thức, nhưng đều đẹp ý Ngài.

Huỳnh Christian Timothy
03.04.2007

Share This:

Điều Răn: Thần Khác

1,827 views

Vì chỉ có một Đức Giê-hô-va (nghĩa là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu) cho nên chỉ có Ngài là Đấng Tạo Hóa, là cội nguồn của muôn loài vạn vật, là Đức Chúa Trời, và xứng đáng cho muôn loài vạn vật thờ phượng chỉ một mình Ngài, sự vinh hiển chỉ thuộc về một mình Ngài. Ngài đã phán về chính mình Ngài như sau:

“Ta là đầu tiên và cuối cùng; ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác.” (Ê-sai 44:6)

“Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!” (Ê-sai 42:8)

Lịch sử cho thấy rằng loài người đã tạo ra vô số các thần linh và sấp mình thờ lạy các thần linh do chính mình tạo ra. Riêng chỉ trong Ấn-độ giáo đã có trên một triệu thần linh; và nếu kể đến tục thờ lạy tổ tiên của các dân tộc thì loài người có đến hàng tỉ tỉ thần linh.

Tại Việt Nam, một người ăn mày khi sống bị nhiều người khinh khi, bỏ mặc cho chết đói, hay một tên ăn trộm khi sống bị nhiều người ghét bỏ, nguyền rủa, nhưng khi chết đi có thể trở thành một thần linh và được cả làng thờ phượng, phong cho chức Thành Hoàng, là một hình thức Đức Chúa Trời của một làng. Thậm chí, ngay cả những ống bình vôi đựng vôi ăn trầu, hay những cái kiềng bếp, những cục đất sét kê nồi bị vứt bỏ ở gốc đa đầu làng cũng trở thành những thần linh trong tín ngưỡng của người Việt Nam.

Từ chỗ được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời để làm con Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 1;27; Lu-ca 3:38) và cai trị vạn vật (Sáng Thế Ký 1:28), loài người đã sấp mình thờ lạy những thần tượng vô tri, vô giác, những tà linh, những điểu, thú, côn trùng, đồng loại, và chính các dục vọng của mình, làm nhục hình ảnh của Đức Chúa Trời ở trong mình (Rô-ma 1:18-32).

 

Phân loại các giả thần

 

Dù loài người đã sáng tạo ra nhiều thần linh khác nhau để tôn lên làm Đức Chúa Trời, nhưng những thần linh nhân tạo ấy có thể được xếp loại như sau:

– Thần Tài,

– Thần Tình, và

– Thần Tôi

 

1. Thần Tài

Truyền Đạo 10:9 chép rằng: “Có tiền bạc thì ứng cho mọi sự”. Đó là nhận định của một người khôn ngoan, quyền thế, và giàu có nhất trong thế gian đang thời của ông: Vua Sa-lô-môn. Thực tế cuộc sống hàng ngày cho chúng ta thấy, quả thật tiền bạc cần thiét để giải quyết nhiều vấn đề; ngay cả trong các công tác hầu việc Chúa cũng cần đến tiền bạc; trong sự dâng hiến cho Chúa cũng sử dụng đến tiền bạc. Như vậy, tự bản thân tiền bạc không phải là điều xấu; nhưng từ chỗ quản trị tiền bạc, sử dụng tiền bạc, cho đến chỗ ham muốn tiền bạc và nương cậy vào tiền bạc là một khoảng cách rộng lớn như khoảng cách giữa thiên đàng và hoả ngục.

Lời Chúa trong 1 Ti-mô-thê 6:6-10 răn dạy chúng ta như sau:

6 Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng ấy là một lợi lớn.

7 Vì chúng ta ra đời chẳng đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được.

8 Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng;

9 Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất.

10 Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn.

Loài người ham mê tiền bạc đến nỗi đã tạo ra Thần Tài để thờ lạy. Thần Tài không có nghĩa đơn giản chỉ là tiền bạc mà còn là phương tiện tạo ra tiền bạc, trong đó có công ăn, việc làm, tri thức, kỷ năng của chúng ta, những người có thế lực, và tất cả những gì tiền bạc có thể mang đến cho chúng ta. Khi chúng ta xem tiền bạc, phương tiện tạo ra tiền bạc, và những thứ do tiền bạc đem lại là trên hết trong đời sống của chúng ta là chúng ta đang tôn thờ Thần Tài. Người kém trí tôn thờ thần tài qua hình tượng, bàn thờ. Người đa trí tôn thờ thần tài bằng cách hối lộ, tham nhũng.

Đức Chúa Jesus phán: “Chẳng ai được làm tôi hai chủ; vì sẽ ghét người nầy mà yêu người kia, hoặc trọng người nầy mà khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi Ma-môn nữa.” (Ma-thi-ơ 6;24; Lu-ca 16:13). Ma-môn trong câu phán này là Thần Tiền Bạc, Thần Tài.

 

2. Thần Tình

Thần Tình ở đây bao gồm tình cảm chân chính giữa loài người với nhau lẫn những đam mê tình dục bất chính.

