Ý Chúa

1,478 views
I. Ý muốn của Đức Chúa Trời là mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật
Thánh Kinh cho biết tất cả mọi người đều đã phạm tội, nghĩa là loài người chống nghịch lại Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng nên muôn loài. Tội lỗi là không thờ phượng Đức Chúa Trời và vi phạm những tiêu chuẩn đạo đức của Ngài. Thánh Kinh khẳng định lòng người là xấu xa và dối trá hơn muôn vật, không ai có thể dò biết được, và chính chúng ta cũng nhận biết sự thật phủ phàng đó, [1]. Tội lỗi gây ra đau khổ, bất công, và dẫn đến sự chết, [2]. Sự chết mà chúng ta đang nhìn thấy mỗi ngày và chắc chắn một ngày kia chính mình sẽ trải qua chỉ là sự phân rẽ tạm thời giữa linh hồn và thể xác của chúng ta, đã là kinh khiếp, nhưng Thánh Kinh cho biết, còn có một sự chết nữa, gọi là sự chết thứ hai. Một ngày kia, Đức Chúa Trời sẽ tiêu diệt thế gian tội lỗi này và Ngài sẽ khiến mỗi người sống lại trong một thân xác mới để ra trước tòa phán xét về mỗi việc đã làm trong khi đang sống trong thế gian. Vì Đức Chúa Trời là công chính cho nên mỗi người sẽ bị hình phạt tùy theo từng tội đã phạm; nhưng bản án chung là đời đời bị xa cách Chúa và bị giam giữ trong hỏa ngục. Thánh Kinh gọi đó là sự chết thứ hai, [3].
Tuy nhiên, vì Đức Chúa Trời là tình yêu, và Ngài yêu thương loài người trên hết mọi sự, cho nên Đức Chúa Trời đã ban cho loài người sự cứu rỗi. Sự cứu rỗi đó được thực hiện bằng cách Con Một của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Jesus phải nhập thế làm người để chết thay cho cả nhân loại. Cái chết của Đức Chúa Jesus trên thập tự giá thỏa mãn sự công chính của Đức Chúa Trời là tội lỗi phải bị hình phạt nhưng cũng bày tỏ tình yêu của Ngài đối với nhân loại, vì nhờ sự chết của Đức Chúa Jesus mà nhân loại được tha tội và làm cho sạch tội. Vì thế, thánh ý đầu tiên của Đức Chúa Trời đối với nhân loại đang chết mất trong tội lỗi là: Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật.
Được cứu rỗi là được cứu ra khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi. Được cứu ra khỏi sức mạnh của tội lỗi là được cứu ra khỏi sự phạm tội. Được cứu ra khỏi hậu quả của tội lỗi là được cứu ra khỏi hỏa ngục vì Đức Chúa Jesus đã gánh chịu hình phạt thế cho nhân loại. Để nhận được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, tội nhân phải ăn năn tội, tức là thật lòng muốn từ bỏ tội, và tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus.
Hiểu biết lẽ thật là hiểu biết số phận hư mất của loài người và hiểu biết rằng, ngoài sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, loài người không thể tự cứu và cũng không thể nhờ ai khác cứu mình ra khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi.
"Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật." (1 Ti-mô-thê 2:4)
"Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời." (Giăng 3:16)
"Đây là ý muốn của Cha ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt." (Giăng 6:40)
"Nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta, là Đấng phó mình vì tội lỗi chúng ta, hầu cho cứu chúng ta khỏi đời ác nầy, y theo ý muốn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta." (Ga-la-ti 1:3, 4)
"Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn." (2 Phi-e-rơ 3:9)
 
II. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta được làm con nuôi của Ngài
Khi một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus trên thập tự giá thì người ấy lập tức nhận được sự tha tội và sự làm cho sạch tội, được ban cho quyền làm con của Đức Chúa Trời. Được ban cho quyền làm con của Đức Chúa Trời là được Ngài nhận làm con nuôi và đồng kế nghiệp với Con Một của Ngài là Đức Chúa Jesus. Kế nghiệp có nghĩa là được hưởng tất cả những gì thuộc về Đức Chúa Trời, từ sự vinh hiển, quyền phép cai trị, và sự giàu có vô lượng vô biên, cho đến sự sống đời đời, [4].
"12 Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài,13 là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy." (Giăng 1:12, 13)
"3 Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời, 4 trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, 5 bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài, 6 để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài!" (Ê-phê-sô 1:3-6)
"Ấy cũng là trong Ngài mà chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp, như đã định trước cho chúng ta được điều đó, theo mạng của Đấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán." (Ê-phê-sô 1:11)
 
III. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta phải nên thánh
Thánh khiết là thuộc tính của Đức Chúa Trời. Khi Ngài ban quyền làm con cho những ai thực lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Ngài qua Đức Chúa Jesus thì Ngài cũng ban luôn cho họ sự thánh hóa nghĩa là làm cho họ được sạch tội và trở nên trọn vẹn như chính mình Ngài, [5]. Chúng ta không thể tự mình làm nên thánh nhưng phải nhờ vào huyết chuộc tội của Đức Chúa Jesus rửa sạch tội lỗi chúng ta, nhờ vào quyền năng tái sinh của Đức Thánh Linh để dựng lại một tâm thần mới, một lương tâm trong sạch cho chúng ta, và nhờ vào lời hằng sống của Chúa là Thánh Kinh, [6].
"Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời," (Ê-phê-sô 1:4)
"Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:3)
"Bởi chưng Đức Chúa Trời chẳng gọi chúng ta đến sự ô uế đâu, bèn là sự nên thánh vậy." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:7)
 
IV. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta phải tạ ơn Chúa trong mọi sự
Đức tin của chúng ta được thể hiện khi chúng ta tạ ơn Chúa trong mọi sự. Cuộc sống của người tin nhận Chúa dường như có những đau đớn, khó khăn, hoạn nạn, thiếu thốn, bắt bớ… có khi còn nhiều hơn cả những người không tin nhận Chúa; nhưng nếu hai con chim sẻ chỉ đáng giá một đồng tiền không thể rơi xuống đất nếu không bởi ý Chúa thì làm sao có điều gì xảy ra trong đời sống của chúng ta mà không nằm trong thánh ý của Chúa? [7]. Mà nếu Chúa đã cho phép một sự gì xảy ra trong đời sống của chúng ta thì chắc chắn điều đó là phước hạnh. Dĩ nhiên, nếu chúng ta phạm tội thì sẽ gánh lấy hậu quả của sự phạm tội, và Chúa cho phép hậu quả đó xảy ra là vì sự công chính của Ngài, đồng thời cũng là sự sửa phạt của Ngài để khiến chúng ta ăn năn, [8].
"Trong mọi sự phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:18)
"Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra." (Hê-bơ-rơ 13:15)
"Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định." (Rô-ma 8:28)
"6 Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. 7 Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ." (Phi-líp 4:6, 7)
 
V. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta phải làm mọi việc lành
Đức Chúa Trời là thiện; sự nhơn từ Ngài còn đến đời đời! Vì vậy mọi việc Đức Chúa Trời làm là tốt lành, và Ngài cũng sắm sẵn cho chúng ta những việc tốt lành để làm theo Ngài. Khi chúng ta làm những việc lành là chúng ta bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời cho mọi người, khiến cho họ tôn vinh Chúa và khiến cho những kẻ không tin phải ngậm miệng trước sự thiện và sự nhơn từ của Đức Chúa Trời chiếu sáng qua các việc lành của chúng ta.
"Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời." (Ma-thi-ơ 5:16)
"Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo." (Ê-phê-sô 2:10)
"Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời." (1 Phi-e-rơ 2:15)
 
VI. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta phải chịu khổ trong khi làm lành
Trong khi làm lành, chắc chắn chúng ta sẽ chịu khổ. Khổ vì chịu khó khăn, thiếu thốn để giúp người khác, khổ vì bị ganh tỵ, khổ vì không chìu theo những sự sai trái, bất công, độc ác… Nhưng lời Chúa hứa chắc cho chúng ta rằng sự vinh hiển và Thánh Linh của Chúa ở cùng chúng ta, và sự vui mừng lớn sẽ ban cho chúng ta trong ngày Đấng Christ trở lại.
"Đó đủ chứng cớ về sự đoán xét công bình của Đức Chúa Trời, Ngài muốn khiến anh em nên xứng đáng cho nước Ngài, và vì nước đó mà anh em chịu khổ." (2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:5)
"12 Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. 13 Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót. 14 Ví bằng anh em vì cớ danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì anh em có phước; vì sự vinh hiển và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đậu trên anh em." (1 Phi-e-rơ 4:12-14)
"Vậy những kẻ chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy cứ làm lành mà phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín." (1 Phi-e-rơ 4:19)
"Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ." (2 Ti-mô-thê 3:12)
 
VII. Ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta không bị lạc đạo nhưng lấy lòng yêu thương rao giảng lẽ thật
Đây là một điều vô cùng quan trọng đối với con dân của Chúa. Đức Thánh Linh đã khẳng định Satan có thể mạo làm thiên sứ sáng láng và Ngài cũng báo trước trong những ngày sau rốt sẽ có sự bội đạo. Đức Chúa Jesus đã cảnh giác chúng ta hãy coi chừng Christ giả, tiên tri giả…, [9] vì vậy, sự lầm lạc dẫn đến sự bội đạo là điều ắt sẽ xảy ra; nhưng ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta không bị mắc mưu của ma quỹ, không bị lạc đạo, mà là đứng vững trong ơn Chúa để rao giảng lẽ thật của Ngài trong tình yêu thương.
"14 Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc, 15 nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ." (Ê-phê-sô 4:14, 15)
 
Kết luận
Chúng ta hãy cùng nhau suy gẫm về bảy thánh ý của Chúa đã trình bày trên đây. Xin Chúa cho chúng ta nhận biết mình đang ở đâu trong sự làm theo ý Chúa. Chúng ta đã được Đức Chúa Trời cứu rỗi nhưng chúng ta phải có lòng ăn năn tội và tiếp nhận ơn cứu rỗi của Ngài thì chúng ta mới có sự cứu rỗi. Có sự cứu rỗi rồi, chúng ta phải tiếp tục vâng phục Chúa, làm theo thánh ý của Ngài thì chúng ta mới được tiếp tục ở trong sự cứu rỗi của Ngài; đó là ý nghĩa của câu: "Đức tin phải thể hiện qua việc làm". Bởi vì: Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu;Nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. (Ma-thi-ơ 7:21)
"Vậy chớ nên như kẻ dại dột, nhưng phải hiểu rõ ý muốn của Chúa là thế nào." (Ê-phê-sô 5:17)
"Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào."
(Rô-ma 12:2)
"Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời." (1 Giăng 2:17)
 

14/01/2007

Chú thích:
[1] Rô-ma 1:18-32; 3:23; Giê-rê-mi 17:9.
[2] Rô-ma 6:23; Hê-bơ-rơ 9:27.
[3] 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9; Khải Huyền 20:11-15; 21:8.
[4] Ê-phê-sô 1:14, 18; Cô-lô-se 1:12; 3:24; Hê-bơ-rơ 1:14; 9:15; 1 Phi-e-rơ 1:4; Khải Huyền 21:7; Rô-ma 8:17; Tít 3:7; Gia-cơ 2:5; Giăng 17:22; 2 Phi-e-rơ 1:4; Khải Huyền 3:12; Giăng 3:16; 1 Phi-e-rơ 1:3, 4.
[5] Khải Huyền 1:6; Hê-bơ-rơ 10:10, 14, 29; 13:12; Ma-thi-ơ 5:48; Giăng 17:17.
[6] Thi Thiên 51:10; Rô-ma 12:2; Hê-bơ-rơ 9:14; 10:22; 1 Phi-e-rơ 3:4.
[7] Ma-thi-ơ 10:29; Lu-ca 12:6.
[8] 1 Cô-rinh-tô 1:32; Hê-bơ-rơ 12:5-11; Khải Huyền 3:19.
[9] 2 Cô-rinh-tô 11:14, 15; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3; 2 Ti-mô-thê 3:1-13; Ma-thi-ơ 24:24, 25.

Share This:

Khát vọng đầu năm

1,566 views
I. Nguyên cớ của khát vọng
Chữ "mơ ước" và "thèm khát" trong câu "Đức Chúa Trời ôi! linh hồn tôi mơ ước Chúa,
Như con nai cái thèm khát khe nước.
" trong nguyên tác của Thánh Kinh đều là cùng một chữ, và có nghĩa là "kêu van, mong đợi".
Khát vọng trong tiếng Hán Việt có nghĩa là thèm muốn và mong ngóng. Người ta có thể thèm muốn nhưng không mong ngóng. Một người có thể thèm ăn cơm vì đã chán ăn hambergers; sự thèm ăn cơm đó phát xuất từ sở thích, có thì tốt, không có cũng không sao. Nhưng đối với một người tù bị bỏ đói trong trại cải tạo thì sự thèm ăn của anh ta là một khát vọng; khi thèm ăn vì bị bỏ đói thì bất kỳ thức ăn nào cũng trở thành tuyệt vời và cần thiết. Nhu cầu phát sinh ra khát vọng.
Trước hết, Đức Chúa Trời là nhu cầu của chúng ta. Chúng ta không chỉ ưa thích, yêu mến Chúa mà chúng ta còn cần có Chúa. Chúa đối với chúng ta quan trọng và cần thiết như dòng nước mát trong khe đối với một con nai cái đang thiếu nước. Hình ảnh con nai cái được dùng ở đây có một ý nghĩa hết sức linh động. Khi nai cái có mang, thường vào mùa khô, nước trở nên khan hiếm mà cơ thể của nó thì cần rất nhiều nước trong khi đang mang thai. Bình thường nai cái không cần phải ở quanh quẫn ở những nơi có nước, nhưng khi có mang, nai cái chọn ở gần bên cạnh chỗ khe nước trong lành, tươi mát để lúc nào cũng được xoa dịu cơn khát.
Tác giả Thi Thiên 42 tự ví sự thèm khát Chúa của mình như sự thèm khát khe nước của một con nai cái vì ông muốn nói lên rằng, Chúa là sự sống của ông, ông thèm khát Chúa, nguồn của sự sống, và ông muốn được ở gần bên Chúa, vì ông không thể thiếu Chúa.
Về mặt cuộc sống vật chất, chúng ta có thể có nhiều khát vọng khác nhau về vật chất trong cuộc đời này. Nhưng về mặt cuộc sống tâm linh, chúng ta chỉ có một khát vọng duy nhất mà thôi, đó là khát vọng về Đức Chúa Trời, vì Chúa là tất cả của chúng ta! Trong Chúa chúng ta có mọi sự!
"Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?" (Rô-ma 8:32)
 
II. Đối tượng của khát vọng
Đối tượng của sự thèm khát, mong ngóng được nêu rõ là Đức Chúa Trời nhưng không phải là một Đức Chúa Trời nào đó của bao nhiêu tôn giáo, tín ngưỡng trong thế gian này, mà là "Đức Chúa Trời Hằng Sống". Đức Chúa Trời Hằng Sống là Đức Jehovah, Đấng Tự Có và Còn Đến Mãi Mãi, Đấng Đời Đời, Đấng Cội Nguồn Của Muôn Vật, là Đấng mà "ở trong Ngài chúng ta được sống, động, và có" (Công Vụ 17:26), là Đấng mà tác giả Hê-bơ-rơ đã tuyên xưng:
"Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại." (Hê-bơ-rơ 4:13).
Đối tượng của khát vọng không phải là những phước hạnh Chúa ban cho chúng ta mà là chính bản thể của Chúa, là sự thánh khiết, sự công chính, và sự yêu thương của Ngài. Chúng ta thèm khát sự thánh khiết đẹp đẽ của Chúa, chúng ta thèm khát sự công chính uy nghi của Chúa, và chúng ta thèm khát sự yêu thương ngập tràn nhân từ và thương xót của Chúa. Chính vì sự thèm khát Đức Chúa Trời của chúng ta mà Ngài ban cho chúng ta chính mình Ngài qua "lời hứa rất quý lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bổn tánh Đức Chúa Trời." (2 Phi-e-rơ 1:4).
Vì đối tượng của khát vọng là Đức Chúa Trời nên khi tìm đến Ngài chúng ta không thể "đi tay không ra mắt Ngài", [1]. Chúng ta phải ra mắt Chúa với lễ vật. Những lễ vật đẹp lòng Đức Chúa Trời và phải có khi chúng ta ra mắt Chúa đó là: "lòng đau thương thống hối" về tội lỗi của chúng ta, sự vâng lời của chúng ta, và sự nhân từ thương xót của chúng ta đối với những người lân cận.
"Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu." (Thi Thiên 51:17)
"Đức Giê-hô-va há đẹp lòng của lễ thiêu và của lễ thù ân bằng sự vâng theo lời phán của Ngài ư? Vả, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ; sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực." (1 Sa-mu-ên 15:22)
"Hãy đi, và học cho biết câu nầy nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ. Vì ta đến đây không phải để kêu kẻ công bình, song kêu kẻ có tội." (Ma-thi-ơ 9:13)
 
III. Chiều sâu của khát vọng
Tín đồ của các tôn giáo trong thế gian không thể nào có khát vọng về các thần tượng mà họ đang thờ lạy. Họ không có một sự tương giao nào với những thần tượng hư không vì chúng nó không có thật. Những sự thờ phượng, kêu xin của họ trước các thần tượng hư không ấy chỉ để bày tỏ những thèm khát về nhu cầu của thể xác và cuộc sống vật chất mà thôi.
Trong tâm thần của một ngưòi không có Chúa, họ chẳng nhận biết được Đức Chúa Trời, vì tâm thần họ đang chết. Khi kinh nghiệm được sự cứu rỗi của Chúa, tâm thần được Chúa tái sinh, thì một ngưòi mới có thể nhận biết Chúa và khao khát Chúa.
Khát vọng về Đức Chúa Trời, vì thế, chỉ thuộc về con dân của Chúa. Khát vọng về Đức Chúa Trời, vì thế, không phải là một khát vọng phát xuất từ nhu cầu của thân thể hay sự sống vật chất, mà là một nỗi khát vọng phát xuất từ nhu cầu sâu kín trong linh hồn của một người. Khát vọng về Đức Chúa Trời, vì thế, hoàn toàn là một khát vọng thuộc linh.
Khát vọng thuộc linh sẽ được thoả mãn một cách thuộc linh. Chính Đấng Christ đã hứa:
"Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy." (Giăng 7:37, 38)
 
Kết luận
Chúng ta hãy cùng nhau bắt đầu một năm mới với khát vọng về Đức Chúa Trời. Hãy làm mới lại tình yêu thuở ban đầu chúng ta đã dành cho Chúa. Hãy dọn lòng thật sạch để nhận đầy sức sống mới dư dật từ nơi Chúa. Hãy dành thêm thời gian trong ngày để tương giao với Chúa. Hãy tìm Chúa, yêu Chúa, và nhớ Chúa trong mọi nơi, mọi lúc! Hãy chuẩn bị mọi lễ vật đẹp lòng Chúa! Hãy nôn nao, và khắc khoải thưa với Chúa rằng: Lạy Chúa! cho đến chừng nào con mới được ra mắt Chúa?
Ngài là Đấng hay thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài! (Hê-bơ-rơ 11:6).
Huỳnh Christian Timothy
07/01/2007
Chú thích:
[1] Xuất-ê-díp-tô Ký 23:15; 34:20; Phục Truyền 16:16.