Những tình cảm chân chính giữa loài người với nhau như tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa cha mẹ con cái, tình nghĩa anh chị em, tình nghĩa bạn bè, tình nghĩa thầy trò, tình nghĩa chủ tớ, tình nghĩa đồng bào… luôn luôn được Thánh Kinh đề cao nhưng cũng chính Thánh Kinh dạy cho chúng ta biết, chúng ta không thể xem các tình cảm đó cao trọng hơn tình cảm của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời. Trong thực tế, nếu chúng ta đặt tình yêu Đức Chúa Trời cao trọng hơn tất cả các tình cảm khác thì chính tình yêu Đức Chúa Trời trong chúng ta khiến cho chúng ta được đầy trọn tình yêu đến từ Chúa và chúng ta sẽ yêu người khác bằng chính tình yêu mà Chúa đã yêu chúng ta. Đó là tình yêu đích thật được mô tả trong 1 Cô-rinh-tô 13.

Nhiều khi chúng ta yêu người khác hơn yêu Chúa mà chúng ta không biết. Bất cứ vì một người nào mà chúng ta bê trể bổn phận của chúng ta với Chúa, như bỏ qua hoặc đi trể trong sự nhóm lại để học hỏi lời Chúa và thờ phượng Chúa, như chìu theo người đó mà làm những việc chúng ta biết rõ là không đẹp ý Chúa, không đúng với sự dạy dỗ của Thánh Kinh… là chúng ta đã tôn thờ Thần Tình trong lòng chúng ta. Chúa phán rất rõ ràng: “Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta.” (Ma-thi-ơ 10:37).

Thần Tình còn là những đam mê tình dục bất chính như gian dâm, ngoại tình kể cả gian dâm và ngoại tình trong tư tưởng, như lén lút xem các văn hóa phẩm tình dục làm băng hoại nhân phẩm qua phim, ảnh, sách, báo, hoặc Internet. Thần Tình ngày nay còn được tôn thờ và đề cao qua các phong trào đồng tính luyến ái, thậm chí công khai xâm nhập vào trong các Hội Thánh, đến nổi một vài giáo hội lớn cho phép những người đồng tình luyến ái làm mục sư và giám mục.

 

3. Thần Tôi

Trong thế gian này có bao nhiêu con người là có bấy nhiêu Thần Tôi. Thần Tôi là chính cái bản ngã tội lỗi của mỗi người. Khi chúng ta chưa biết Chúa, chúng ta sống chết cho bản ngã của mình và rất mực tôn thờ nó. Thần Tôi xuất hiện dưới hai hình thức: lòng tự ái và lòng kiêu ngạo.

a) Lòng tự ái khác xa với lòng tự trọng. Tự trọng là không làm bất cứ một điều gì khiến cho hình ảnh của Đức Chúa Trời trong chúng ta bị sỉ nhục. Còn tự ái là tự mình yêu chính mình, không muốn cho bất kỳ ai làm thương tổn đến mình. Lòng tự ái tự nó không có gì sai trái, vì Chúa dạy chúng ta hãy yêu người khác như chúng ta yêu chúng ta. Nhưng khi lòng tự ái bị điều khiển bởi bản ngã tội lỗi thì nó khiến cho chúng ta đặt mình lên trên trước người khác thậm chí đặt mình lên trên cả Đức Chúa Trời, và khi đó, nó biến thành Đức Chúa Trời của chúng ta.

Vì lòng tự ái mà có sự ganh tỵ, bè phái, chia rẽ trong Hội Thánh. Nhiều người bất chấp thủ đoạn, bất chấp hậu quả, nhất quyết hành động miễn sao lòng tự ái xác thịt của mình được thỏa mãn. Có người vì tự ái mà đã giết người. Cũng có người vì tự ái mà tự sát, mong rằng cái chết của mình sẽ đem lại đau khổ cho người đã làm mình đau khổ!

Chúa không bảo chúng ta thôi yêu thương chính mình nhưng dạy chúng ta cũng yêu người lân cận như chúng ta yêu chúng ta vậy. Vì thế, Chúa dạy chúng ta hãy xem người khác là tôn trọng hơn mình, lấy lẽ kính nhường nhau, và đối với Chúa thì chúng ta hãy tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo Chúa, (Phi-líp 2:3; Rô-ma 12:10; Lu-ca 9:23).

b) Lòng kiêu ngạo là tội đứng hàng đầu trong các thứ tội. Vì kiêu ngạo mà Satan phản nghịch Đức Chúa Trời; vì kiêu ngạo mà A-đam và Ê-va muốn bằng Đức Chúa Trời; vì kiêu ngạo mà nhiều người cho rằng mình đạo đức, thánh thiện, không cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời; vì kiêu ngạo mà nhiều người cho rằng mình hiểu biết về Chúa đến mức không cần phải học hỏi từ ai khác hết; vì kiêu ngạo mà nhiều người cho rằng Chúa phán trực tiếp với mình, không cần đến Thánh Kinh nữa; vì kiêu ngạo mà nhiều người không tiếp nhận những sự khuyên răn, quở trách từ người khác mà đòi chính Đức Chúa Trời trực tiếp phán dạy họ! Vì kiêu ngạo mà nhiều người bất chấp các thẩm quyền Chúa đã lập ra trong Hội Thánh hoặc tự dành lấy các chức vụ trong Hội Thánh mà Chúa không hề ban cho mình…

Một người trong thế gian có thể đắc thắng được tiền bạc, vật chất, và các thứ tình cảm nhưng không thể đắc thắng được lòng tự ái và lòng kiêu ngạo. Trong Chúa, chúng ta sẽ đắc thắng khi chúng ta chịu mặc lấy Đấng Christ, vì Ngài có lòng nhu mì và khiêm nhường (Ma-thi-ơ 11:29).

 

Kết luận

 

Điều răn: “Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác.” là điều răn không chỉ dành riêng cho dân Israel mà là cho muôn loài thọ tạo, bao gồm cả thiên sứ, loài người, những vật thấy được lẫn những vật không thấy được. Ngay cả cõi thiên nhiên cũng âm thầm tôn thờ Đức Chúa Trời:

“Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm. Ngày nầy giảng cho ngày kia, Đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ. Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó.” (Thi Thiên 19:1-3)

Chúng ta hãy nhờ Đức Thánh Linh tra xét lòng của chúng ta, chỉ ra cho chúng ta những thần khác đang còn chễm chệ trên ngôi lòng của chúng ta và xin lửa của Đức Thánh Linh thiêu đốt hết tất cả những thần tượng ấy.

Lời Chúa phán:

“Ngươi khá giữ hết mọi lời ta phán cùng ngươi. Chớ xưng đến danh các thần khác; chớ cho nghe danh đó ở nơi miệng ngươi ra.” (Xuất Ê-díp-tô-ký 23:13)

Huỳnh Christian Timothy
25/02/2007

 

Share This:

Quốc Thái Dân An

1,510 views

Quốc thái, dân an là niềm mơ ước muôn đời của mọi quốc gia, mọi dân tộc. Thái là thái bình, an là an lạc. Quốc thái, dân an là đất nước được thanh bình, thịnh vượng, không có chiến tranh hoặc thiên tai, dân chúng trong nước được sống trong an vui, ấm no, và hạnh phúc.

Từ ngàn xưa đến nay, quốc gia nào, dân tộc nào cũng hướng về những quyền lực siêu nhiên để tìm cầu quốc thái dân an, vì thế, lịch sử cho thấy có những tôn giáo trở thành quốc giáo của nhiều quốc gia. Kể từ thế kỷ 20 cho đến nay, những tư tưởng và chủ nghĩa, thậm chí kiến thức về khoa học cũng trở thành một thứ quốc giáo. Nói cách khác, những tôn giáo, tư tưởng, chủ nghĩa, và kiến thức khoa học đã trở thành các thần linh, các quyền lực tối thượng mà mọi dân tộc nương cậy vào đó để mưu cầu quốc thái dân an.

Riêng đối với đất nước và dân tộc Việt Nam, từ các thời Đinh, Lê, Lý, Trần đã có tục triều đình tế Trời vào đầu năm âm lịch để cầu xin cho quốc thái dân an. Trong dân gian thì nhà nhà có bàn thờ Trời, gọi là bàn Ông Thiên. Sự kiện này cho thấy dân tộc Việt Nam có ý thức về Đức Chúa Trời và đức tin vào Đức Chúa Trời. Vào năm 1803, Vua Gia Long cho thiết lập một đàn tế Trời lộ thiên, gọi là “Đàn Nam Giao”. Mỗi năm, vào thượng tuần tháng hai âm lịch thì triều đình làm lễ tế Trời. Vua phải đến trước ba ngày, trai tịnh để chuẩn bị cho tế lễ. Khi vào lễ, vua từ chỗ ở gọi là Trai Cung, ngồi trên kiệu gọi là Ngự Liễn, được quân lính gánh lên đài; có từ 1000 đến 5000 người, gọi là Ngự Đạo, mặc lễ phục sặc sở đi theo. Khi tế, vua là chủ tế và có 128 văn võ sinh đứng múa. Đại lễ bắt đầu từ 2 giờ sáng và kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ. Tục tế Nam Giao chấm dứt với vị vua cuối cùng của Việt Nam là Bảo Đại.

Văn hóa Việt cho thấy, dân tộc Việt Nam rất khao khát quốc thái dân an nhưng lịch sử Việt chỉ ghi lại toàn là chiến tranh và loạn lạc, nước mất và nhà tan. Hơn 4000 năm lịch sử của Việt Nam là hơn 4000 ngàn năm của khổ đau! Cho đến bao giờ và bằng cách nào để đất nước và dân tộc Việt Nam chúng ta được thực sự quốc thái dân an?

Tác giả của Thi Thiên 33 đã ghi lại một chân lý tuyệt vời cho mọi dân tộc: “Nước nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình,dân tộc nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp mình, có phước thay.” (Thi Thiên 33:12).

Chúng ta không thể biết chắc người nào đã viết ra Thi Thiên 33, cũng không biết Thi Thiên này đã được viết ra trong hoàn cảnh nào, hoặc vào thời điểm nào. Mặc dù bài thơ này được chép chung trong quyển thứ nhất các bài thơ của Đa-vít và được đặt ở giữa hai bài thơ có ghi tên ông, nhưng trong phần mở đầu của bài thơ không hề ghi tên tác giả. Bài thơ cũng không đề cập đến những nghi thức thờ phượng của Israel hay lịch sử của dân tộc này. Nội dung của bài thơ hoàn toàn có tính tổng quát, có thể áp dụng chung cho mọi dân tộc.