Share This:

A. W. Tozer: Cần Thiết Và Nguy Hiểm Của Tổ Chức

1,816 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Về cơ bản mà nói, tổ chức là sự sắp đặt nhiều phần của một tổng thể vào trong một mối quan hệ với nhau để có thể đạt được mục đích tối hậu. Điều này có thể đạt được, bởi sự nhất trí hay sự cưỡng bách, tùy thuộc vào các hoàn cảnh. Một mức độ tổ chức nào đó là cần thiết ở khắp nơi xuyên suốt cõi vũ trụ được tạo dựng và trong mọi xã hội loài người. Không có nó sẽ không có khoa học, không có chính phủ, không có các đơn vị gia đình, không có nghệ thuật, âm nhạc, văn chương, cũng như không có bất kỳ hoạt động sáng tạo nào.

Cuộc sống đòi hỏi sự tổ chức. Không có điều gì giống như sự sống ngoại trừ những môi trường mà trong đó có thể hiện ra được chính mình. Nó không thể tồn tại như là một chi thể độc lập khỏi một thân thể có tổ chức. Sự sống chỉ được tìm thấy nơi nào có thân thể, trong một hình hài nào đó mà nó có thể trú ngụ. Và nơi nào có thân thể và các hình thể, nơi đó có sự tổ chức. Chẳng hạn như một con người là tổng thể các bộ phận được tổ chức và liên kết lại, và qua những bộ phận này, huyền nhiệm của sự sống hội đủ điều kiện để hiện hữu. Khi các bộ phận, vì bất cứ lý do gì đó, trở nên hỗn độn, không còn tổ chức nữa, sự sống lìa khỏi và con người sẽ chết đi.

Xã hội đòi hỏi sự tổ chức. Nếu con người phải sống với nhau trên thế giới này, thì họ phải được tổ chức trong một hình thức nào đó. Điều này đã được ghi nhận qua mọi thời đại cũng như mọi nơi chốn và được nhận thấy trên mọi cấp bậc của xã hội loài người từ những bộ lạc sống trong rừng rậm cho đến những thể chết trên toàn cầu. Một cách lý tưởng mà nói, mục đích của chính phủ là để đạt được trật tự với sự ràng buộc tối thiểu trong khi đảm bảo sự tự do tối đa cho từng cá nhân.

Việc có một số giới hạn sự tự do của cá nhân là tốt và cần thiết đã được thừa nhận bởi tất cả những con người thông minh; việc có quá nhiều hạn chế là xấu cũng được mọi người thừa nhận. Sự bất đồng nổi lên khi chúng ta cố gắng định nghĩa những từ ngữ tương đối như “một số”, “quá nhiều”, hay “quá ít”. Thế thì quá nhiều là nhiều bao nhiêu? Và một số là ít bao nhiêu? Nếu điều này có thể giải quyết được, hòa bình sẽ bất ngờ viếng thăm quốc hội và nghị viện, đảng Dân chủ và những người tự do sẽ nằm xuống với đảng Cộng hòa và những người bảo thủ, rồi một đứa bé cũng có thể lãnh đạo toàn quốc.

Sự khác biệt giữa tình trạng nô lệ và sự tự do chỉ có một chút xíu mà thôi. Ngay cả những nước chuyên chế còn có một chút tự do, và các công dân của những nước tự do phải cam chịu một số hạn chế nào đó. Chính sự cân nhắc giữa hai điều này quyết định một nước nào đó là nô lệ hay tự do. Không một công dân sáng suốt nào tin rằng mình tuyệt đối tự do. Người đó biết rằng sự tự do của mình phải bị cắt giảm như thế nào đó vì lợi ích của tất cả mọi người. Điều tốt nhất có thể hy vọng được là sự giới hạn đó sẽ được giữ ở mức tối thiểu. Sự giới hạn tối thiểu này loài người gọi là “Tự Do”, và thật quý giá làm sao khi con người sẵn sàng mạo hiểm sự sống mình vì nó. Thế giới phương Tây đã có hai cuộc chiến lớn trong vòng 25 năm để gìn giữ cán cân của sự tự do và thoát khỏi những ràng buộc mà chủ nghĩa đế quốc xã và chủ nghĩa quân phiệt toan áp đặt lên nó.

Có Chúa làm trung tâm và hướng về Hội Thánh trong tư tưởng của mình, tôi đã và đang trải qua nhiều năm lo lắng vì khuynh hướng tổ chức cộng đồng Cơ Đốc cách thái quá, và vì lý do này tôi đã khiến nó quay sang chống lại tôi. Người ta cho rằng tôi không tin nơi sự tổ chức. Sự thật hoàn toàn khác.

Người nào muốn chống lại mọi sự tổ chức trong Hội Thánh thì cần phải là người ngu dốt về những thực tế của sự sống. Nghệ thuật là cái đẹp được tổ chức; Âm nhạc là âm thanh được tổ chức; Triết học là tư tưởng có tổ chức; Khoa học là tri thức được tổ chức; Chính phủ cũng chỉ là một xã hội được tổ chức. Và Hội Thánh thật của Đấng Christ là gì nếu không phải là một huyền nhiệm được tổ chức?

Trái tim đang đập của Hội Thánh là sự sống – trong một câu nói của Henry Scougal, “Sự sống của Đức Chúa Trời trong linh hồn của con người.” Sự sống này, cùng với sự hiện diện thật của Đấng Christ trong Hội Thánh, cấu thành Hội Thánh như một điều rất thiêng liêng, một huyền nhiệm, một phép lạ. Nhưng nếu không có thực thể, hình hài và trật tự, sự sống thiêng liêng này sẽ không có nơi trú ngụ, và nó không có cách gì để thể hiện chính mình cho cộng đồng.

Vì lý do đó, Thánh Kinh Tân Ước nói nhiều đến sự tổ chức. Các thư tín có tính chất mục vụ của Phao-lô và những lá thư ông viết cho tín hữu Cô-rinh-tô cho thấy vị sứ đồ vĩ đại là một nhà tổ chức. Ông nhắc nhở Tít rằng ông đã để Tít ở Cơ-rết để thiết lập trật tự cho mọi việc đang xáo trộn và sắp xếp các trưởng lão trong mỗi thành phố. Điều này rõ ràng chỉ có nghĩa là Tít đã được vị sứ đồ của chúng ta ủy nhiệm để sắp đặt trật tự trên những nhóm tín hữu khác nhau sống trên đảo, và chỉ có thể qua tổ chức mới có được trật tự.

Cơ Đốc nhân có khuynh hướng đi lang thang theo một số hướng vì họ không hiểu mục đích của sự tổ chức hay những mối nguy hiểm theo sau nó nếu như nó tuột khỏi tầm tay. Một số không có sự tổ chức gì cả, và tất nhiên, hậu quả là sự lẫn độn và vô trật tự; những điều này hoàn toàn không thể giúp loài người đem vinh hiển đến cho Chúa. Những người khác thì thay thế sự tổ chức cho sự sống, và trong khi cái tên còn sống thì họ đã chết rồi. Còn những người khác trở nên say sưa với các luật lệ và quy tắc đến độ họ tăng chúng lên mà không có một lý do nào cả, rồi chẳng bao lâu sau tính tự phát sẽ bùng lên trong Hội Thánh, và sự sống bị tống khứ ra khỏi đó.

Chính sai lầm này là điều mà tôi lo lắng nhất. Nhiều nhóm Hội Thánh đã tàn lụi do sự tổ chức nhiều quá mức, cũng như những hội khác do sự tổ chức quá ít ỏi. Những nhà lãnh đạo Hội Thánh thông minh sẽ phòng ngừa cả hai thái cực đó. Một người có thể chết do hậu quả của việc áp huyết quá thấp, cũng như khi áp huyết quá cao. Vấn đề quan trọng trong tổ chức Hội Thánh là khám phá được sự quân bình của Thánh Kinh giữa hai thái cực đó (quá chú trọng tổ chức và vô tổ chức) và tránh xa chúng. Thật là đau lòng khi thấy một nhóm Cơ Đốc nhân phước hạnh, hình thành rất giản dị và được cột chặt bởi dây đai của tình yêu thiên thượng, từ từ mất dần đặc tính giản dị của họ, bắt đầu cố gắng bình thường hóa từng sự thúc đẩy ngọt ngào của Thánh Linh và chết dần từ bên trong. Nhưng đó lại là cái hướng mà hầu như tất cả các hệ phái Cơ Đốc đã đi trong suốt lịch sử, và bất chấp những lời cảnh tỉnh bởi Đức Thánh Linh cũng như lẽ thật Kinh Thánh, đây vẫn là cái hướng mà hầu hết các nhóm Hội Thánh ngày nay đang đi.

Theo thông thường thì khi Hội thánh gặp phải mối nguy hiểm nào đó đang xảy ra trong tình trạng tổ chức bị xáo trộn và muốn kềm chế nó thì điều đầu tiên là làm ngược lại sự tổ chức hiện đang có, và chạy ùa vào sự phức tạp để thay đổi giống như bầy vịt chạy ào xuống ao. Điều nầy xuất phát từ một ước muốn, tự nhiên nhưng xác thịt, của một nhóm thiểu số những người được ơn. Họ mong muốn đưa số đông còn lại của những người ít được ơn hơn trong Hội Thánh vào một chỗ, để rồi đẩy những người thiếu ơn nầy đến nơi nào đó để những người này sẽ không chặn đứng đường tiến của những khát vọng cao xa mà họ có.

Một nguyên nhân khác cho sự tổ chức thái quá và nặng nề của chúng ta là sự sợ hãi. Các Hội Thánh và các cộng đồng được những người biệt riêng ra để thiết lập với lòng can đảm, đức tin và một trí tưởng tượng được thánh hóa có vẻ đã không thể tự phát triển với cùng một mức độ thuộc linh trước đó chỉ một hay hai thế hệ. Những tổ phụ thuộc linh đã không thể sản sinh trong hậu duệ mình lòng can đảm và đức tin ngang bằng với của họ. Những tổ phụ đó có Đức Chúa Trời và có rất ít những điều khác, nhưng hậu duệ của họ đã đánh mất khải tượng mình và đang tìm kiếm những phương pháp cũng như những cơ cấu tổ chức vì quyền lực mà lòng họ bảo rằng họ đang thiếu. Rồi thì những quy luật và quyền ưu tiên đông cứng lại thành một cái vỏ bọc, nơi mà họ có thể trốn chạy khỏi vấn đề. Lúc nào việc rúc đầu chạy trốn cũng dễ hơn và an toàn hơn việc đứng ra tranh đấu trên chiến trường.

Trong toàn bộ đời sống sa ngã của chúng ta có một hấp lực mạnh mẽ hướng về sự phức tạp và đẩy xa những điều giản dị, thực tế. Dường như có một điều gì đó thật đáng buồn và không thể chối cãi được đang ở đằng sau sự ham muốn bệnh hoạn của chúng ta hướng về sự tự sát thuộc linh. Chỉ bởi cái nhìn tiên tri sáng suốt, sự thức canh và cầu nguyện cùng với công việc chăm chỉ mới có thể giúp chúng ta đảo ngược xu hướng đó và khôi phục lại vinh quang đã mất. Trong một nghĩa trang cổ gần Plymouth Rock, nơi những tín đồ Thánh Giáo Anh yên nghỉ, có một hòn đá được khắc mấy chữ trang trọng như sau (tôi nhớ sao thì ghi lại vậy): “Những gì cha ông chúng ta đã trả giá rất đắt để giữ gìn, thì chúng ta không được nông nổi vứt bỏ đi.” Vào giai đoạn cuối thế kỷ này, những người Tin Lành chúng ta cần phải thông minh mà áp dụng những lời này cho tình trạng tôn giáo của mình. Chúng ta vẫn là những người theo đạo Tin Lành. Chúng ta phải chống lại sự lìa bỏ tự do tôn giáo của chúng ta. Sự tự do giản dị của Cơ Đốc giáo đầu tiên là điều chúng ta đã đánh mất. Từng cái một, chúng ta đang bỏ rơi những quyền đã được chính Chúa mua bởi huyết của giao ước đời đời cho chúng ta, đó là quyền được sống thật, quyền được vâng theo Thánh Linh, quyền được suy nghĩ những tư tưởng riêng tư của chúng ta, quyền được làm những gì chúng ta muốn với cuộc đời mình, quyền quyết định dưới ý muốn của Đức Chúa Trời việc chúng ta sẽ phải làm gì với tiền của mình. 

Và xin nhớ rằng, những mối hiểm họa trong hiện tại của chúng ta không đến từ bên ngoài, bèn là từ bên trong chúng ta.