Có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình, nghĩa là nhận thức đúng về Đức Chúa Trời, rằng Ngài là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu (tự có và còn đến mãi mãi) và chọn lựa chỉ thờ phượng một mình Ngài. Vì Đức Chúa Trời là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu cho nên Ngài là Đấng Cao Siêu Tuyệt Đối, không ai có thể sánh với Ngài và mọi vinh hiển đều quy về Ngài. Lời phán của Ngài được ghi lại trong Thánh Kinh như sau:

“Ta là đầu tiên và cuối cùng; ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác.” (Ê-sai 44:6)

“Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!” (Ê-sai 42:8)

Dân tộc Việt Nam dầu có ý thức về Đức Chúa Trời và biết cầu khẩn Đức Chúa Trời nhưng suốt lịch sử mấy ngàn năm vẫn sống trong bất hạnh là vì chưa có nhận thức đúng về Đức Chúa Trời nên chưa biết thờ phượng chỉ một mình Ngài. Bên cạnh sự tôn kính, kêu cầu Đức Chúa Trời, người Việt Nam còn tin tưởng và thờ lạy vô số các thần tượng, còn thực hành nhiều hủ tục mê tín, dị đoan… là những điều vi phạm luật thánh khiết của Đức Chúa Trời. Người Việt Nam cần đến với Thánh Kinh để học biết về Đức Chúa Trời và thờ phượng Ngài theo sự dạy dỗ của Thánh Kinh. Khi các thần tượng vô tri, vô giác bị dẹp bỏ và chỉ có Đức Chúa Trời được tôn cao trong lòng người Việt Nam, thì đất nước Việt Nam mới thật sự có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình.

Được Đức Chúa Trời chọn làm cơ nghiệp, nghĩa là sống đẹp ý Chúa, vâng giữ luật pháp của Ngài nên được Ngài chọn để sống đời đời với Ngài và vui hưởng tình yêu cùng những sự bình an, vinh hiển, giàu có vô lượng của Ngài.

Quốc thái dân an không phải là một sáo ngữ hay một niềm không tưởng. Lời của Đức Chúa Trời đã khẳng định: “Nước nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình,Dân tộc nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp mình, có phước thay.”

Trong những ngày đầu của một năm mới này, chúng ta hãy dọn lòng, đến với Chúa, kêu cầu sự nhơn từ thương xót của Ngài tiếp tục dàn trải trên quê hương và dân tộc Việt Nam chúng ta. Xin Chúa cho dân tộc chúng ta sớm nhận biết và thờ phượng chỉ một mình Chúa. Xin cho dân tộc Việt Nam được bước vào một ngàn năm quốc thái dân an dưới quyền cai trị của Đấng Christ và cùng có mặt với các dân tộc khác trong trời mới, đất mới của cõi đời đời!

Huỳnh Christian Timothy
18/02/2007

 

Share This:

Điều trọng hơn hết

1,737 views

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống mp3
https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/sets/101_toiloiductinsucaunguyen

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

I. Ba điều thiết yếu

1 Cô-rinh-tô 13:13 nói lên một chân lý vô cùng quan trọng đối với toàn thể nhân loại. Cuộc đời của một người từ khi sinh ra cho đến khi qua đời hoàn toàn gắn bó với ba điều thiết yếu này: Đức tin, sự trông cậy, và tình yêu.

1. Đức tin

Điều thiết yếu đầu tiên trong cuộc sống của loài người là đức tin. Đức tin ở đây là:

– Đức tin vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)

“Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta.” (1 Giăng 1:7)

– Đức tin vào trong sự chăm sóc của Đức Chúa Trời.

“Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em.” (1 Phi-e-rơ 5:7)

“Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jêsus Christ.” (Phi-líp 4:19)

– Đức tin vào trong sự thành tín của Đức Chúa Trời.

“Vậy nên, phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ấy là Đức Chúa Trời, tức Đức Chúa Trời thành tín, giữ sự giao ước và nhân từ đến ngàn đời cho những người yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài.” (Phục Truyền 7:9)

“Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài đã gọi anh em được thông công với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.” (1 Cô-rinh-tô 1:9)

2. Sự trông cậy

Đức tin dẫn đến sự trông cậy. Vì tin nhận sự cứu rỗi của Chúa cho nên chúng ta có:

– Sự trông cậy về sự cứu rỗi:

“Nhưng chúng ta thuộc về ban ngày, nên hãy giè giữ, mặc áo giáp bằng đức tin và lòng yêu thương, lấy sự trông cậy về sự cứu rỗi làm mão trụ.” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:8)

Chẳng những chúng ta trông cậy về sự cứu rỗi, nghĩa là sự được tha tội và được làm cho sạch tội, mà chúng ta còn có:

– Sự trông cậy về sự sống đời đời

“Hầu cho chúng ta nhờ ơn Ngài được xưng công bình, trở nên con kế tự của Ngài trong sự trông cậy của sự sống đời đời.” (Tít 3:7)

– Sự trông cậy về sự đồng trị với Chúa trong cõi đời đời

“Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta.” (2 Ti-mô-thê 2:12)

3. Tình yêu

Thánh Kinh định nghĩa Đức Chúa Trời là tình yêu cho nên tình yêu chính là bản thể của Đức Chúa Trời. Điều thiết yếu thứ ba trong đời người là tình yêu. Chúng ta có thể có đức tin nơi Đức Chúa Trời và có các sự trông cậy nơi Đức Chúa Trời, nhưng nếu chúng ta không có tình yêu, tức là không có chính mình Ngài thì đức tin và sự trông cậy của chúng ta sẽ trở thành vô nghĩa.

Chúng ta không thể biết yêu nếu chúng ta không được yêu. Vì thế, Thánh Kinh cho biết: “Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước” (1 Giăng 4:19).

Sự kiện Đức Chúa Trời là tình yêu và Ngài yêu chúng ta đã được Thánh Kinh ghi lại như sau:

“9 Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống.

10 Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta.” (1 Giăng 4:9, 10).

Loài người xưa nay tưởng rằng họ có thể yêu và được yêu mà không cần biết đến Đức Chúa Trời. Nhưng thực tế của lịch sử loài người đã chứng minh ngược lại.

Vì không biết Đức Chúa Trời nên người ta không tiếp nhận Ngài; vì không tiếp nhận Ngài nên người ta không biết yêu; vì không biết yêu nên người ta đã nhân danh tình yêu để làm những chuyện hoàn toàn phản lại các thuộc tính của tình yêu.

Thánh Kinh chép: “Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương.” (1 Giăng 4:8); Và, chúng ta có thể nói: “Ai không biết Đức Chúa Trời thì không biết tình yêu!”

II. Điều trọng hơn hết

Muốn có đức tin và sự trông cậy nơi Đức Chúa Trời, trước hết chúng ta phải có tình yêu, tức là phải có Đức Chúa Trời trong cuộc đời của chúng ta. Không có Đức Chúa Trời cùng nghĩa với không có tình yêu. Một người có thể tin Chúa nhưng không có Chúa trong đời sống. Một người có thể nhân danh Chúa để làm các việc vĩ đại nhưng không có Chúa trong đời sống.

– Đức tin có thể đem đến cho chúng ta những sự ban cho của Đức Chúa Trời, nhưng nếu chúng ta không có tình yêu, thì những sự ban cho đó trở thành vô nghĩa:

“1 Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng.

2 Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.

– Chúng có thể làm những việc công đức vĩ đại nhưng nếu những việc làm công đức ấy không phát xuất từ tình yêu, thì sẽ trở thành vô nghĩa:

3 Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi.

– Tình yêu tỏ lộ các thuộc tính rõ ràng:

4 Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,

5 chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ,

6 chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật.

7 Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.

Đức tin và sự trông cậy sẽ chấm dứt vì không cần thiết nữa khi chúng ta sống với Chúa trong cõi đời đời. Nhưng tình yêu còn lại mãi mãi, vì: tình yêu chính là Đức Chúa Trời:

8 Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ.”

Kết luận

Cội rễ và cuối cùng của tất cả luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời là tình yêu. Mục đích sự thực hữu của chúng ta là:

– để được Đức Chúa Trời yêu chúng ta,

– để chúng ta yêu Đức Chúa Trời, và

– để chúng ta yêu lẫn nhau.

Trong cuộc sống hiện tại giữa thế gian tội lỗi này, khi một người thực lòng ăn năn tội, tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, thì đời sống của người ấy được đổi mới và người ấy có thể kinh nghiệm được ba điều thiết yếu cho nhân loại:

– đức tin vào Đức Chúa Trời,

– trông cậy vào Đức Chúa Trời, và

– yêu Chúa, yêu người.

11/02/2007

 

Share This:

Nên thánh

1,565 views
I. Sự tự do của người được nên thánh
Người được nên thánh là người đã được tháp vào trong Đấng Christ, nhận lấy sự sống của chính Ngài; sức sống cũ của xác thịt tội lỗi và ô uế đã bị tiêu diệt, thay vào đó là sức sống mới của Đấng Christ, là thánh linh của Đức Chúa Trời.
Thân thể bụi đất của A-đam là một thân thể chết cho đến khi Đức Chúa Trời thổi thánh linh của Ngài vào thì A-đam trở thành một sanh linh, có tâm thần và linh hồn trong một thân thể vật chất. Sự sống của A-đam, vì thế, khác xa với sự sống của các sinh vật khác. Một người đang sống trong tội lỗi là một người chết, đó là điều Đức Chúa Jesus ngụ ý khi Ngài phán: "Hãy theo ta, để kẻ chết chôn kẻ chết!" (Ma-thi-ơ 8:22). Khi chúng ta ăn năn tội và tiếp nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì Ngài làm cho chúng ta được sống lại trong Đức Chúa Jesus Christ: "Đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu." (Phi-líp 2:5).
Đời sống của một người đã được Đức Chúa Trời tái sinh là đời sống của một người đã được cứu thoát khỏi sức mạnh của tội lỗi, nghĩa là được tự do đối với tội lỗi, tội lỗi không thể bắt phục được người ấy nữa. Nhưng trên một phương diện khác, người được tái sinh cũng có quyền tự do chọn lựa để sống một nếp sống mới thánh khiết trong Chúa hay tiếp tục sống nếp sống cũ theo tư dục của xác thịt. Sự chọn lựa tiếp tục sống theo xác thịt hay quay lại sống theo xác thịt là sự thối lui trong đức tin. Thánh Kinh chép:
"Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm đẹp chút nào." (Hê-bơ-rơ 10:38)
"Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn." (2 Phi-e-rơ 2:21)
Thánh Kinh cũng nói rõ, phần của những kẻ lui đi là sự hư mất, chỉ những ai bền vững trong đức tin thì linh hồn mới được cứu rỗi:
"Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi." (Hê-bơ-rơ 10:39)
 