 

Share This:

Tính sổ cuộc đời

1,648 views
Những sự dại dột lớn nhất của loài người
Trong tất cả những sự dại dột của loài người, nói chung, sự không nhận biết Đức Chúa Trời là sự dại dột lớn nhất – Thánh Kinh khẳng định: "Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: không có Đức Chúa Trời!" – sự dại dột lớn thứ nhì của loài người là không biết chuẩn bị cho ngày chết. Chuẩn bị cho ngày chết không có nghĩa là bỏ tiền ra mua bảo hiểm nhân thọ để thân nhân còn lại có phương tiện xoay sở một khi mình ra đi, hay mua trước một phần đất trong nghĩa trang và để dành ra một số tiền đủ chi phí cho việc an táng. Chuẩn bị cho ngày chết là chuẩn bị cho một cuộc chuyển tiếp từ nơi ở tạm trăm năm của đời này vào trong nơi ở vĩnh viễn của đời sau.
Sự thực hữu đời đời của loài người
Nhiều triết lý và ngay cả tôn giáo cho rằng con người khởi đầu khi được sinh ra và chấm dứt sau khi chết. Theo những triết lý đó, trong khoảng thời gian của một đời người trên thế gian, con người sống theo bản năng như loài thú. Người chẳng qua là một loài thú cao cấp, khôn ngoan hơn, biết sống có tổ chức và hợp quần hơn các loài thú khác.
Tuy nhiên, thực tế chứng minh loài người khác hẳn loài thú. Loài người không chỉ đơn thuần khôn ngoan hơn loài thú mà loài người biết tư tưởng, biết đạo đức, biết hy sinh cho phúc lợi của người khác, biết có Đức Chúa Trời, biết thờ phượng, và có ý thức về sự đời đời. Từ ý thức về sự đời đời dẫn đến khái niệm về một Đức Chúa Trời đời đời, nghĩa là có một thực thể cao siêu tuyệt đối, toàn năng, toàn trí, toàn tại, toàn hữu (một mình trên hết mọi sự, không có điều gì không thể làm, không có điều gì không biết, không có nơi nào không hiện diện, không có bắt đầu và không có chấm dứt).
Thánh Kinh cho biết Đức Chúa Trời đặt để sự đời đời vào trong lòng người cho nên người mới có khái niệm về sự đời đời để có thể nhận thức được Đấng Đời Đời, là Đức Chúa Trời, và công việc của Ngài:
Ngài đã tạo dựng muôn vật tốt lành trong thì của chúng. Ngài cũng khiến cho sự đời đời ở nơi lòng họ, nếu không có sự ấy thì người không thể tìm thấy công việc Đức Chúa Trời làm từ ban đầu, thậm chí cho đến cuối cùng.
(Truyền Đạo 3:11 – Tác giả dịch sát nghĩa)
He has made everything beautiful in its time. Also, He has set eternity in their heart, without which man cannot find out the work that God makes from the beginning even to the end.
(Ecclesiastes 3:11 – Literal Translation of the Holy Bible)
Cũng qua Thánh Kinh, chúng ta biết loài người được Đức Chúa Trời sáng tạo và loài người sẽ còn lại cho đến đời đời. Khoa học chứng minh vật chất không suy tàn, không biến mất mà chỉ biến dạng theo những định luật lý hóa. Loài người có phần xác thịt thuộc về vật chất và phần tâm linh (tâm thần và linh hồn). Dầu khi qua đời thân xác vật chất của loài người có bị tan rã, phân hóa nhưng những yếu tố vật chất cấu tạo nên một người vẫn còn đó, và một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ gọi tất cả mọi người sống lại trong một thân xác mới. Phần tâm thần của loài người là cái nhau nối kết loài người với Đức Chúa Trời, qua đó, loài người nhận biết Chúa, nghe được tiếng Chúa, ghi khắc hình ảnh của Chúa – nghĩa là ghi khắc sự yêu thương, thánh khiết, công chính của Ngài trong lương tâm – và thờ phượng Chúa. Phần linh hồn là bản thể cốt lõi của loài người, là cái tôi, với các chức năng suy luận, cảm xúc, và ý chí. Linh hồn của loài người quyết định ở trong Chúa, nối kết với Chúa, vâng phục Chúa hoặc sống độc lập, tách rời Chúa, đi theo ý riêng. Thánh Kinh gọi quyết định tách rời Chúa, đi theo ý riêng, không vâng phục Chúa là tội lỗi và tuyên phán: "Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết!" (Ê-xê-chi-ên 18:4).
Ý nghĩa của sự chết trong Thánh Kinh
Đối với các triết lý vô thần thì chết là hết! Nhưng Thánh Kinh định nghĩa sự chết rất rõ ràng như sau: Chết có nghĩa là bị cắt đứt với cội nguồn của sự sống là Đức Chúa Trời. Thánh Kinh cho biết có hai sự chết gọi là sự chết thứ nhất và sự chết thứ hai. Sự chết thứ nhất xảy ra khi loài người phạm tội. Hình thức của sự chết thứ nhất là tâm thần bị cắt đứt mối tương giao với Đức Chúa Trời, không còn nhìn biết và thờ phượng Ngài; linh hồn mất đi khả năng yêu thương, công chính, và thánh khiết, khiến loài người tranh chấp và hận thù lẫn nhau; thân xác bị bệnh tật, già yếu, giết chóc mà không còn khả năng kết nối với linh hồn nữa. Trong khi tiến trình của sự chết thứ nhất xảy ra, Đức Chúa Trời ban cho loài người cơ hội được sống lại và sống đời đời trong hạnh phúc nếu loài người chịu tiếp nhận ơn cứu rỗi của Ngài. Thánh Kinh chép:
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài; hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.
(Giăng 3:16)
Tuy nhiên, thế gian luôn luôn có bốn loại người. Loại thứ nhất sẽ không bao giờ tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời vì thần của đời này là ma quỷ đã làm mù lòng họ, khiến họ không còn nhận biết sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nữa. Đạo của Chúa giảng ra cho họ chẳng khác nào những hạt giống vãi ra, rớt trên lối đi chai cứng, chim trời lập tức bay đến cướp đi. Loại thứ nhì có sự hiểu biết, vui mừng nhận lấy đạo của Chúa nhưng không thể chịu đựng nổi sự cực khổ, bị bắt bớ trong nếp sống đạo nên từ bỏ sự cứu rỗi. Đạo của Chúa giảng ra cho họ chẳng khác nào hạt giống vãi ra, rớt trên chỗ đất có nhiều đá sỏi hơn là đất thịt; tuy hạt giống nẩy mầm, lớn lên nhưng không chịu nổi sức nóng của ánh nắng rất cần thiết cho nó. Loại thứ ba tin nhận và sống đạo một thời gian lâu dài nhưng cuối cùng sự lo lắng về đời này hoặc sự ham mê vật chất khiến cho họ bỏ đạo. Những người thuộc loại này ví như chỗ đất thịt mầu mỡ, vừa tiếp nhận hạt giống đạo nhưng cũng vừa tiếp nhận hạt giống đời, ví như là hạt giống của bụi gai. Hạt giống đời và hạt giống đạo cùng lớn lên nhưng theo thời gian, cây đời sẽ ép chết cây đạo. Loại thứ tư có tấm lòng mềm mại tiếp nhận đạo Chúa như đất đã thuần và mầu mỡ. Hạt giống đạo gieo vào lòng họ mạnh mẽ lớn lên theo thời gian và kết quả.
Những người tiếp nhận đạo đứng vững trong đạo Chúa, phần lớn cũng sẽ phải trải qua sự chết thứ nhất như những người không tiếp nhận đạo Chúa hoặc những người tiếp nhận mà không đứng vững trong đạo Chúa. Tuy nhiên, họ không bị đi vào sự chết thứ hai, bởi vì Đức Chúa Trời đã ban cho họ sự sống lại và sự sống đời đời.
Sự chết thứ hai xảy ra sau khi Đức Chúa Trời kết thúc thế gian tội lỗi này và gọi tất cả những người chết mà không ở trong sự cứu rỗi của Ngài sống lại để ra trước tòa phán xét. Thánh Kinh chép:
11 Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa.
12 Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.
13 Biển đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm.
14 Đoạn, Sự Chết và Am phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.
15 Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.
(Khải Huyền 20:11-15).
Hình thức của sự chết thứ hai là tâm thần vĩnh viễn bị cắt đứt sự tương giao vói Đức Chúa Trời, không bao giờ còn cơ hội được cứu rỗi nữa; linh hồn và thể xác đã sống lại sẽ bị ném vào hồ lửa trong địa ngục cho đến đời đời. Thánh Kinh mô tả sự chết thứ hai như sau:
Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài.
(2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).
Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.
(Khải Huyền 21:8).
Kết toán cuối năm và tính sổ cuộc đời
Thông thường, cuối năm người ta lo kết toán sổ sách chi thu tài chánh. Nhờ kết toán sổ sách mà người ta biết được sự lời lỗ trong một năm đã qua và định ra kế hoạch cho những năm sắp đến. Ngay cả những người không có cơ sở thương mại, chỉ đi làm thuê cho công xưỡng cũng kết toán sổ sách dưới một hình thức nào đó. Có thể là xem lại tiền bạc để dành trong nhà băng đã được bao nhiêu, xét lại xem có những chi tiêu nào cần phải cắt giãm… Cũng có ngưòi làm kết toán về những sự vui chơi trong đời này của họ. Họ xem xét, đúc kết sự vui chơi trong suốt năm qua để lên kế hoặch vui chơi cho thời gian sắp tới sao cho có hiệu quả hơn, vui thú hơn. Có người làm kết toán về phương diện tình cảm… Tuy nhiên, rất ít người làm kết toán về cuộc đời của mình trên phương diện thời gian.
Chúng ta có thể làm kết toán cuối năm để lên kế hoạch kiếm thêm tiền, tăng thêm sự vui chơi, hoặc thay đổi tình cảm nhưng chúng ta không bao giờ kiếm thêm được thời gian. Không ai trong chúng ta biết chắc được là mình sẽ còn sống thêm được bao lâu. Kinh nghiệm cho chúng ta biết chúng ta có thể qua đời bất cứ lúc nào, trong bất cứ lứa tuổi nào. Không ai có thể bảo đảm rằng mình có cơ hội cho hơi thở kế tiếp. Điều chắc chắn nhất là chúng ta sẽ chết và có thể chết bất kỳ lúc nào. Thánh Kinh chép:
Theo như đã định cho loài người phải chết một lần rồi chịu phán xét.
(Hê-bơ-rơ 9:27).
Nan đề của chúng ta là khi qua đời chúng ta sẽ trả lời như thế nào về tất cả tội lỗi mà chúng ta đã gây ra trong cuộc đời này trước mặt Đức Chúa Trời? Quý vị đã bao giờ tính sổ cuộc đời của mình chưa? Bao nhiêu sự gian tham, dối trá, hận thù, độc ác, bất công… chúng ta đã gây ra trong cuộc đời của mình. Số nợ này chúng ta sẽ trả như thế nào trong ngày chung cuộc của đời mình? Chắc chắn không một ai có thể trả hết những món nợ đạo đức dù vô tình hay cố ý đã gây ra trong cuộc đời của mình.
Tội lỗi và hình phạt
Thánh Kinh cho biết hành động loài người tự tách rời ra khỏi Đức Chúa Trời, sống theo ý riêng, vi phạm luật đạo đức của Đức Chúa Trời là tội lỗi. Thuộc tính của Đức Chúa Trời là yêu thương, công chính, và thánh khiết. Thuộc tính của Chúa cũng chính là sự vinh hiển của Ngài. Tội lỗi là tình trạng thiếu hụt sự vinh hiển của Chúa; vì thế, Thánh Kinh tuyên bố:
Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
(Rô-ma 3:23)
Thánh Kinh cũng cho biết kết quả của tội lỗi là sự chết:
Tiền công của tội lỗi là sự chết.
(Rô-ma 6:23a).
Sự chết ở đây là sự chết thứ nhất và sự chết thứ hai như đã đề cập phía trên. Trừ hai người đã được Chúa mang đi trong thời Cựu Ước là Hê-nóc và Ê-li cùng một số ít người tin nhận và đứng vững trong đạo Chúa đang sống trong thân xác này vào ngày Chúa trở lại thì được Ngài biến hóa thân thể đang sống của họ thành một thân thể mới trong chớp mắt rồi Ngài cất họ lên không trung để hội hiệp với Ngài cho đến đời đời, còn thì cả nhân loại sẽ phải trải qua sự chết thứ nhất.
Sự cứu rỗi và sự sống đời đời
Những người tin nhận đạo của Chúa là những người bằng lòng tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài, được hưởng ơn khoan hồng của Ngài, được tha tội, được làm cho sạch tội, được trở lại làm con của Đức Chúa Trời và được sống đời đời trong tình yêu của Ngài. Những người đó, dẫu có qua đời trưóc ngày Chúa trở lại thì trong ngày Chúa trở lại, Ngài sẽ khiến cho họ được sống lại trong một thân thẻ mới và cất họ lên không trung ở với Ngài cho đến mãi mãi. Thánh Kinh chép:
13 Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy.
14 Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus cùng đến với Ngài.
15 Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi.
16 Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết.
17 Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.
18 Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau.

(1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:13-15).
Sự cứu rỗi chỉ có thể đến từ Đức Chúa Trời, vì chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể ban lại cho chúng ta tình yêu, sự công chính, và sự thánh khiết của Ngài. Ngài ban lại cho chúng ta bằng cách thi hành những điều đó.
Vì thánh khiết, nên Đức Chúa Trời không thể chấp nhận tội lỗi. Ngài phải lên án tội lỗi và cắt đứt mối tương giao giữa Ngài với tội nhân.
Vì công chính, nên Đức Chúa Trời phải trừng phạt tội nhân. Tội nhân phải chịu hư mất đời đời trong hỏa ngục.
Vì yêu thương, nên Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài là Đức Chúa Jesus nhập thế làm người để gánh hết sự trừng phạt cho toàn thể nhân loại; cứu rỗi nhân loại ra khỏi sự hư mất đời đời.
Vì thế, hễ ai tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua cái chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá thì họ được Đức Chúa Trời tha tội, làm cho sạch tội, và ban cho quyền phép trở nên con cái của Ngài, được sống lại, được sống đời đời và cùng Đức Chúa Jesus Chrsit thừa hưởng cơ nghiệp của Ngài.
Quyết định thuộc về mỗi người
Trong ngày cuối cùng của năm 2006 này, quý vị đã làm kết toán cho linh hồn của mình hay chưa? Nếu vài giây phút nữa đây quý vị qua khỏi cuộc đời này, linh hồn của quý vị sẽ về đâu? Linh hồn quý vị sẽ đi vào trong âm phủ, đau khổ chờ ngày sống lại ra trưóc tòa phán xét của Đức Chúa Tròi để nhận lấy án phạt là sự chết thứ hai trong hồ lửa đời đời; hay linh hồn quý vị sẽ vào trong thiên đàng ở với Chúa và chờ ngày Chúa phục sinh thân thể của quý vị vào trong sự sống đời đời, hạnh phúc trong tình yêu của Ngài? Sự kiện quý vị đang ngồi trong nhà thờ, đã tuyên xưng đức tin của mình vào sự cứu rỗi của Đức Chúa trời không phải là chứng cớ vững chắc. Chứng cớ vững chắc là sự đổi mới của Chúa trong đời sống của quý vị từ tâm thần đến linh hồn, và thể xác. Thánh Kinh chép:
Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ thì nấy là người được dựng nên mới. Những sự cũ đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới.
(2 Cô-rinh-tô 5:17).
Thánh Kinh gọi đó là sự tái sinh. Tái sinh là được sinh lại từ trong sự chết thứ nhất bởi sự ăn năn tội, tiếp nhận sự cứu rỗi của Chúa và bởi quyền năng Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Sự cứu rỗi được ban cho bởi Đức Chúa Trời nhưng quyết định tiếp nhận thuộc về mỗi một người. Thánh Kinh chép:
12 Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài,
13 là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy.

(Giăng 1:12-13).
Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó.
(Giăng 3:36).
Quý vị có thể tuyên xưng mình là tín đồ nhưng quý vị thật đã được đổi mới chưa? Quý vị thật đã được tái sinh chưa? Hay vẫn còn chết trong lầm lỡ và tội ác của chính mình?
Đếm những ngày vàng trên đất
Những ngày vàng trên đất đối với những người không ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là những ngày héo úa, vàng võ của tật bệnh, của khổ đau, và sợ hãi. Nhưng đối với những người đã ở trong sự cứu rỗi của Chúa thì mỗi một ngày trong đời là một cơ hội quý như vàng để học biết càng hơn về Chúa, để được phục vụ Chúa và người khác qua những việc lành Chúa đã sắm sẵn cho. Những việc lành đó được làm bởi năng lực của Chúa và theo thánh ý của Ngài cho nên đẹp lòng Chúa, và thành quả của chúng còn lại cho đến đời đời. Mỗi một ngày trên đất của những người đã ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là một ngày vàng để gây dựng sự nghiệp đời đời trên thiên đàng. Đức Chúa Jesus phán trong phần kết thúc của Thánh Kinh:
Này, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.
(Khải Huyền 22:12).
Quý vị còn được bao nhiêu ngày nữa để làm việc cho Chúa trên trần gian này? Không ai có thể trả lời được cho câu hỏi ấy, cho nên, biết đếm những ngày trong đời mình nghĩa là biết tận dụng mỗi ngày trong đời sống mình cho sự vinh hiển của Chúa như đó là ngày cuối cùng của mình trong thân xác này.
Lạy Chúa xin hãy đến, và dạy cho chúng con biết đếm các ngày của chúng con!
31/12/2006

Share This:

Khải Huyền 3:15: Lời cảnh cáo nghiêm trọng

1,951 views

Hội Thánh Lao-đi-xê

Hội Thánh Lao-đi-xê có thể do nhà truyền giáo Ê-pháp-ra thành lập trong thời gian ông hầu việc Chúa tại Hội Thánh Cô-lô-se. Cô-lô-se cách Lao-đi-xê khoảng 8 dậm (17 km) về phía Đông. Ban đầu, Hội Thánh Lao-đi-xê nhóm họp trong nhà của một tín đồ tên là Nim-pha, và vị giám mục đầu tiên tên là A-chíp (Cô-lô-se 4:15, 17).

Trong bảy Hội Thánh Đức Chúa Jesus truyền cho Sứ Đồ Giăng viết thư, Hội Thánh Lao-đi-xê là Hội Thánh giàu có nhất nhưng không có một điểm nào đáng khen đối với Chúa. Trái lại, Chúa đã dùng những lời quở trách rất nặng đối với Hội Thánh Lao-đi-xê. Lời nhận xét chung của Chúa đối với Hội Thánh Lao-đi-xê là:

Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. (3:15)

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Con Người Thuộc Linh

1,924 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Khái niệm về tính thuộc linh không giống nhau trong vòng những hệ phái Cơ Ðốc khác nhau. Trong một số hệ phái, nếu một người có giọng thanh tiếng tốt, thường hay nói về tôn giáo được cho là người rất thuộc linh; những người khác chấp nhận tính hoa mỹ ồn ào là dấu hiệu của tính thuộc linh, và trong một số Hội Thánh Việt Nam thì người cầu nguyện đầu tiên, lâu nhất, lớn nhất nhận được danh tiếng và được coi là người có bản tính thuộc linh cao nhất trong Hội Thánh. Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Vài Ý Tưởng Về Sách và Việc Đọc Sách

1,981 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Một vấn đề lớn ở nhiều nơi trên thế giới ngày nay là học biết cách đọc, và ở nhiều nơi khác là tìm kiếm một cái gì đó để đọc sau khi đã học rồi. Trong thế giới phương Tây, chúng ta có đầy dẫy những ấn phẩm, vì thế vấn đề ở đây trở thành một lựa chọn. Chúng ta phải quyết định không đọc cái gì.

Gần một thế kỷ trước, Emerson đã chỉ ra rằng nếu một người có thể bắt đầu đọc ngay từ khi vừa mới chào đời và tiếp tục đọc không ngừng nghỉ trong vòng 70 năm, thì đến cuối thời điểm đó anh ta chỉ đọc được một số sách đủ lấp đầy một góc nhỏ xíu trong Thư Viện Anh Quốc. Cuộc sống quá ngắn ngủi và sách vở có sẵn cho chúng ta thì quá nhiều, đến độ không một người nào có thể đọc được nhiều hơn 1% những quyển sách đã được xuất bản.

Cũng chẳng cần phải nói đến việc hầu hết trong chúng ta không có đủ sự lựa chọn cho việc đọc. Tôi thường tự hỏi có bao nhiêu yard vuông những tờ báo đã lướt qua trước mắt một con người văn minh bình thường trong thời gian một năm. Chắc chắn nó phải lên đến vài mẫu Anh; và tôi lo ngại rằng những độc giả bình thường của chúng ta không nhận thấy một vụ mùa rất lớn trên diện tích báo anh ta đọc. Một lời khuyên tốt nhất mà tôi đã được nghe về đề tài này, do một mục sư hệ phái Giám Lý phát biểu, là: “Hãy luôn luôn đọc tờ báo của bạn khi đang đứng.” Henry David Thoreau cũng có một đánh giá thấp về nhật báo. Ngay trước khi rời khỏi thành phố để đến nơi tạm trú bên bờ của dòng sông Walden Pond, một người bạn hỏi ông rằng liệu ông có muốn tờ nhật báo được giao đến tận mái nhà tranh của ông hay không. “Không,” Thoreau đáp, “tôi đã xem báo rồi.”

Trong vấn đề đọc nghiêm túc của chúng ta, chúng ta có khuynh hướng bị ảnh hưởng rất lớn bởi quan điểm cho rằng giá trị chính của một cuốn sách là để thông tin; và nếu chúng ta đang nói về sách giáo khoa, điều này dĩ nhiên là đúng, nhưng khi nói hay viết về các cuốn sách, chúng ta không ám chỉ đến sách giáo khoa.

Cuốn sách tốt nhất không chỉ cung cấp thông tin, nhưng là cuốn sách khuấy động độc giả đến chỗ nhìn biết chính mình. Tác giả tài nhất là người đã đi với chúng ta qua thế giới của tư tưởng giống như một hướng dẫn viên thân thiện luôn đi bên cạnh chúng ta băng qua khu rừng rậm, chỉ cho chúng ta hàng trăm kỳ quan thiên nhiên mà trước đó chúng ta chưa hề chú ý đến. Vì thế chúng ta học từ ông ấy để nhìn thấy chính mình và chẳng bao lâu sau chúng ta không cần người hướng dẫn của mình nữa. Nếu ông ta làm tốt công việc của mình, chúng ta có thể bước đi một mình và chỉ để lỡ mất một chút nào đó trên đường mà thôi.

Tác giả làm nhiều nhất cho chúng ta là tác giả mang đến cho chúng ta những tư tưởng nằm sát cạnh tâm trí mình và chờ đợi để được nhìn biết như là của chính chúng ta. Một người như vậy hành động giống như một bà mụ giúp đỡ khi sinh nở những tư tưởng đã đang thai nghén trong linh hồn chúng ta từ lâu, mà nếu không có sự giúp đỡ này thì có thể sẽ chẳng bao giờ ra đời cả.

Ít có tình cảm nào lại thỏa lòng như là niềm vui phát xuất từ việc nhận biết và xác định được những tư tưởng của riêng mình. Tất cả chúng ta đều có những giáo sư, những người tìm kiếm để dạy dỗ chúng ta bằng cách đưa những ý tưởng xa lạ vào trong tâm trí của chúng ta, những tư tưởng mà chúng ta không hề cảm thấy có chút thân thuộc nào cả về mặt thuộc linh lẫn lý trí. Chúng ta nghiêm túc thử những điều này để tích hợp vào toàn bộ triết lý thuộc linh của chúng ta, nhưng luôn luôn không thành công.

Trong một ý nghĩa rất thực tế thì không ai có thể dạy một người nào; anh ta chỉ có thể giúp mình để dạy chính mình mà thôi. Các sự kiện có thể được chuyển đổi từ tâm trí này sang một tâm trí khác giống như các bản sao được thực hiện từ một băng gốc trên một cái máy thu băng. Lịch sử, khoa học, ngay cả thần học có thể được dạy theo cách này, nhưng nó hình thành một loại học thức nhân tạo khá cao và hiếm khi có ảnh hưởng tốt lên đời sống bên trong của học viên. Việc người học đóng góp điều gì trong suốt quá trình học tập cũng hoàn toàn quan trọng như bất cứ gì người thầy cống hiến. Nếu người học không hợp tác gì hết, thì kết quả cũng chỉ là vô dụng mà thôi; ở mức tốt nhất thì nó cũng sẽ có nhưng là sự sáng tạo nhân tạo của một giáo viên khác, người có thể lập lại một công việc tồi tàn lên người khác, không hơn không kém.

Sự nhận biết những tư tưởng hơn là cất giữ chúng phải là mục đích của giáo dục. Tâm trí phải là một con mắt để thấy hơn là một thùng rác để đựng sự kiện bên trong. Một người đã từng được dạy về Thánh Linh sẽ là một nhà tiên kiến hơn là một học giả. Sự khác biệt là ở chỗ học giả thì thấy, còn nhà tiên kiến thì thấy xuyên qua; và đó thực sự là một khác biệt đầy quyền năng.

Trí năng của con người, ngay cả khi đang ở trong tình trạng sa ngã của nó, là một công việc đáng sợ và lạ lùng của Ðức Chúa Trời, nhưng nó vẫn nằm trong bóng tối cho đến khi nó được Thánh Linh khai sáng. Chúa chúng ta không nói điều gì tốt về một tâm trí chưa được khai sáng, nhưng Ngài thích thú tâm trí đã được làm mới lại và soi sáng bởi ân điển. Ngài luôn tạo lập một chỗ cho bàn chân vinh hiển của Ngài; hầu như không có gì trên trần gian này đẹp hơn một tâm trí được đầy dẫy Thánh Linh, chắc chắn không có gì tuyệt vời hơn một tâm trí tỉnh táo và sốt sắng được làm cho trở nên sáng chói bởi sự hiện diện của Ðấng Christ ngự trị bên trong.

Vì những gì chúng ta đọc trong ý nghĩa thực tế sẽ đi vào linh hồn, nên việc chúng ta đọc những điều tốt nhất, và không đọc bất cứ điều gì khác hơn những điều tốt nhất, là điều quan trọng mang tính chất sống còn. Tôi không cảm thấy các Cơ Ðốc nhân trước đây tốt hơn vì họ không có nhiều tư liệu đọc để mà lựa chọn. Ngày nay chúng ta phải luyện tập một tính kỷ luật sắc bén trong thói quen đọc sách của mình. Mỗi Cơ Ðốc nhân phải am tường Kinh Thánh, hay ít nhất là phải dành hàng giờ, hàng ngày, và hàng năm cố gắng. Và phải luôn luôn đọc Kinh Thánh của mình, như George Muller nói, “với sự suy gẫm.”

Sau Kinh Thánh, cuốn sách có giá trị đứng hàng thứ nhì cho Cơ Ðốc nhân là một quyển thánh ca tốt. Hãy để một Cơ Ðốc nhân trẻ dành một năm suy gẫm trong sự cầu nguyện những bài thánh ca của Watts và Wesley thôi, anh ta sẽ trở thành một nhà thần học giỏi. Rồi để anh ta đọc ở mức độ cân bằng các tác phẩm của những người Thanh giáo và những nhà thần bí Cơ Ðốc. Những kết quả sẽ còn tuyệt vời hơn là điều anh ta có thể mơ tưởng đến.

 

Share This:

Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài

2,104 views

I. Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài

Vì “mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” cho nên tất cả những cánh cửa mà chúng ta, là những người yêu mến Chúa, bước vào trong cuộc đời của mình, đều là những cửa phước hạnh. Vì thế, chúng ta bước vào với lòng cảm tạ. Thánh Kinh nói đến ít nhất là tám cửa phước hạnh mà chúng ta thường gặp trên bước đường theo Chúa.

1. Cửa khó nghèo

Phước cho những ai nghèo trong tâm thần, vì Vương Quốc Trời là của những người ấy!” (Ma-thi-ơ 5:3).

Trong nguyên tác của Thánh Kinh “nghèo trong tâm thần” là:

a) Không nương cậy nơi của cải, vật chất của thế gian. Nhìn biết nhu cầu thuộc linh của chính mình không thể được giải quyết bằng của cải đời này. Sự khao khát trong tâm linh của chúng ta phải hướng về thiên đàng, không hướng về thế gian.

b) Khiêm nhường, hạ mình, nhận biết sự trần truồng thiếu thốn của mình trước mặt Đức Chúa Trời. Có những người khó nghèo về vật chất nhưng lại rất kiêu ngạo trong tâm linh.

2. Cửa than khóc

“Phước cho những ai than khóc, vì sẽ được yên ủi!” (Ma-thi-ơ 5:4).

Khi chúng ta biết ăn năn than khóc về tội lỗi của mình, chúng ta sẽ nhận được ơn tha thứ của Đức Chúa Trời và Thần An Ủi sẽ ngự vào tâm linh của chúng ta. Khi chúng ta biết than khóc về tội lỗi của người thân, của dân tộc, chúng ta sẽ được an ủi khi họ được cứu. Trong cuộc sống hiện tại, nhiều khi chúng ta phải than khóc vì những bất công và đau khổ… nhưng Thần An Ủi sẽ đến vỗ về, an ủi chúng ta, và một ngày kia, chính Đức Chúa Trời sẽ lao ráo mọi nước mắt của chúng ta. (Khải Huyền 21:4).

3. Cửa nhu mì

Phước cho những ai nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!” (Ma-thi-ơ 5:5).

Nhu mì không phải là hèn nhát hay đầu hàng trước bạo lực. Nhu mì là nhẫn nhịn, chịu đựng mọi bất công để đưa dắt tội nhân đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Nhu mì là thuộc tính của Đấng Christ (Ma-thi-ơ 11:29). Người nhu mì sẽ hưởng phần trong cơ nghiệp của Đức Chúa Trời.

4. Cửa đói khát sự công bình

“Phước cho những ai đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!” (Ma-thi-ơ 5:6).

Đói khát nói đến nhu cầu thiết thực và quan trọng nhất trong cuộc sống. Trong thuộc linh, đói khát sự công bình là khao khát cho tội lỗi của mình được giải quyết. Chỉ khi tội lỗi được giải quyết, mặc cảm tội lỗi tiêu tan, chúng ta mới có được sự bình an trong tâm linh. Trên một phương diện khác, đứng trước những bất công xảy ra mỗi ngày trong xã hội, chúng ta khao khát sự công bình. Một ngày kia, chúng ta sẽ thấy sự công bình được thi hành trọn vẹn khi Đức Chúa Trời “báo trả mỗi người tùy theo công việc họ làm”. (Rô-ma 2:5,6).

5. Cửa hay thương xót

“Phước cho những ai hay thương xót, vì sẽ được thương xót!” (Ma-thi-ơ 5:7).

Lòng thương xót thật sự là chúng ta đồng cảm sự đau khổ của người khác như chính chúng ta đang ở trong sự đau khổ đó. Lòng thương xót khiến chúng ta dâng hiến tiền bạc, công sức để xoa dịu những sự đau đớn của người khác như Đức Chúa Jesus đã mô tả trong Ma-thi-ơ 25:34-40. Lòng thương xót còn là thương xót cho những linh hồn chưa biết Chúa đang chết mất trong tội lỗi mà nổ lực rao giảng Tin Lành cho họ. Đặc biệt là đối với dân tộc của chúng ta. Phao-lô đã bày tỏ lòng thương xót của ông đối với dân tộc Israel của ông như sau:

“Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Chúa Trời: tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn. Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác tức dân Y-sơ-a-ên, là dân được những sự làm con nuôi, sự vinh hiển, lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng và lời hứa.” (Rô-ma 9:1-4).

6. Cửa trong sạch

“Phước cho những ai có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!” (Ma-thi-ơ 5:8).

Kẻ có lòng trong sạch là kẻ không để cho những sự ô uế của tội lỗi vương vấn trong lòng mình. Ai còn giữ những sự sau đây thì chưa có lòng trong sạch và sẽ không được thấy Đức Chúa Trời:

“Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời.” (Ga-la-ti 5:19-21).

“Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời.” (Hê-bơ-rơ 12:14).

7. Cửa hòa thuận

“Phước cho những ai làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!” (Ma-thi-ơ 5:9).

Trước khi làm cho người khác hòa thuận thì chính chúng ta phải hòa thuận với Đức Chúa Trời và sống hòa thuận với mọi người.

“Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người.” (Rô-ma 12:8).

“Vậy chúng ta hãy tìm cách làm nên hòa thuận và làm gương sáng cho nhau.” (Rô-ma 14:19).

Làm cho người hòa thuận không chỉ là giúp cho mọi người hòa thuận với nhau mà còn là giúp cho mọi người hòa thuận với Đức Chúa Trời, nghĩa là giúp họ nghe, hiểu và tin nhận Tin Lành của Đức Chúa Trời.

Làm cho người hòa thuận, đặc biệt là hòa thuận với chúng ta, còn có nghĩa là chúng ta phải gánh chịu những hy sinh cần thiết, như Đức Chúa Jesus đã hy sinh để chúng ta có thể hòa thuận lại với Đức Chúa Trời.

“Và bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Ngài.” (Cô-lô-se 1:20).

“Thật vậy, anh em có sự kiện cáo nhau, là phải tội rồi. Sao chẳng chịu sự trái lẽ là hơn? Sao chẳng đành sự gian lận là hơn!” (1 Cô-rinh-tô 6:7).

8. Cửa bắt bớ

“Phước cho những ai chịu bắt bớ vì sự công bình, vì Vương Quốc Trời là của những người ấy! Khi nào vì cớ Ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy.” (Ma-thi-ơ 5:10-12).

Chịu khổ vì danh Chúa là một vinh dự và ơn phước rất lớn trong đời sống của ngưòi đi theo Chúa. Người đi theo Chúa chắc chắn sẽ bị thế gian bắt bớ, và Chúa đã phán trước như vậy:

“Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và Ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi. Hãy nhớ lời Ta đã nói cùng các ngươi: Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ Ta, ắt cũng bắt bớ các ngươi; bằng họ đã giữ lời Ta, ắt cũng giữ lời các ngươi.” (Giăng 15:19-20).

“Nhưng anh chị em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, để cho đến ngày vinh quang của Ngài hiện ra, thì các anh chị em cũng được vui mừng lớn. Nếu như các anh chị em vì danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì các anh chị em có phước; vì Đấng Thần Linh của Đức Chúa Trời và của sự vinh quang đậu trên các anh chị em [Ê-sai 11:2]. Đối với họ, Ngài bị gièm chê. Đối với các anh chị em, Ngài được tôn vinh.” (I Phi-e-rơ 4:13,14).

II. Hãy tôn vinh mà vào hành lang Ngài

Cửa dẫn vào hành lang. Chúng ta cảm tạ Chúa vì Ngài mở cửa cho chúng ta cho nên chúng ta mới có cơ hội để vào trong hành lang của nhà Ngài. Tại trong hành lang của nhà Ngài là những phước hạnh mà Ngài đã sắm sẵn cho chúng ta. Chúng ta tôn vinh Chúa vì những điều mà chúng ta nhận được trong hành lang của Ngài.

Vì một ngày trong hành lang Chúa đáng hơn một ngàn ngày khác. Thà tôi làm kẻ giữ cửa trong nhà Đức Chúa Trời tôi, hơn là ở trong trại kẻ dữ. (Thi Thiên 84:10).

1. Được no nê vật tốt lành của nhà Chúa (mọi dâng hiến của chúng ta được Chúa ban lại cho chúng ta)

Phước thay cho người mà Chúa đã chọn và khiến đến gần, đặng ở nơi hành lang Chúa: Chúng tôi sẽ được no nê vật tốt lành của nhà Chúa, là đền thánh của Ngài. (Thi Thiên 65:4)

Các thầy tế lễ của Đức Chúa Trời ăn thức ăn thánh trong hành lang của đền tạm (Lê-vi Ký 6:16,26).

2. Được trổ bông (đời sống có kết quả, vinh hiển trong Chúa)

Những kẻ được trồng trong nhà Đấng Tự Hữu Hằng Hữu sẽ trổ bông trong hành lang của Đức Chúa Trời chúng ta. (Thi Thiên 92:13).