II. Khả năng phạm tội của người được nên thánh
Đức Chúa Trời có khả năng làm điều ác vì Ngài là Đấng toàn năng; nhưng Ngài chọn lựa không làm điều ác, vì thế, Ngài là thiện, là tình yêu, là thánh khiết. Khi dựng nên thiên sứ và loài người, Đức Chúa Trời cũng ban cho họ một ý chí tự do để chọn lựa làm thiện hoặc làm ác. Làm thiện là vâng phục Đức Chúa Trời, làm ác là nghịch lại những sự tốt lành của Đức Chúa Trời. Có ý chí tự do thì mới có tình yêu đích thực; bởi vì, tình yêu chỉ chân thật khi có sự chọn lựa. Đức Chúa Trời muốn thiên sứ và loài người tương giao với Ngài trong tình yêu chân thật, tự nguyện. Ý chí tự do mang đến cho thiên sứ và loài người cùng lúc hai khả năng: khả năng làm thiện và khả năng làm ác. Vì thế, người đã nên thánh, tức đã được tái sinh vẫn có thể phạm tội, vì vẫn có khả năng làm ác. Điều khác biệt giữa một người chưa được tái sinh với một người đã được tái sinh, ấy là người đã được tái sinh không còn nô lệ cho tội lỗi và được phục hồi khả năng làm lành. Vì thế, sự phạm tội của một người đã được tái sinh khác với sự phạm tội của một người chưa được tái sinh.
Một người đã được tái sinh có thể phạm tội vì vô ý, vì một phút yếu lòng trước sự cám dỗ hoặc sự thử thách, nhưng liền sau khi phạm tội người ấy ăn năn, thống hối và biết tìm đến ơn thương xót của Chúa để cầu xin sự tha thứ và sự làm cho sạch tội. Vì thế, 1 Giăng 1:9 chép rằng: "Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín, công bình, để tha tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác".
Người chưa được tái sinh là người đang sống trong tội, nghĩa là phạm tội có dự mưu, nghĩa là không có lòng dứt bỏ đời sống tội lỗi, vì phạm tội là mục đích của đời sống họ. Thánh Kinh chép về những người chưa được tái sinh như sau:
"28 Tại họ không lo nhìn biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó họ theo lòng hư xấu, đặng phạm những sự chẳng xứng đáng. 29 Họ đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ; 30 hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ; 31 dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót. 32 Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa." (Rô-ma 1:28-32).
 
III. Nếp sống của người được nên thánh
Người được nên thánh là người thờ phượng Đức Chúa Trời bằng cách dâng hiến thân thể mình cho Đức Chúa Trời như một của lễ sống và thánh, không còn sống theo thế gian nữa:
"1 Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. 2 Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào." (Rô-ma 12:1, 2)
Người được nên thánh là người không làm việc gì không bởi đức tin, vì hành động không bởi đức tin là tội lỗi:
"Vả, phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi." (Rô-ma 14:23)
Người được nên thánh không làm việc gì tựa như điều ác:
"Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:22)
Người được nên thánh làm việc gì cũng nhân danh Chúa mà làm và hết lòng mà làm như là làm cho Chúa:
"Mặc dầu anh em nói hãy làm, cũng phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha." (Cô-lô-se 3:17)
"Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta." (Cô-lô-se 3:23)
Người được nên thánh vui mừng trong mọi cảnh ngộ, không lo phiền chi hết, tạ ơn Chúa trong mọi sự, và lòng luôn hướng về những sự chân thật, công bình, thánh khiết:
"4 Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi. 5 Hãy cho mọi người đều biết nết nhu mì của anh em. Chúa đã gần rồi. 6 Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn và trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. 7 Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ. 8 Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều cho chơn thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến." (Phi-líp 4:4-8)
Người được nên thánh có năng lực vâng giữ và làm theo mọi điều Chúa dạy vì chính Chúa là Đấng ban ơn, và thêm sức:
"Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi." (Phi-líp 4:13)
Người được nên thánh sẽ ở luôn trong sự nên thánh:
"Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa!" (Khải Huyền 22:11)
 
Kết luận
Người được nên thánh là người được tái sinh, được dựng nên mới, có Thánh Linh của Đức Chúa Trời là nguồn sống cho nên đời sống của người ấy thể hiện thuộc tính của Đức Thánh Linh, mà ai cũng nhìn thấy được:
"Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ." (Ga-la-ti 5:22)
Chúa Nhật 04/02/2007

Share This:

Thánh hóa

1,423 views
I. Tiến trình thánh hóa
 
Đức Chúa Trời thánh hóa người có lòng ăn năn thống hối về tội lỗi và tin nhận sự cứu rỗi của Ngài như sau:
1) Tha tội và làm cho sạch tội: Con Một của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Jesus Christ gánh thay hình phạt của tội nhân bằng cách chết thay cho tội nhân trên thập tự giá. Nhờ vào cái chết của Đấng Christ trên thập tự giá mà tội lỗi của toàn thể nhân loại – bao gồm tội lỗi trong quá khứ, hiện tại, lẫn tương lai – đều được Đức Chúa Trời tha thứ và bôi xóa:
"Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên." (Ê-sai 1:18)
"Ta đã xóa sự phạm tội ngươi như mây đậm, và tội lỗi ngươi như đám mây. Hãy trở lại cùng ta, vì ta đã chuộc ngươi." (Ê-sai 44:22)
"Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, Thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu." (Thi Thiên 103:12)
"Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng hiện nay Ngài sống, ấy là sống cho Đức Chúa Trời." (Rô-ma 6:10)
"Ấy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jêsus Christ một lần đủ cả." (Hê-bơ-rơ 10:10)
"Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta." (1 Giăng 1:7)
"Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác." (1 Giăng 1:9)
"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men." (Khải Huyền 1:6)
2) Tái sinh: Sau khi được tha tội và làm cho sạch tội, người thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời được Ngài tái sinh và ban cho quyền phép trở nên con cái của Ngài. Quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời là quyền phép thắng được điều dữ, làm được điều lành (Rô-ma 7:14-25).
"Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy." (Giăng 1:12, 13)
"Ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta được tái sinh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống." (1 Phi-e-rơ 1:3)
"Anh em đã được tái sinh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời." (1 Phi-e-rơ 1:23)
"Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần." (Rô-ma 8:37)
"Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta." (1 Cô-rinh-tô 15:17)
"Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn, và bởi chúng tôi, Ngài rải mùi thơm về sự nhận biết Ngài khắp chốn!" (2 Cô-rinh-tô 2:14)
"Vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta." (1 Giăng 5:4)
 
II. Dấu chứng của sự được thánh hóa
 
Thánh Kinh gọi những người đã được tái sinh là thánh đồ, tập thể của các thánh đồ được gọi "là dòng giống được lựa chọn, là chức vụ thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời" (1 Phi-e-rơ 2:9), là Hội Thánh.
Người đã được Đức Chúa Trời thánh hóa, nghĩa là đã được Ngài tha tội, làm cho sạch tội, và tái sinh thì không còn sống theo bản tính tội lỗi cũ nữa. Dấu chứng của một người đã được tái sinh là trái của Đức Thánh Linh phát sinh trong đời sống của họ:
"Nhưng trái của Đức Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ." (Ga-la-ti 5:22)
Thánh Kinh khẳng định lẽ thật về một người đã được tái sinh như sau:
"Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài." (Rô-ma 8:9)
Bởi vì, người được Đức Chúa Trời thánh hóa, tái sinh là người được dựng nên mới; bản tính tội lỗi cũ của xác thịt đã chết đi và bản tính thánh khiết mới đã được sinh ra bởi Đức Chúa Trời:
"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới." (2 Cô-rinh-tô 5:17)
Mọi sự đều trở nên mới có nghĩa là mới trong tâm linh, mới trong linh hồn, và mới trong thể xác.
Mới trong tâm linh là vì được tương giao với Đức Chúa Trời, được dẫn đắt bởi Đức Thánh Linh, được nhận biết Đức Chúa Trời.
"Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ." (1 Giăng 1:3)
"Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời." (Rô-ma 8:14)
"Nguyền xin ân điển và sự bình an được gia thêm cho anh em bởi sự nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus, là Chúa chúng ta!" (2 Phi-e-rơ 1:2
Mới trong linh hồn là vì sự yêu thương của Chúa đổ đầy trong chúng ta, khiến cho chúng ta có thể hết lòng yêu Chúa hơn tất cả mọi sự và yêu thương mọi người như chính mình, tha thứ ngay cả kẻ thù nghịch, chăm lo về quyền lợi của người khác hơn của mình, khiêm nhường, nhịn nhục, xem người khác là tôn trọng hơn mình, và có thể hy sinh mạng sống của mình để người khác có cơ hội nhận được sự cứu rỗi:
"Vả, sự trông cậy không làm cho hổ thẹn, vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta." (Rô-ma 5:5)
"Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu người lân cận như mình." (Lu-ca 10:27)
"Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi." (Ma-thi-ơ 5:44)
"Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa." (Phi-líp 2:4)
"Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình." (Phi-líp 2:3)
"Phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau." (Ê-phê-sô 4:2)
"Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình." (Giăng 15:13)
Mới trong thể xác có nghĩa là thân thể của chúng ta được dâng lên cho Đức Chúa Trời, trở nên đồ dùng của Đức Chúa Trời:
"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em." (Rô-ma 12:1)
"Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình." (Rô-ma 6:12, 13)
 