3. Được uống rượu (vui mừng, thỏa lòng về kết quả đời sống theo Chúa)

Song những kẻ có gặt sẽ ăn hoa lợi mình, và tôn vinh Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; những kẻ có hái nho sẽ uống rượu mình trong hành lang của nơi thánh ta. (Ê-sai 62:9).

4. Được chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Chúa Trời

Sự vinh hiển của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu bèn dấy lên từ chê-ru-bin, đứng nơi ngạch cửa nhà; nhà đầy mây, và hành lang đầy sự chói sáng của vinh quang Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. (Ê-xê-chi-ên 10:4).

Thần cất ta lên và đem ta vào nơi hành lang trong; và, nầy, vinh quang của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đầy nhà. (Ê-xê-chi-ên 43:5).

Kết luận

Trong mùa lễ Cảm Tạ năm nay, chúng ta hãy cùng nhau học thuộc lòng Thi Thiên 100 và biến mỗi ngày trong đời sống mình là những cơ hội để cảm tạ Chúa. Bất kỳ một cánh cửa nào Chúa cho phép mở ra trong cuộc đời của chúng ta, kể cả những khi tai ương hoạn nạn, kể cả những khi vì danh Chúa mà bị bách hại, sĩ nhục, thậm chí mất mạng… cũng đều dẫn chúng ta vào trong hành lang phước hạnh đời đời của Đức Chúa Trời.

Vì Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là thiện; sự từ ái Ngài hằng có mãi mãi,
Và sự thành tín Ngài còn đến đời đời.

26/11/2006

 

Share This:

Địa ngục và hồ lửa

2,398 views

I. Định nghĩa từ ngữ

Thánh Kinh dùng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi nơi chốn mà loài người sẽ đi đến sau khi chết. Trong Cựu Ước, Thánh Kinh dùng danh từ "âm phủ". Trong Tân Ước, Thánh Kinh dùng danh từ "âm phủ", "địa ngục", "vực sâu", và "hồ lửa".

1. Danh từ "âm phủ" trong Cựu ước và Tân Ước đều chỉ về lòng đất, nơi an táng xác chết, và nơi linh hồn của người chết tạm trú.

2. Danh từ "địa ngục" trong Tân Ước chỉ về nơi cả thân thể và linh hồn của những người không thuộc về Đấng Christ bị trừng phạt vì những việc làm tội lỗi của họ. Trong địa ngục có khóc lóc, có nghiến răng và có lửa không hề tắt.

3. Danh từ "vực sâu" nói đến một vực sâu không đáy, nơi đó Chúa đang giam cầm các thiên sứ phạm tội.

4. Danh từ "hồ lửa" nói đến nơi hình phạt chung cuộc dành cho cả thiên sứ và loài người phạm tội. Nơi đó, mỗi người sẽ bị muối bằng lửa (phép báp-tem bằng lửa cho kẻ chẳng tin). Âm phủ, sự chết, Satan, Antichrist, Tiên tri giả, những người không ăn năn tội, không tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ sẽ bị giam giữ để chịu khổ trong hồ lửa cho đến đời đời.

 

II. Sự khác biệt giữa âm phủ, địa ngục, vực sâu, và hồ lửa

Dựa vào những mô tả của Thánh Kinh, chúng ta biết có những sự khác biệt giữa âm phủ, địa ngục, vực sâu, và hồ lửa.

1. Âm phủ:

Từ khi A-bên cho đến khi Đấng Christ chịu chết, linh hồn của tất cả những người qua đời đều được đưa vào âm phủ. Chúng ta biết điều này qua câu chuyện "Người giàu xấu nết và La-xa-rơ" do Đức Chúa Jesus kể, được ghi lại trong Lu-ca 16:19-31. Đây không phải là một ngụ ngôn mà là một câu chuyện có thật, vì Chúa nói rõ tên của người ăn mày được phước. Trong tất cả các ngụ ngôn Đức Chúa Jesus dùng để minh họa cho các bài giảng của Ngài, các nhân vật không hề có tên.

Thời Cựu Ước vì huyết của Đấng Christ chưa đổ ra trên thập tự giá cho nên những người tin Chúa, sau khi qua đời chưa vào thiên đàng mà phải tạm trú trong âm phủ. Âm phủ chia ra thành hai khu vực khác nhau, một khu vực yên nghĩ trong bình an và phước hạnh dành cho những người tin Chúa, một khu vực đau khổ trong hối tiếc dành cho những ngưòi không tin Chúa. Chính giữa hai khu vực này là một vực sâu ngăn cách.

Sau khi Đấng Christ đổ huyết trên thập tự giá thì những linh hồn tin Chúa tạm trú trong âm phủ được Chúa đem về thiên đàng. Chúng ta biết được điều này qua sự bày tỏ của Thánh Kinh. Đức Chúa Jesus phán với người ăn trộm bị đóng đinh bên phải Ngài rằng:

"Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi." (Lu-ca 23:43).

Ê-phê-sô 4:8-9 chép:

"Vậy nên có chép rằng: Ngài đã lên nơi cao, dẫn muôn vàn kẻ phu tù, Và ban các ơn cho loài người. Và, những chữ "Ngài đã lên" có nghĩa gì, há chẳng phải là Ngài cũng đã xuống trong các miền thấp ờ dưới đất sao?".

Khải Huyền 6:9 cho thấy linh hồn của những người tử đạo ở dưới bàn thờ, trong thiên đàng:

"Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có những linh hồn của kẻ đã chịu giết vì đạo Đức Chúa Trời và vì lời chứng họ đã làm."

Như vậy, sau khi Đấng Christ đem linh hồn các thánh đồ ra khỏi âm phủ, đưa họ vào thiên đàng, thì âm phủ chỉ còn linh hồn của những người không tin Chúa. Âm phủ sẽ tồn tại cho đến khi họ ứng hầu trước tòa phán xét của Ngài. Sau khi kết thúc sự phán xét thì âm phủ, sự chết, và những người không tên trong sách sự sống bị ném vào hồ lửa.

 

2. Địa ngục:

Theo sự bày tỏ của Thánh Kinh, địa ngục là nơi hiện nay Chúa giam cầm các thiên sứ phạm tội và nơi trong tương lai cả linh hồn lẫn thể xác của người không tin Chúa chịu hình phạt chung với Satan và quỷ sứ của nó.

Như vậy, trong địa ngục có vực sâu không đáy và hồ lửa.

"Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục." (Ma-thi-ơ 10:28).

"Nếu tay hay là chơn ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, hãy chặt và ném nó cho xa ngươi đi; vì thà ngươi què chơn hay là cụt tay mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ cả hai tay hay là hai chơn mà bị quăng vào lửa đời đời.

Nếu con mắt ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, thì hãy móc mà ném cho xa ngươi đi; vì thà ngươi một mắt mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ hai mắt mà bị quăng vào lửa địa ngục." (Ma-thi-ơ 18:8-9).

"Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi." (Ma-thi-ơ 23:15).

 

3. Vực sâu:

Là nơi giam cầm các thiên sứ phạm tội. Trong thời kỳ bảy năm đại nạn, một số tà linh sẽ được thả ra từ vực sâu này để làm khổ muôn dân trên đất.

"Đức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Mầy tên gì? Người thưa rằng: Quân đội; vì nhiều quỉ đã ám vào người. Chúng nó bèn cầu xin Đức Chúa Jêsus đừng khiến mình xuống vực sâu." (Lu-ca 8:30-31)

"Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét." (2 Phi-e-rơ 2:4).

"1 Vị thiên sứ thứ năm thổi loa, thì tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và được ban cho chìa khóa của vực sâu không đáy.

2 Ngôi sao ấy mở vực sâu không đáy ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn; mt trời và không khí đều bị tối tăm bởi luồng khói của vực.

3 Từ luồng khói ấy, có những châu chấu bay ra rải trên mặt đất; và có kẻ ban cho chúng nó quyền giống như bọ cạp ở đất vậy.

4 Có lời truyền cho chúng nó chớ làm hại loài cỏ ở đất, thứ xanh và cây cối nào, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn Đức Chúa Trời ở trên trán.

5 Lại cho chúng nó phép, không phải là giết, nhưng là làm khổ những người đó trong năm tháng, và sự làm khổ ấy giống như sự làm khổ khi bọ cạp cắn người ta.

6 Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm sự chết, mà không tìm được; họ sẽ ước ao chết đi mà sự chết tránh xa."

(Khải Huyền 9:1-6).

 

4. Hồ lửa:

Là nơi chung cuộc của sự ác và hậu quả của sự ác là sự chết. Âm phủ, sự chết, linh hồn, thể xác của những người không tin Chúa, cùng với Satan và các thiên sứ phạm tội, Antichrist, Tiên tri giả của Antichrist sẽ chịu khổ đời đời nơi đây. Thánh Kinh gọi đó là sự chết thứ hai.

"Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời." (Khải Huyền 20:10).

"Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai." (Khải Huyền 20:14).

"Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa." (Khải Huyền 20:15).

Tình trạng của sự chết thứ hai được Thánh Kinh diễn tả ngắn gọn, như sau:

"Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài." (2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

 

Kết luận

Thánh Kinh chép: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời." (Giăng 3:16).

Có thể đây là lần thứ 1000 quý vị nghe lại câu Thánh Kinh này, có thể quý vị tưởng rằng mình đã thoát khỏi sự hư mất mà vào sự sống đời đời. Nhưng tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời để khuyên quý vị hãy thức tỉnh và thành thật với chính mình.

Ngày hôm nay, nếu quý vị qua đời, quý vị sẽ về đâu? Quý vị đang tưởng là mình sẽ về thiên đàng hay chính Đức Thánh Linh ấn chứng trong lòng quý vị rằng quý vị đã có sự sống đờ đời? Đức Thánh Linh không thể nào ở trong lòng của quý vị khi quý vị chưa được tái sinh. Quý vị chưa được tái sinh vì quý vị chưa thật lòng ăn năn, dứt khoát từ bỏ tội lỗi. Nếu quý vị còn cất giữ tội lỗi trong lòng mình là quý vị chưa ăn năn, chưa thật lòng tin nhận Chúa. Quý vị chưa ăn năn, chưa thật lòng tin nhận Chúa thì nơi chốn đời đời của quý vị thuộc về hồ lửa trong địa ngục.

Tôi tha thiết kêu gọi quý vị hãy ăn năn và hoàn toàn đầu phục Chúa ngay giờ phút này. Vì Đức Chúa Trời yêu thương quý vị, "Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật." (1 Ti-mô-thê 2:4). Cho nên Đức Chúa Trời đang nhịn nhục chờ đợi quý vị. Có thể đây là cơ hội ăn năn cuối cùng Đức Chúa Trời dành cho quý vị. Xin quý vị hãy phục hòa với Đức Chúa Trời trước khi bước ra khỏi phòng nhóm này.

Hãy đến gần ngôi ơn phước. Hãy xé lòng, hãy ăn năn!

"Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ có tội, hãy lau tay mình, có ai hai lòng, hãy làm sạch lòng đi. Hãy cảm biết sự khốn nạn mình, hãy đau thương khóc lóc; hãy đổi cười ra khóc, đổi vui ra buồn. Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên. " (Gia-c ơ 4:8-10).

19/11/2006

Share This:

Trong nơi bí mật của lòng

1,646 views

I. Bản chất tự nhiên của lòng ngưòi

Thánh Kinh nói rất rõ về bản chất tự nhiên của lòng người.

"Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm." (Giê-rê-mi 17:9,10).

"Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng, những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối, và lộng ngôn." (Ma-thi-ơ 15:19).

 

II. Người không thể tự mình thay đổi

Thánh Kinh cũng khẳng định loài người không thể nào tự mình thay đổi bản chất:

"Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng? Nếu được thì các ngươi là kẻ đã làm dữ quen rồi, sẽ làm lành được." (Giê-rê-mi 13:23).

 

III. Phương cách duy nhất để nhận được sông nước hằng sống

Phương cách duy nhất để nhận được sông nước hằng sống là TIN Đức Chúa Jesus Christ.

Tin Đức Chúa Jesus Christ là tin vào lời phán của Ngài, là tin rằng "chúng ta cần phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần" (Ma-thi-ơ 4:17). Khi tin rằng chúng ta cần phải ăn năn là tin rằng chúng ta có tội và đức tin đó phải dẫn đến quyết định ăn năn tội. Ăn năn có nghĩa là quay lại, là thực lòng muốn từ bỏ tội. Ngày hôm nay, quý vị có đang nghe lời phán này của Đức Chúa Jesus Christ vang vọng trong lòng mình hay không? Ngày hôm nay có tội lỗi nào đang còn được chất chứa tận trong nơi sâu thẳm của lòng quý vị, mà quý vị chưa ăn năn, chưa từ bỏ, chưa quay lại?

 

III. Thần tượng trên ngôi lòng

Hình thức tin kính, sùng đạo, sốt sắng thi hành các nghi thức tôn giáo bên ngoài của một người có thể lừa gạt được loài người nhưng không thể lừa gạt được Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng tuyên bố:

"Dân này lấy môi miếng thờ kính Ta, nhưng lòng chúng nó xa Ta lắm." (Ma-thi-ơ 15:8).

Ngày hôm nay, xin quý vị hãy tra xét tận nơi sâu kín của lòng mình. Trong những nơi bí mật của lòng quý vị, Đức Chúa Trời thánh khiết, yêu thương, và công chính đang ngự trị hay là các thần tượng của đời này?

Ngày hôm nay, quý vị đang ngồi trong nơi gọi là nhà thờ phượng Đức Chúa Trời nhưng thần tượng nào đang thật sự ngự trên ngôi lòng của quý vị?

1. Thần tài: Phải chăng sự ham mê tiền bạc, vật chất của đời này đang ngự trị trong lòng của quý vị?

2. Thần tình: Phải chăng sự đam mê tình dục bất chính đang điều khiển linh hồn của quý vị?
3. Thần tôi: Phải chăng sự kiêu ngạo, lòng tự ái, lòng ham chuộng danh tiếng, địa vị đang đặt chính "cái tôi" của quý vị lên ngôi lòng của mình, khiến cho quý vị đang thờ lạy chính bản ngã của mình?

 

Kết luận

Ngày hôm nay, chính trong giờ phút này đây, Đức Thánh Linh đang cáo trách từng tội lỗi của quý vị, Đức Chúa Jesus đang tha thiết kêu gọi quý vị "hãy ăn năn", Đức Chúa Cha đang chờ đợi quý vị xưng nhận tội lỗi của mình để Ngài tha thứ hoàn toàn và tái sinh quý vị vào trong nước trời.

Hãy đến gần ngôi ơn phước. Hãy xé lòng, hãy ăn năn!

"Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ có tội, hãy lau tay mình, có ai hai lòng, hãy làm sạch lòng đi. Hãy cảm biết sự khốn nạn mình, hãy đau thương khóc lóc; hãy đổi cười ra khóc, đổi vui ra buồn. Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên. " (Gia-c ơ 4:8-10).


12/11/2006

Share This:

A. W. Tozer: Đức Tin: Giáo Lý Bị Hiểu Lầm

1,806 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Trong chương trình cứu rỗi thiên thượng, giáo lý đức tin là trung tâm. Ðức Chúa Trời hướng Lời Ngài vào đức tin, và nơi nào không có đức tin, nơi đó hoàn toàn không thể có sự cứu rỗi thật. “Vả, không có đức tin thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài” (Hê-bơ-rơ 11:6).

Mọi ơn phước tuôn chảy từ sự chuộc tội của Ðấng Christ đến với mỗi cá nhân qua cánh cổng đức tin. Sự tha thứ, sự tẩy sạch, sự tái sanh, Ðức Thánh Linh, sự đáp lại lời cầu xin, được ban cho và được tiếp nhận bởi đức tin. Không hề có một phương cách nào khác! Ðây là một giáo lý Phúc Âm thông thường và được chấp nhận bất cứ nơi nào thập giá của Ðấng Christ được thấu hiểu.

 

 

Vì đức tin có tính chất sống còn đối với mọi hy vọng của chúng ta, nên nó cũng cần thiết như thế đối với sự đầy trọn của mọi khát vọng trong lòng chúng ta, chúng ta không dám coi nó là không quan trọng. Bất cứ gì đi kèm với đức tin, chứa đựng nhiều niềm vui hay nỗi buồn, vốn thực sự quyết định thiên đàng hay địa ngục là của chúng ta, là rất quan trọng, không thể nào xao lãng được. Chúng ta không được để cho chính mình dốt nát hay tin tưởng sai lầm. Chúng ta phải biết.

Trong một vài năm gần đây, lòng tôi bị bối rối về giáo lý đức tin khi nó được tiếp nhận và dạy dỗ giữa vòng các Cơ Ðốc nhân Tin Lành ở khắp mọi nơi. Ðức tin đã được nhấn mạnh rất nhiều trong những hệ phái chính thống, và điều đó là tốt, nhưng tôi vẫn băn khoăn. Một cách thật đặc biệt, điều tôi lo sợ là khái niệm hiện tại về đức tin không phải là khái niệm đức tin trong Kinh Thánh; rằng khi các giáo viên trong thời đại chúng ta dạy dỗ, họ dùng những lời không có cùng một ý nghĩa với những lời mà các trước giả Kinh Thánh đã dùng.

Những nguyên nhân khiến tôi băn khoăn là:

1. Sự thiếu hụt bông trái thuộc linh trong đời sống của quá nhiều người tuyên bố là mình có đức tin.

2. Sự hiếm hoi của một thay đổi hoàn toàn trong hành vi và quan điểm chung của những con người tuyên bố họ có đức tin mới trong Ðấng Christ, như Ngài là Cứu Chúa của cá nhân họ.

3. Sự thất bại của các giáo viên chúng ta trong việc định nghĩa hay ngay cả mô tả điều mà từ đức tin ám chỉ đến.

4. Sự thất bại đáng buồn của số đông những người tìm kiếm, dù họ rất nóng lòng, để hiểu được giáo lý (đức tin) hay để nhận lãnh bất cứ kinh nghiệm thỏa lòng nào qua nó.

5. Mối nguy hiểm thật sự đó là một giáo lý được lập đi lập lại như vẹt một cách rộng rãi, và được tiếp nhận mà thiếu đi óc phê bình (nhận xét) bởi quá nhiều người, đã bị chính họ hiểu sai lệch đi.

6. Tôi đã nhìn thấy đức tin được trình bày như là một điều thay thế cho sự vâng lời, một sự trốn chạy khỏi thực tại, một nơi trốn tránh khỏi nhu cần phải động não nhiều, một nơi ẩn náu của bản tính yếu đuối. Tôi cũng biết những người bị gọi nhầm bởi tên của đức tin bằng tinh thần động vật cấp cao, chủ nghĩa lạc quan tự nhiên, xúc cảm tình cảm và chứng co giật thần kinh.

7. Một cảm giác trung thực phải cho chúng ta biết rằng bất cứ điều gì không tạo nên một sự thay đổi nào đó trong lòng người tuyên bố có nó cũng không tạo nên sự khác biệt nào đối với Ðức Chúa Trời, và đây quả là một sự thật rất dễ quan sát: Ðối với vô số người, sự thay đổi từ chỗ không có đức tin cho đến chỗ có đức tin thật tình chẳng tạo nên một sự khác biệt nào trong đời sống người đó.

Có lẽ chúng ta sẽ biết đức tin là gì nếu trước tiên chúng ta lưu ý việc đức tin không phải là gì. Ðức tin không phải là việc tin vào một lời tuyên bố mà chúng ta biết là thật. Tâm trí con người được tạo dựng theo cách mà nó cần thiết phải tin khi chứng cớ được trình bày cho nó có tính thuyết phục. Nó không thể tự giúp chính mình. Khi chứng cớ không thể thuyết phục được, thì không thể có chút đức tin nào. Không một lời đe dọa, không một sự trừng phạt nào có thể bắt buộc tâm trí tin vào những điều trái ngược với chứng cớ.

Ðức tin được đặt nền tảng trên lý trí là một loại đức tin, điều này là thật; nhưng nó không phải là đặc tính của đức tin trong Kinh Thánh, vì nó tuyệt đối theo sau chứng cớ và không có chút gì dính dáng đến bản chất đạo đức hay thuộc linh bên trong. Sự thiếu hụt đức tin cũng không thể đặt nền tảng trên lý trí chống lại bất kỳ ai, vì bằng chứng, chứ không phải cá nhân nào, quyết định lời phán quyết. Tống một người vào địa ngục chỉ vì tội anh ta là bám theo bằng chứng vì kết luận chính xác của nó rõ ràng là quá bất công; đoán xét một tội nhân trên nền tảng là anh ta đã quyết định dựa vào những sự thật rõ ràng sẽ biến sự cứu rỗi thành hậu quả những việc làm của một định luật chung của tâm trí như có thể áp dụng với Giu-đa hay Phao-lô. Nó sẽ đưa sự cứu rỗi ra khỏi lĩnh vực ý chí và đẩy vào lĩnh vực tinh thần, nơi mà, theo Lời Kinh Thánh, chắc chắn nó không thuộc về đó.

Ðức tin thật dựa trên bản chất của Ðức Chúa Trời và không đòi hỏi thêm bằng chứng nào khác hơn sự trọn vẹn về mặt đạo đức của Ðấng không thể nói dối. Ðức Chúa Trời đã phán, như thế là đủ rồi, và dẫu rằng lời phán đó có trái ngược với một trong 5 giác quan của con người cũng như mọi kết luận logic, người tin vẫn tiếp tục tin. “Hãy kể Ðức Chúa Trời là thật và mọi con người đều là dối trá,” là ngôn ngữ của đức tin thật. Thiên đàng chấp nhận đức tin đó vì nó chỉ xuất phát từ những chứng cớ của Chúa và nảy nở từ trên ngực Ngài.

Trong những năm gần đây, giữa vòng những người Tin Lành nào đó đã nổi lên một cuộc cách mạng được sắp đặt nhằm để chứng minh những lẽ thật của Kinh Thánh bằng cách áp dụng khoa học. Chứng cớ được tìm kiếm trong thế giới tự nhiên để cung cấp cho sự khải thị siêu nhiên. Bông tuyết, máu, những hòn đá, các tạo vật biển kỳ lạ, các con chim và nhiều vật tự nhiên khác được đưa ra như bằng chứng cho thấy Kinh Thánh là thật. Cái này được xem như là một nguồn cung cấp lớn cho đức tin; ý tưởng là nằm ở chỗ này: Nếu một giáo lý Thánh Kinh có thể được chứng minh là thật, đức tin sẽ nảy nở và đơm hoa như là một kết quả.

Ðiều mà những anh em này không thấy đó là việc họ cảm thấy cần thiết phải tìm kiếm bằng chứng cho những lẽ thật của Kinh Thánh cho thấy một điều hoàn toàn khác biệt: sự vô tín cố hữu của họ. Khi Ðức Chúa Trời phán, thì kẻ vô tín lại hỏi, “Làm sao tôi biết rằng điều này là thật?” TA LÀ ÐẤNG TA LÀ (TA LÀ ÐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU) là nền tảng duy nhất cho đức tin. Ðào sâu vào các hòn đá, hay lặn dưới biển sâu nhằm kiếm tìm những bằng chứng chứng minh Kinh Thánh tức là lăng mạ Ðấng đã viết nên nó. Chắc chắn tôi không tin rằng điều này được cố tình thực hiện; nhưng tôi không thể hiểu làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi kết luận là nó đã được thực hiện.

Ðức tin, như Kinh Thánh viết, là đức tin nơi Ðức Chúa Trời và Con Ngài là Ðức Chúa Jêsus Christ; nó là sự hồi đáp của linh hồn trước bản chất thánh khiết được bày tỏ trong Kinh Thánh; và lời hồi đáp này cũng không thể nào tách khỏi công việc bên trong mà trước đó Ðức Thánh Linh đã hoàn tất. Ðức tin là một món quà của Ðức Chúa Trời cho một linh hồn ăn năn và hoàn toàn không có chút dính líu gì đến những cảm giác hay các dữ kiện mà nó có. Ðức tin là một phép lạ; nó là khả năng Ðức Chúa Trời ban cho để tin Con Ngài; và bất cứ gì không kết quả trong hành động thuận hiệp với ý muốn Ðức Chúa Trời đều không phải là đức tin, mà là một cái gì đó khác hơn.

Ðức tin và những đức hạnh là hai mặt của cùng một đồng tiền. Thật vậy, bản chất cốt lõi của đức tin có tính chất đạo đức. Bất cứ loại đức tin nào được tuyên xưng là ở trong Ðấng Christ, tin rằng Ngài là Cứu Chúa của cá nhân, mà không đưa sự sống vào dưới sự vâng phục Ðấng Christ cách trọn vẹn, như là Chủ của mình, thì đức tin đó còn thiếu và chắc chắn sẽ phản bội nạn nhân của nó trong giây phút cuối cùng.

Người tin thì sẽ vâng lời; thất bại trong sự vâng lời là bằng chứng đầy sức thuyết phục của việc không có một đức tin thật hiện diện. Ðể đạt được những điều không thể làm được, Ðức Chúa Trời phải ban đức tin, hoặc là sẽ không có gì được thực hiện, và Ngài chỉ ban đức tin cho những tấm lòng biết vâng lời. Nơi nào có sự ăn năn thật, nơi đó có sự vâng lời; vì sự ăn năn không chỉ là buồn đau về những sai lầm và tội lỗi trong quá khứ, nó cũng là một quyết định để bắt đầu làm theo ý muốn Ðức Chúa Trời ngay khi Ngài bày tỏ nó cho chúng ta.

Share This:

A. W. Tozer: Thánh Nhân Phải Đi Một Mình

1,965 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Hầu hết những linh hồn vĩ đại của thế giới đều cô đơn. Sự cô đơn dường như là một cái giá mà các thánh nhân phải trả cho sự thánh thiện của mình.
Vào buổi bình minh của thế giới (hay chúng ta nên nói là trong bóng đêm kỳ lạ đó xuất hiện ánh bình minh của sự tạo dựng con người), Hê-nóc, linh hồn trung kiên đó, đồng đi cùng Ðức Chúa Trời và biến mất, vì Ðức Chúa Trời đã cất người lên; việc này không được đề cập đến nhiều, ta có thể suy luận một cách hợp lý là Hê-nóc đã đi trên một con đường hoàn toàn khác với con đường của những người cùng thời.

Một con người cô đơn khác là Nô-ê, so với tất cả mọi người khác trong thời kỳ trước cơn Ðại Hồng Thủy, người đã tìm thấy ân điển trong tầm nhìn của Ðức Chúa Trời; và những bằng chứng nhỏ bé cũng đủ chỉ ra sự cô độc của ông ngay cả khi ông được nhiều người khác vây quanh.

Áp-ra-ham đã có Sa-ra và Lót cũng như những đầy tớ và những người chăn bầy khác, nhưng ai có thể đọc câu chuyện của ông và lời dẫn giải của các sứ đồ mà lại không cảm nhận được ngay tức thì việc ông là một người “có linh hồn giống một ngôi sao cô đơn và đứng riêng biệt”? Ðến mức là chúng ta không thấy Ðức Chúa Trời phán một lời nào về ông trong mối quan hệ bạn bè của mình. Cúi mặt xuống, ông gần gũi với Chúa, và chân giá trị bẩm sinh của ông đã ngăn cấm việc ông mang lấy dáng điệu này trước sự hiện diện của những người khác. Thật ngọt ngào và uy nghi làm sao cái khung cảnh vào đêm tế lễ khi ông thấy những đóm lửa di chuyển giữa các phần của sinh tế. Tại đó, một mình với nỗi lo sợ của bóng tối bao trùm trên mình, ông nghe tiếng Chúa phán và biết rằng ông là một người được chọn cho đặc ân thánh.

Môi-se cũng là một người cách biệt. Khi đến cung điện của Pha-ra-ôn, ông đi bộ một mình, và trong một trong số những chuyến đi bộ đó, ông thấy một người Ai Cập và một người Hê-bơ-rơ đang đánh nhau, ông liền đến giải cứu người đồng hương. Sau hậu quả đổ vỡ với Ai Cập lần đó, hầu như ông hoàn toàn sống một mình trong đồng vắng. Tại đó, ông chỉ chăm nom đàn chiên của mình, điều kỳ lạ của bụi gai cháy đã xuất hiện ra trước mắt ông, và sau đó trên đỉnh núi Si-nai, ông ẩn nấp một mình để được ngắm xem vinh quang đầy sức lôi cuốn của Sự Hiện Diện Thánh, một phần được che giấu, một phần được phát lộ trong đám mây và lửa.

Những tiên tri của thời đại tiền Cơ Ðốc rất khác nhau, nhưng họ có một điểm chung, sự cô độc đầy sức mạnh. Họ đã yêu thương dân tộc của mình và tôn vinh tôn giáo của các bậc cha ông, nhưng lòng trung thành của họ đối với Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác, của Gia-cốp, và lòng nhiệt huyết của họ vì phúc lợi cho cả quốc gia Y-sơ-ra-ên đã kéo họ khỏi đám đông và bước vào những khoảng thời gian dài của gánh nặng. “Tôi đã trở nên một kẻ lạ cho anh em tôi, một người ngoại bang cho các con trai mẹ tôi” (Thi thiên 69:8), một tác giả Thi thiên đã thốt lên như thế và vô tình đã nói thay cho những người còn lại.

Phần lớn sự khải thị cho hết thảy các tiên tri là cái nhìn nơi Ðấng mà Môi-se và các bậc tiên tri khác đã viết, một mình bước đi trên con đường đến chỗ thập giá. Sự cô đơn sâu thẳm của Ngài không hề giảm bớt bởi sự hiện diện của đám đông vây quanh.
 

Khuya nay trên đỉnh núi Ô-li-ve
Sao thưa lu li cảnh trông đê mê
Giữa lâm viên thâm u đêm hiu quạnh
Jêsus đau thương cầu nguyện một mình

Khuya nay Jêsus lánh xa nhân gian
Cô đơn giao tranh với bao nguy nan
Chính môn sinh thân yêu nay vô tình
Nào hay tâm thương, lụy sầu Thầy mình.
William B. Tappan (Thánh Ca 89)

Ngài chết một mình trong bóng tối, được che giấu khỏi cái nhìn của con người hay chết và không ai thấy Ngài sống lại vinh quang và bước ra khỏi mồ mả, dầu rằng có nhiều người sau đó thấy Ngài và làm chứng lại điều mà họ đã thấy. Có những thứ hết sức thiêng liêng cho bất kỳ con mắt nào nhìn vào, ngoại trừ của Ðức Chúa Trời. Sự tò mò, tiếng la hét ầm ĩ, một nỗ lực có ý tốt nhưng ngớ ngẩn để giúp ích chỉ thêm gây trở ngại cho linh hồn đang chờ đợi và tạo nên một điều không bình thường, nếu không phải là không thể: Một sự giao tiếp giữa sứ điệp bí mật của Ðức Chúa Trời với tấm lòng thờ phượng.

Ðôi lúc chúng ta phản ứng theo một loại phản ứng tôn giáo nào đó, nghiêm túc lập lại những từ và câu chữ nào đó ngay cả khi chúng không thể diễn tả những cảm xúc thật của chúng ta và sự thiếu tính xác thực của kinh nghiệm cá nhân. Bây giờ là thời điểm như vậy đấy. Một lòng trung kiên theo quy ước nào đó có thể đưa một số người nghe lẽ thật khác lạ này đến chỗ thốt lên, “Ồ, tôi có bao giờ cô đơn đâu. Chúa phán, ‘Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi,’ rồi thì, ‘Ta hằng ở cùng các ngươi luôn.’ Làm sao tôi có thể cô đơn được khi Ðức Chúa Jêsus ở với tôi?”

Bây giờ tôi không muốn chỉ trích sự thật thà của bất kỳ linh hồn Cơ Ðốc nào, nhưng lời chứng có sẵn này lại quá đơn giản để có thể cho là thật. Thật rõ ràng đó là điều mà người nói nghĩ là phải đúng hơn là điều mà anh ta đã chứng minh là thật bởi sự kiểm tra của kinh nghiệm. Phủ nhận cách vui vẻ sự cô đơn chỉ chứng tỏ rằng người nói chưa bao giờ đi với Chúa mà không có sự giúp đỡ hay khích lệ của xã hội anh đang sống. Cảm giác của tình bạn, cái mà anh ta lầm tưởng là sự hiện diện của Ðấng Christ, có thể và có lẽ thực sự đến từ sự hiện diện của những người khác. Xin hãy luôn nhớ rằng bạn không thể cùng mang vác thập giá với những người khác. Dầu một người được vây quanh bởi một đám đông khổng lồ đi nữa, thập giá của anh ta vẫn là của riêng anh và sự mang vác nó khiến anh trở thành một con người tách biệt. Xã hội đã quay sang chống lại anh; mà nếu ngược lại thì anh ta chẳng có mang vác thập giá gì hết. Không ai là bạn của một người vác thập giá. “Mọi người đều bỏ Ngài và trốn đi cả.”

Nỗi đau của sự cô đơn xuất phát từ tính khí của chúng ta. Ðức Chúa Trời đã tạo dựng chúng ta cho nhau. Khao khát tình người là hoàn toàn tự nhiên và đúng đắn. Sự cô đơn của Cơ Ðốc nhân là kết quả việc anh ta đồng đi với Ðức Chúa Trời trong một thế giới không tin kính, một chuyến đi thường đưa anh xa khỏi sự thông công với những Cơ Ðốc nhân tốt cũng như khỏi thế gian chưa tái sanh. Những bản năng Chúa ban cho anh kêu gào tìm kiếm tình bạn với những người đồng loại của mình, những người có thể hiểu nỗi khao khát của anh, những nguyện vọng của anh, sự say mê của anh nơi tình yêu thương của Ðấng Christ; và vì trong vòng bạn bè có ít người chia sẻ những kinh nghiệm bên trong của mình, anh buộc phải bước đi một mình. Những khao khát chưa được thỏa mãn của các nhà tiên tri nơi sự thấu hiểu của con người khiến họ thốt lên những lời than thở và ngay cả Chúa chúng ta cũng phải chịu đựng cùng một cách đó.

Một người đã vượt qua và bước vào Sự Hiện Diện Thánh trong kinh nghiệm bên trong thật sự sẽ không tìm thấy nhiều người hiểu mình. Một số loại hình thông công xã hội nào đó dĩ nhiên sẽ xuất hiện khi anh ta lẫn vào giữa vòng những con người tôn giáo trong hoạt động thường lệ của Hội Thánh, nhưng mối thông công thuộc linh thật sự sẽ khó mà tìm được. Tuy nhiên anh không nên nghĩ mọi thứ theo hướng trái ngược. Sau hết, anh là một người lạ và là một kẻ hành hương; cuộc hành trình anh đang đi không phải trên đôi bàn chân mà là trong tấm lòng. Anh đồng đi với Ðức Chúa Trời trong khu vườn của chính linh hồn mình – và có ai ngoại trừ Ðức Chúa Trời có thể bước đi với anh ở đó? Anh thuộc về một tâm linh khác tách khỏi đám đông đang bước đến chỗ tòa án của nhà Ðức Chúa Trời. Anh đã thấy điều mà họ chỉ được nghe, và anh bước giữa vòng họ bằng cách nào đó giống như Xa-cha-ri rời khỏi bàn thờ và ra ngoài, lúc đó mọi người thì thầm, “Ông đã thấy một khải tượng.”
Con người thuộc linh thật thực sự là một cái gì đó thuộc về sự khác thường. Anh ta sống không phải cho chính mình, nhưng để khuyên giục sự chú ý đến một Ðấng Khác. Anh tìm cách thuyết phục mọi người trao phó mọi sự cho Chúa của mình và không đòi hỏi một phần chia nào cho chính mình. Anh vui thích không phải khi mình được tôn trọng, nhưng khi thấy Cứu Chúa của mình được vinh hiển trong con mắt của loài người. Niềm vui của anh là được thấy Chúa của mình được tôn cao và chính bản thân anh ta bị hạ xuống. Anh tìm thấy một số ít người quan tâm và nói với họ về mục đích tối thượng của sự quan tâm của anh, vì thế anh thường im lặng và lo lắng giữa những cuộc nói chuyện tôn giáo ồn ào. Vì điều này, anh nổi tiếng là ngu đần và quá nghiêm túc, vì thế anh bị xa lánh và vực sâu giữa anh và xã hội ngày càng rộng ra. Anh tìm kiếm những người bạn mà từ áo xống anh có thể ngửi được mùi một dược, trầm hương, nhục quế bên ngoài những cung điện bằng ngà, và chỉ tìm được một ít người, hoặc không có một người nào, anh ta, giống như Ma-ri, mẹ Chúa Jêsus của thời xưa, gìn giữ những thứ đó trong lòng mình.

Chính sự rất cô đơn này đã kéo anh trở lại với Ðức Chúa Trời. “Khi cha mẹ bỏ tôi đi, thì Ðức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận tôi” (Thi thiên 27:10). Sự bất khả của anh trong việc tìm kiếm sự thông công với con người đã lôi kéo anh đến chỗ tìm kiếm trong Ðức Chúa Trời những điều mà anh không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác. Anh học biết trong sự cô đơn bên trong những gì anh không thể học được nơi đám đông – tức là Ðấng Christ là Mọi sự trong Mọi sự, rằng chính Ngài làm nên sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh khiết và sự cứu chuộc trong chúng ta, rằng trong Ngài chúng ta có và sở hữu sự sung mãn của sự sống đắc thắng.

Còn hai điều để nói đến. Thứ nhất, con người cô đơn chúng ta nói đến không phải là một con người kiêu căng, cũng không phải là người-thánh-khiết-hơn-bạn, một thánh nhân khổ hạnh bị chế nhạo cách cay đắng trong văn chương phổ thông. Anh có khuynh hướng cảm thấy rằng mình là bậc thấp kém nhất so với tất cả mọi người khác và chắc chắn là tự khiển trách vì sự cô độc của mình. Anh muốn chia sẻ những cảm xúc của mình với người khác và mở lòng mình ra với những linh hồn có cùng một tâm trí giống như mình, người sẽ hiểu anh ta, nhưng hoàn cảnh thuộc linh quanh anh không khích lệ anh làm điều đó, vì thế anh vẫn im lặng và chỉ nói những nỗi thống khổ của mình với Chúa mà thôi.

Ðiều thứ hai, vị thánh cô đơn không phải là một con người lãnh đạm, làm cứng lòng mình, chống lại những đau khổ của con người và sống những ngày của mình trầm ngâm suy tưởng về các tầng trời. Sự thật hoàn toàn ngược lại. Sự cô đơn của anh khiến anh thông cảm với sự kêu cứu của một tấm lòng tan vỡ, sa ngã và thâm tím vì tội lỗi. Vì anh tách biệt khỏi thế gian, anh là người có nhiều khả năng giúp đỡ nó hơn. Meister Eckhart dạy những học trò của mình rằng nếu trong sự cầu nguyện của họ mà họ cảm thấy như được đưa lên đến tầng trời thứ ba và tình cờ nhớ lại một góa phụ nghèo cần thức ăn, thì họ nên ngắt ngang lời cầu nguyện ngay lập tức và đi đến chăm sóc góa phụ đó. “Ðức Chúa Trời sẽ không để các bạn mất bất cứ gì vì điều đó,” ông nói, “Bạn có thể tiếp tục cầu nguyện trong chỗ mà bạn đã dừng lại và Ðức Chúa Trời sẽ tiếp tục vận hành tùy theo bạn.” Ðây là một kiểu mẫu của những người thần bí và giáo sư vĩ đại của đời sống thuộc linh từ thời Phao-lô cho đến ngày nay.

Sự yếu đuối của quá nhiều Cơ Ðốc nhân ngày nay là ở chỗ họ cảm thấy quá quen thuộc như ở nhà ngay trong thế gian này. Trong nỗ lực của họ để đạt được sự “hòa giải” yên tĩnh với xã hội không tái sanh, họ đã đánh mất đặc tính người khách lữ hành của mình và trở nên một phần cần thiết của cái trật tự đạo đức mà họ vốn đã được sai đi để chống lại. Thế gian nhìn nhận và chấp nhận họ như là cái mà họ biểu hiện như vậy. Và đây là điều đáng buồn nhất có thể nói về họ: Họ không cô đơn, nhưng họ cũng không phải là những thánh nhân!

 

 

Share This:

Lời Chúa

2,259 views

I. Tính chất của Lời Chúa

 

1. Lời Chúa là chân thật

"Sự tổng cộng lời của Chúa là chân thật." (Thi Thiên 119:160a).

"Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh.
Lời Cha là lẽ thật".
(Giăng 17:17).

2. Lời Chúa còn lại đời đời

"Hỡi Đức Giê-hô-va, lời Ngài được vững lập đời đời trên trời." (Thi Thiên 119:89).

"Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời." (Thi THiên 119:152).

"Các mạng lịnh công bình của Chúa còn đời đời." (Thi Thiên 119:160b).

"Nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là đạo Tin Lành đã giảng ra cho anh em." (1 Phi-e-rơ 1:25).

3. Lời Chúa có quyền năng sáng tạo

"Các từng trời được làm nên bởi lời Đức Giê-hô-va, Cả cơ binh trời bởi hơi thở của miệng Ngài mà có." (Thi Thiên 33:6).

"Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến." (Hê-bơ-rơ 11:3).

"Chúng nó có ý quên lững đi rằng buổi xưa bởi lời Đức Chúa Trời có các từng trời và trái đất, đất ra từ Nước và làm nên ở giữa nước." (2 Phi-e-rơ 3:5)

 

II. Sự cần thiết của Lời Chúa đối với chúng ta

 

1. Lời Chúa là sự sống

"Xin hãy binh vực duyên cớ tôi, và chuộc tôi; Cũng hãy khiến tôi được sống tùy theo lời Chúa." (Thi Thiên 119:154).

"Ấy là thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống. (Giăng 6:63).

"Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời." (Giăng 6:68).

"Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng." (Hê-bơ-rơ 4:12).

 

2. Lời Chúa là sự sống lại

"Lời Chúa làm cho tôi được sống lại." (Thi Thiên 119:50).

"Anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời." (1 Phi-e-rơ 1:23).

 

3. Lời Chúa thánh hóa

"Các ngươi đã được trong sạch, vì lời ta đã bảo cho". (Giăng 15:3).

"Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh.
Lời Cha là lẽ thật".
(Giăng 17:17).

 

III. Tác dụng của Lời Chúa đối với chúng ta

 

15 Và từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ.

16 Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình,

17 hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành.

(2 Ti-mô-thê 3:15-17)

 

1. Tra xét

"Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng."
(Hê-bơ-rơ 4:12)

2. Ban sự khôn ngoan (2 Ti-mô-thê 3:15)

3. Dạy dỗ (2 Ti-mô-thê 3:16)

4. Bẻ trách (2 Ti-mô-thê 3:16)

5. Sửa trị (2 Ti-mô-thê 3:16)

6. An ủi

"Lời Chúa làm cho tôi được sống lại, Ấy là sự an ủi tôi trong cơn hoạn nạn."
(Thi Thiên 119:50)

"Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi đã nhớ lại mạng lịnh Ngài khi xưa, Nên tôi được an ủi."
(Thi Thiên 119:52)

7. Ban sự trông cậy

"Xin chớ cất hết lời chơn thật khỏi miệng tôi; Vì tôi trông cậy nơi mạng lịnh Chúa." (Thi Thiên 119:43)

"Những người kính sợ Chúa thấy tôi sẽ vui vẻ; Vì tôi trông cậy lời của Chúa."
(Thi Thiên 119:74)

"Linh hồn tôi hao mòn vì mong ước sự cứu rỗi của Chúa; Song tôi trông cậy lời của Chúa." (Thi Thiên 119:81)

"Chúa là nơi ẩn náu và cái khiên của tôi; Tôi trông cậy nơi lời Chúa."
(Thi Thiên 119:114)

"Tôi thức trước rạng đông và kêu cầu; Tôi trông cậy nơi lời Chúa."
(Thi Thiên 119:147)

 

 

Kết luận

 

Lời Chúa là thánh khiết, là sự sống, và sự sống lại.

1. Chúng ta cần nuôi dưỡng mình bởi lời Chúa bằng cách ngày đêm suy gẫm lời Chúa và cẩn thận làm theo lời Chúa:

"Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được thịnh vượng trong con đường mình, và mới được phước." (Giô-suê 1:8).

2. Nhờ có lời Chúa mà chúng ta được sự khôn ngoan và không phạm tội cùng Chúa

"Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan." (Thi Thiên 19:7).

"Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, Để tôi không phạm tội cùng Chúa." (Thi Thiên 119:11).

3. Chúng ta cần đối chiếu sự giảng dạy của mọi người với lời Chúa để xem những lời giảng dạy ấy có đúng với lẽ thật của Thánh Kinh hay không

"Những người nầy có ý hẳn hoi hơn người Tê-sa-lô-ni-ca, đều sẵn lòng chịu lấy đạo, ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng có thật chăng." (Công Vụ 17:11).

Chúng ta phải luôn ở trong Chúa nhưng lời của Chúa cũng phải luôn ở trong chúng ta thì Chúa mới đáp lời cầu xin của chúng ta (Giăng 15:7).


05/11/2006

Share This:

A. Z. Tozer: Giá Trị của Sự Tưởng Tượng Ðã Ðược Thánh Hóa

1,762 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Giống như những sức mạnh khác thuộc về chúng ta, sự tưởng tượng có thể hoặc là một ơn lành hoặc là một sự rủa sả, tùy thuộc hoàn toàn vào việc nó được sử dụng như thế nào và nó được kỷ luật ra sao.Chúng ta thảy đều có một mức độ sức mạnh nào đó để tưởng tượng. Món quà này cho phép chúng ta thấy được ý nghĩa trong những gì thuộc về vật chất, nắm bắt được những cái giống nhau giữa các sự vật vốn lúc đầu xem có vẻ chẳng giống nhau chút nào cả. Nó cho phép chúng ta biết những cái mà cảm giác không bao giờ có thể nói với chúng ta, vì bởi nó mà chúng ta có thể thấy xuyên qua sự biểu hiện của cảm giác đến thực tại nằm đằng sau của các sự vật.

Mỗi tiến bộ do con người thực hiện trong bất cứ lĩnh vực nào trở nên giống như một ý tưởng vốn hoàn toàn mới mẻ trong khung thời gian. Tâm trí của nhà phát mình chỉ đơn giản nắm bắt những chi tiết rất nhỏ của các ý tưởng tương tự với nhau và tạo nên một cái gì đó không những hoàn toàn khác biệt mà còn là một thứ chưa hề tồn tại cho đến thời điểm đó. Vì thế chúng ta “sáng tạo” nên các đồ vật, ý tưởng; và việc làm đó minh chứng chúng ta được tạo dựng theo hình và ảnh của Đấng Tạo Hóa. Việc con người sa ngã thường sử dụng năng lực sáng tạo của mình để phục dịch cho điều ác không hề làm giảm hiệu lực lý luận của chúng ta. Bất cứ tài năng nào cũng có thể được dùng cho điều ác cũng như cho điều thiện, tuy nhiên, mọi tài năng đều đến từ Đức Chúa Trời. 

Một số người lẫn lộn cách sai lầm từ “giàu tưởng tượng” và từ “có tính chất tưởng tượng” (ảo) đã phủ nhận việc tưởng tượng có một giá trị rất lớn trong sự hầu việc Đức Chúa Trời. Phúc Âm của Đức Chúa Jêsus Christ không hề có dính dáng gì đến những điều có tính chất tưởng tượng. Cuốn sách hiện thực nhất trên thế giới này là quyển Kinh Thánh. Đức Chúa Trời là thật, con người là thật, tội lỗi, sự chết và địa ngục cũng vậy, một nơi mà chắc chắn tội lỗi sẽ đưa đến. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời không hề có tính chất tưởng tượng, sở thích cầu nguyện miệt mài cũng vậy. Những gì gắn liền với sự chú ý của người đang cầu nguyện, dù không phải vật chất, hoàn toàn là thật; còn hơn là thật nữa, cuối cùng nó sẽ được thừa nhận, hơn bất cứ điều gì khác trên trần gian này. 

Giá trị của một trí tưởng tượng thánh sạch thuộc phạm vi tôn giáo nằm bên trong sức mạnh giúp nắm bắt được trong những cái tự nhiên bóng dáng của những cái thuộc linh. Nó cho phép một con người kính sợ 

Thấy thế giới trong một hạt cát
Và cõi vĩnh hằng trong một giờ

Sự yếu đuối của người Pha-ri-si chính là sự thiếu trí tưởng tượng, hay những cái đưa đến điều đó, ông ta từ chối để nó bước vào lĩnh vực tôn giáo. Ông thấy các con chữ với những ý nghĩa thần học được gìn giữ cẩn thận và ông không thấy gì phía sau cả.

Hoa anh thảo ở cạnh bờ sông
Một bông hoa vàng cho anh,
Và không còn gì hơn nữa

Khi Đức Chúa Jêsus đến với sự sâu sắc thuộc linh rạng rỡ của Ngài và một sự nhạy cảm đạo đức tuyệt vời, thì người Pha-ri-si coi Ngài như một người mộ đạo của một tôn giáo nào khác, nhưng thật ra là chính Ngài; giá như thế giới này hiểu được điều đó. Ngài có thể thấy được linh hồn của những con chữ trong khi người Pha-ri-si chỉ thấy được cái xác bên ngoài, và ông ta chỉ có thể loanh quanh cố tìm cách minh chứng Đức Chúa Jêsus sai trật bằng cách bám vào các con chữ của luật pháp hay sự giải thích được truyền thống coi là thiêng liêng. Khoảng cách giữa chúng (truyền thống luật pháp và sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh – ND) là quá lớn để cho phép chúng cùng tồn tại; vì thế người Pha-ri-si, người ở địa vị lập nên truyền thống, đã đẩy Nhà Tiên Tri trẻ vào chỗ chết. Nó đã luôn là như vậy, và tôi cho rằng nó cũng sẽ luôn là như vậy cho đến khi trái đất này đầy dẫy tri thức về Đức Chúa Trời, giống như nước bao phủ đại dương.

Vì là một bản năng của tâm trí tự nhiên, nên sự tưởng tượng cần thiết phải chịu đựng cả từ những giới hạn bên trong cũng như từ một khuynh hướng di truyền hướng về điều ác. Vì văn tự trong bản King James (tương đương là Bản dịch cũ của Kinh Thánh tiếng Việt – ND) không mang ý nghĩa về sự tưởng tượng, mà chỉ nói về những nguyên nhân của con người tội lỗi, tôi không viết để bào chữa cho trí tưởng tượng ô uế. Tôi biết rõ rằng từ đó đã chảy ra một dòng suối ô nhiễm bởi những ác tưởng trải qua các tháng năm, đưa đến hành vi không tôn trọng pháp luật và có tính chất hủy diệt về phần của con người. 

Tuy nhiên, trí tưởng tượng được thanh tẩy, được điều khiển bởi Đức Thánh Linh là một điều hoàn toàn khác, và đó chính là cái tôi muốn nói đến ở đây. Tôi ao ước thấy trí tưởng tượng được giải phóng khỏi nhà tù của nó và được đưa đến đúng chỗ của mình giữa vòng những đứa con của sự sáng tạo mới. Cái mà tôi cố diễn tả ở đây là một đặc ân thánh cho phép con người được nhìn, một năng lực nhìn xuyên qua bức màn và chăm xem, với sự ngạc nhiên kỳ diệu, nơi những vẻ đẹp, những bí mật của những điều thánh khiết và đời đời. 

Tâm trí lề mề, nặng nề không ích lợi gì cho Cơ Đốc giáo cả. Để nó cai trị Hội Thánh đủ lâu thì nó sẽ dồn ép Hội Thánh vào chỗ lựa chọn một trong hai hướng: Hoặc là hướng về chủ nghĩa tự do, nơi mà Hội Thánh tìm thấy sự khoây khỏa trong sự tự do giả tạo, hay hướng về thế giới, nơi mà Hội Thánh sẽ tìm thấy một thú vui rất thú vị, nhưng đầy tai họa. Nhưng tôi tự hỏi liệu điều này có phải là tất cả những gì Lời Chúa đã ghi lại trong sách Phúc Âm Giăng: “Lúc nào Thần Lẽ Thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe và bày tỏ cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi” (16:13-14).

Có được một tâm trí do Thánh Linh cai trị là đặc quyền bởi ân điển của Cơ Đốc nhân, và điều này bao trùm mọi việc tôi đã nói ra ở đây.

 

Share This:

Ý nghĩa thập tự giá

3,168 views

1. Thập tự giá là án phạt của tội lỗi: Đấng Christ đã vì chúng ta mà chết trên thập tự giá

"Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự." (Phi-líp – Philippians 2:8).

"Và bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Ngài." (Cô-lô-se – Colossians 1:20).

 

2. Thập tự giá là phương cách thoát khỏi tội lỗi: Con người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá

"Vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa." (Rô-ma – Romans 6:6).

"Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi." (Ga-la-ti – Galatians 2:20).

"Vả, những kẻ thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tự giá rồi." (Ga-la-ti – Galatians 5:24).

"Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!" (Ga-la-ti 6:14).

 

3. Thập tự giá là vũ khí để chiến thắng tội lỗi: Chúng ta cần phải vác thập tự giá mình mỗi ngày

"Ngài đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta, các điều khoản trái với chúng ta nữa, cùng phá hủy tờ khế đó mà đóng đinh trên cây thập tự; Ngài đã truất bỏ các quyền cai trị cùng các thế lực, dùng thập tự giá chiến thắng chúng nó, và nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ". (Cô-lô-se – Colossians 2:14,15).

"Ai không vác thập tự mình mà theo ta, thì cũng chẳng đáng cho ta." (Ma-thi-ơ 10:38).

"Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta." (Ma-thi-ơ 16:24).

"Đoạn, Ngài phải cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta." (Lu-ca – Luke 9:23).

"Còn ai không vác thập tự giá mình theo ta, cũng không được làm môn đồ ta." (Lu-ca – Luke 14:27).

 

Kết luận

— Đức Chúa Jesus đã vác thập tự giá của Ngài, chịu khổ vì tội lỗi của chúng ta.

— Đức Chúa Jesus đã bị đóng đinh trên thập tự giá của Ngài, chịu chết vì tội lỗi chúng ta.

— Chúng ta cũng đã bị đóng đinh trên thập tự giá của Ngài, để chết đi con người cũ của chúng ta.

— Chúng ta phải vác thập tự giá mình mỗi ngày, chịu khổ vì danh Chúa.

29/10/2006

Share This:

A. Z. Tozer: Sống Với Chúa Thật Dễ

1,861 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Công tác đầu tiên Sa-tan tấn công loài người là nỗ lực quỷ quyệt của nó hòng phá hủy niềm tin của Ê-va đã đặt để nơi sự nhân từ của Ðức Chúa Trời. Thật không may cho bà và cho chúng ta là Ma quỷ đã thành công vượt bậc. Từ ngày đó, con người có một quan niệm sai trật về Ðức Chúa Trời, đây chính là điều đã tách loài người khỏi nền tảng của sự công chính và đưa đẩy họ vào lối sống liều lĩnh và tiêu cực.

Không có gì xuyên tạc và bóp méo linh hồn con người cho bằng quan niệm thấp kém và vô giá trị của con người về Ðức Chúa Trời. Quan niệm sai lầm của họ về Ðức Chúa Trời gây nên một hậu quả là ý tưởng sai lầm về sự thờ phượng. Ðối với người Pha-ri-si, sự thờ phượng Ðức Chúa Trời là một gánh nặng rất lớn. Chúa của người Pha-ri-si không phải là Ðấng mà việc tương giao với Ðấng đó là điều dễ dàng, vì thế cho nên tôn giáo của người Pha-ri-si trở nên khắc nghiệt, cứng nhắc, và không có tình yêu thương. Cho nên quan niệm của chúng ta về Ðức Chúa Trời như thế nào sẽ luôn luôn quyết định phẩm chất tôn giáo của chúng ta.

Phần lớn Cơ Ðốc giáo kể từ ngày Ðấng Christ còn tại thế cũng đã khắc nghiệt và gay gắt như thế. Và nguyên nhân cũng như vậy thôi – một quan điểm vô giá trị hay không thích hợp về Ðức Chúa Trời. Theo bản năng, chúng ta cố gắng trở nên giống như Ðức Chúa Trời của mình, và nếu Ngài được hiểu như là rất khắc nghiệt và hay đòi hỏi quá quắt, thì chính chúng ta cũng sẽ như vậy thôi.

Thất bại của việc hiểu Ðức Chúa Trời một cách đúng đắn dẫn đến một thế giới bất hạnh giữa vòng những Cơ Ðốc nhân tốt ngay cả trong ngày hôm nay. Khi một Cơ Ðốc Nhân nghĩ rằng đời sống Cơ Ðốc là việc mang thập giá thô nhám, không hề giảm bớt căng thẳng dưới con mắt của một người Cha nghiêm khắc đòi hỏi thì nhiều mà không tha thứ cho việc gì cả, thì những đời sống như vậy chắc chắn phải là một trò chế nhạo trên đời sống thật của Ðấng Christ.

Ðiều quan trọng nhất đối với sức khỏe thuộc linh tốt của chúng ta là chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ trong tâm trí mình một quan niệm đúng đắn về Ðức Chúa Trời. Nếu chúng ta nghĩ rằng Ngài là một Ðấng lạnh lùng và hay đòi hỏi quá quắt, chúng ta sẽ không thể nào yêu mến Ngài được, và đời sống chúng ta sẽ bị bao bọc bởi một tấm màn của nỗi sợ hãi dai dẳng như của một người nô lệ. Nếu, một lần nữa, chúng ta tin Ngài là Ðấng nhơn lành và toàn tri, đời sống bên trong của chúng ta sẽ phản ánh tư tưởng đó.

Sự thật nằm ở chỗ Ðức Chúa Trời là Ðấng tuyệt vời nhất trong tất cả các hữu thể và sự thờ phượng Ngài là một trong những niềm khoái lạc khôn tả.

Ngài là tình yêu thương đầy trọn, và những ai tin nơi Ngài không cần phải biết điều gì khác hơn là tình yêu thương. Ngài là Ðấng công bình, quả thật vậy, và Ngài sẽ không tha thứ cho tội lỗi; nhưng bởi huyết báu của giao ước đời đời, Ngài hướng về chúng ta như thể chúng ta là những người chưa bao giờ phạm tội. Ðối với những đứa con tin cậy nơi Ngài, sự nhơn từ Ngài sẽ luôn luôn chiến thắng luật pháp.

Mối tương giao với Ðức Chúa Trời là thú vị, vượt quá sự mô tả của mọi ngôn ngữ. Ngài tương giao với những người đã được cứu và thuộc về Ngài trong một mối tương giao dễ dàng và tự do vốn mang đến sự yên nghỉ và chữa lành cho linh hồn. Ngài không dễ bị tổn thương cũng không ích kỷ hoặc hay thay đổi thất thường. Hôm nay Ngài như thế nào, ngày mai, ngày mốt, năm sau, và cả cõi đời đời chúng ta cũng vẫn thấy Ngài như vậy. Ngài không phải là Ðấng khó làm vừa lòng, dầu rằng có thể khó làm cho Ngài thỏa lòng. Ngài chỉ mong muốn nơi chúng ta những điều mà trước đó Ngài đã ban cho. Ngài nhanh chóng ghi nhận mọi nỗ lực để làm vừa lòng Ngài, dù là chúng nhỏ bé, và Ngài cũng nhanh chóng bỏ qua những sự bất toàn khi Ngài biết rằng chúng ta muốn làm theo ý muốn Ngài. Ngài yêu thương chúng ta vì chính chúng ta và đánh giá tình yêu thương chúng ta dành cho Ngài còn lớn hơn cả những thiên hà của các thế giới đã được tạo dựng.

Thật không may, nhiều Cơ Ðốc nhân không thể tự do thoát khỏi những quan niệm sai lầm của họ về Ðức Chúa Trời, và những quan niệm đó đầu độc tấm lòng họ, đồng thời phá hủy sự tự do bên trong. Những người bạn này hầu việc Ðức Chúa Trời cách cứng nhắc, giống như như người anh cả trong câu chuyện người con trai hoang đàng, làm điều đúng mà không có sự nhiệt tình, không có niềm vui, và dường như hoàn toàn không thể hiểu buổi tiệc vui vẻ, phước hạnh mừng đứa em hoang đàng trở về nhà.

Tôi cảm tạ ơn Chúa vô cùng nếu chúng ta có thể học biết rằng sống với Ðức Chúa Trời thật dễ dàng đối với loài người chúng ta. Ngài nhớ rõ tình trạng của chúng ta và biết rằng chúng ta là bụi đất. Có thể đôi lúc Ngài uốn nắn chúng ta, quả thật vậy, nhưng ngay cả trong khi làm điều đó, Ngài mỉm cười khả ái, một nụ cười hãnh diện, mềm mỏng của người Cha đang chìm ngập trong niềm vui với đứa con dù bất toàn nhưng đầy hứa hẹn, một đứa con đang ngày càng trở nên giống Cha mình.

Một số người trong chúng ta hay giật mình và e dè vì chúng ta biết rằng Ðức Chúa Trời thấy mọi tư tưởng chúng ta và quen thuộc với mọi đường lối của chúng ta. Chúng ta không cần phải như thế. Ðức Chúa Trời là Ðấng gồm tóm mọi sự kiên nhẫn và bản chất của ý muốn nhơn từ tốt lành. Chúng ta làm Ngài vừa lòng nhất, không phải bởi việc chúng ta cố gắng làm cho mình trở nên tốt, bèn là bởi việc trao phó chính mình trong vòng tay của Ngài với hết thảy những bất toàn, và tin rằng Ngài hiểu mọi sự mà vẫn yêu thương chúng ta.

 

Share This:

Ăn năn tội

2,806 views

I. Định nghĩa ăn năn tội

Từ ngữ "ăn năn" trong Thánh Kinh Việt ngữ được dùng để dịch hai chữ khác nhau trong Thánh Kinh.

— Chữ thứ nhất, ít khi được dùng là metamellomai (μεταμέλλομαι 3338) [1]. Chữ này có nghĩa là "hối tiếc việc đã làm", có thể dịch là hối tiếc, hối hận, thống hối. Thánh Kinh dùng chữ này trong trường hợp của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, (Ma-thi-ơ – Matthew 27:3).

— Chữ thứ nhì, thường được dùng là metanoeō (μετανοέω 3340) [2]. Chữ này có nghĩa là "quay trở lại", có thể dịch là ăn năn, hối cải. Sứ điệp của Giăng Báp-tít dùng chữ này kêu gọi người nghe ăn năn để dọn mình, dọn lòng tiếp nhận Đấng Christ. Sứ điệp của Đấng Christ cũng dùng chữ này kêu gọi mọi người ăn năn để được vào nước trời.

Ăn năn ở đây là ăn năn về nếp sống tội lỗi. Như vậy, Thánh Kinh cho thấy ăn năn tội không chỉ là cảm giác hổ thẹn, hối tiếc về nếp sống tội lỗi, mà còn là ý muốn kiên quyết từ bỏ tội lỗi, ý muốn dứt khoát quay trở lại, là tấm lòng sẵn sàng chịu sửa đổi.

 

II. Ăn năn tội và xưng tội

Nhiều người hối tiếc những tội lỗi mình đã làm nhưng không chịu ăn năn cho nên tiếp tục đi trong con đường tội lỗi. Những người này cứ phạm tội, rồi hối tiếc, rồi lại phạm tội. Họ cứ miệt mài đi tới trên con đường một chiều của sự hư mất. Thỉnh thoảng, họ dừng lại than khóc, u sầu trong những trạm đau thương, thống hối bên đường, (là những cơ hội Thiên Chúa ban cho họ để ăn năn, hối cải), nhưng họ không chịu từ bỏ nếp sống tội, để rồi sau đó lại lê bước đi tiếp, cho tới khi đạt đến trạm cuối cùng là sự chết!

Những người khác thì biết hối tiếc khi ý thức mình đã phạm tội, đồng thời muốn có cơ hội để thay đổi tình trạng phạm tội của mình, muốn được tha thứ, muốn sửa đổi, muốn thoát khỏi quyền lực của tội lỗi, muốn được sống trong thánh khiết và công chính. Những người này bằng lòng trả mọi giá để có được cơ hội quay lại. Thánh Kinh gọi đó là sự ăn năn tội.

Sự ăn năn tội dẫn đến sự xưng tội.

Xưng tội không có nghĩa đơn giản là "nhận tội". Một người có thể nhận tội, nghĩa là công nhận mình có tội vì đó là một thực tế không thể chối cãi, trong khi không hề có lòng ăn năn. Người nhận tội mà không có lòng ăn năn, mặc dù nhận tội nhưng vẫn tìm cách để biện hộ cho tội lỗi của mình và không thật lòng chấp nhận hình phạt của tội lỗi. Người nhận tội mà không có lòng ăn năn sẵn sàng tái phạm những tội đã phạm khi có cơ hội.

Từ ngữ xưng tội nói lên hành động của một người thừa nhận quyền tể trị tuyệt đối của Thiên Chúa và công nhận những xúc phạm của mình, (tức là tội lỗi,) đối với bản tính và ý chỉ của Thiên Chúa, cho dù có được tha thứ hay không. Người xưng tội bởi lòng ăn năn sẵn sàng tiếp nhận trách nhiệm, công bố hình phạt của tội lỗi mình đã phạm là công chính (Lu-ca – Luke 23:41).

Xưng tội là bổn phận của một tội nhân biết ăn năn, là hành động công chính duy nhất mà một tội nhân biết ăn năn có thể làm được. Xưng tội còn là công nhận sự công chính của Thiên Chúa và bằng lòng tiếp nhận sự phán xét của Ngài. Một người chỉ có thể xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa qua sự cầu nguyện trong danh của Đức Chúa Jesus Christ.

 

III. Ân điển của Thiên Chúa dành cho người tin nhận Ngài và ăn năn tội

Cảm tạ Thiên Chúa về sự nhân từ và thương xót đời đời của Ngài. Khi một người tin nhận Thiên Chúa, tin nhận Tin Lành cứu rỗi của Ngài qua Đức Chúa Jesus Christ, thật lòng ăn năn tội, xưng nhận tội thì Ngài ban cho người ấy ân điển cứu rỗi của Ngài. Sự ăn năn tội, xưng nhận tội đi chung với đức tin vào ân điển cứu rỗi của Thiên Chúa khiến cho một người được tha tội, được làm cho sạch tội, và được Thiên Chúa tái sinh, ban cho quyền phép trở nên con Ngài.

Ân điển cứu rỗi là lòng thương xót của Thiên Chúa ban cho người có tội biết ăn năn. Ân điển cứu rỗi bao gồm: ơn tha tội, và ơn làm cho sạch tội (sự chuộc tội bởi Đấng Christ và sự tái sinh bởi Đức Thánh Linh). Ân điển cứu rỗi dẫn đến ân điển nhận được quyền phép trở nên con của Thiên Chúa (Giăng – John 1:12,13). Khi một người được trở nên con của Thiên Chúa, người ấy cùng với Đấng Christ kế tự tất cả những sự giàu có vinh hiển của Thiên Chúa (Rô-ma – Romans 8:16,17). Vì là con của Thiên Chúa cho nên chúng ta được nhận lãnh năng lực và quyền phép của Thiên Chúa, tức là Thánh Linh, ngay khi còn sống trong xác thịt để học biết cách quản trị cơ nghiệp của Thiên Chúa (Giăng – John 7:38,39). Sự học tập quản trị đó bắt đầu ngay từ giờ phút chúng ta được tái sinh và được thực tập ngay trên xác thịt của chúng ta (Rô-ma – Romans 6:12-14,19; 1 Cô-rinh-tô – 1 Corinthians 9:27).

 

IV. Kết quả xứng đáng với