III. Dấu chứng của sự chưa được tái sinh
 
Trái của Đức Thánh Linh là thuộc tính của Đức Chúa Trời. Đối nghịch với trái của Đức Thánh Linh là trái của của tội lỗi, là thuộc tính của xác thịt. Người đã được tái sinh không thể có những trái của xác thịt trong đời sống:
"Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời." (Ga-la-ti 5:19-21)
Đối với những người tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhưng không chịu từ bỏ tội lỗi thì sự thánh hóa của Đức Chúa Trời không thể hoàn thành trong họ; nghĩa là cho dù họ tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, kêu cầu cùng Đức Chúa Trời nhưng nếu họ không chịu từ bỏ tội lỗi, vẫn sống theo bản tính của xác thịt, thì họ không được Đức Chúa Trời tái sinh! Những người như vậy, là những người bị Đức Thánh Linh cáo trách về tội lỗi nhưng không có lòng ăn năn tội. Một người không có lòng ăn năn tội là một người không muốn từ bỏ những thú vui của tội lỗi; hoặc quá tự ái, quá kiêu ngạo, không thể mặc lấy lòng nhu mì, khiêm nhường, và thương xót của Đấng Christ; không thể yêu thương, tha thứ cho người khác vô điều kiện như Chúa đã yêu thương và tha thứ mình. Những người như vậy là những người chưa được tái sinh; mà chưa được tái sinh là không có sự cứu rỗi, vì Đức Chúa Jesus Christ khẳng định:
"Nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời." (Giăng 3:5)
Nước là lễ báp-tem, là chịu dìm mình trong nước. Lễ báp-tem là hình bóng về sự chết, về sự đoán phạt con người cũ tội lỗi như xưa kia Đức Chúa Trời đã đoán phạt thế gian bằng cơn nước lụt (1 Phi-e-rơ 3:20, 21). Người có lòng ăn năn thống hối về tội lỗi sẽ bày tỏ lòng mình qua sự chịu lễ báp-tem. Thánh Linh là quyền phép của Đức Chúa Trời khiến cho kẻ chết được sống lại. Một người phải bằng lòng chết đi con người cũ của mình thì mới được Đức Chúa Trời tái sinh thành một con người mới.
 
Kết luận
 
Thánh hóa là một phần trong ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Tiếp nhận ân điển của Đức Chúa Trời có nghĩa là tiếp nhận sự thánh hóa của Ngài. Nhiều người chỉ muốn tiếp nhận sự tha tội của Đức Chúa Trời nhưng không chịu tiếp nhận sự làm cho sạch tội của Ngài; vì thế, dầu họ tuyên xưng đức tin nơi Chúa nhưng họ vẫn sống trong tội lỗi. Sứ Đồ Phao lô gọi đó là những kẻ có nếp sống thù nghịch thập tự giá.
"Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ." (Phi-líp 3:18)
Chúng ta hãy đối chiếu lòng mình với lời Chúa. Hãy nhờ Đức Thánh Linh chỉ ra những điều tội lỗi sâu kín trong linh hồn của chúng ta. Hãy hạ mình, nhu mì đón nhận sự quở trách, sửa trị của lời Chúa. Hãy làm theo lời Chúa, hãy tiếp nhận sự thánh hóa của Đức Chúa Trời. Hãy biết rằng, một ngày kia, mỗi chúng ta đều phải ứng hầu trước Đấng Thánh.
"Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại." (Hê-bơ-rơ 4:13)
"Vậy, hãy bỏ đi mọi điều ô uế, và mọi điều gian ác còn lại, đem lòng nhu mì nhận lấy lời đã trồng trong anh em, là lời cứu được linh hồn của anh em. Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình." (Gia-cơ 1:21, 22)
"Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy." (Ga-la-ti 6:7).
Chúa Nhật 28/01/2007

Share This:

Không Có Thì Giờ [Never found the time]

1,606 views

I knelt to pray, but not for long.
I had too much to do,
Must hurry off and get to work,
For bills would soon be due.
And so I said a hurried prayer,
Jumped up from off my knees.
My Christian duties now were done,
My soul could be at ease.
All through the day I had no time,
To speak a word of cheer;
No time to speak of Christ to friends,
They’d laugh at me I feared.
No time, no time, too much to do.
That was my constant cry;
No time to give to those in need –
At last was time to die.
And when before the Lord I came;
I stood with downcast eyes;
Within His hands He held a book
– It was the "Book of Life".
God looked into His book and said,
"Your name I cannot find,"
"I once was going to write it down,"
"But never found the time."

Author Unknown 

 Không Có Thì Giờ

Tôi đã quỳ cầu nguyện,
Nhưng không được bao lâu.
Phải đứng lên làm việc,
Nợ đang réo điên đầu.
Đâu cần nói lôi thôi,
Lời nguyện ngắn xong rồi.
Bổn phận tín đồ đủ
Linh hồn chắc được ngơi.
Lời Chúa Trời tuy tốt,
Nói ra e họ cười.
Thôi thì không nên thốt,
Để khỏi mất thì giờ.
Không có giờ cho tôi,
Có đâu cho kẻ khác.
Bận bịu suốt cả đời,
Rồi đến ngày tôi thác.
Cúi mặt lòng lo âu,
Trước Chúa tôi đứng hầu.
Tay cầm "Sách Sự Sống",
Ngài tìm kiếm hồi lâu.
Lắc đầu Chúa Trời phán:
"Tên ngươi không có đây!
Có lần Ta định chép,
Nhưng không rãnh một giây!"

Translated by Châu Sa

Share This: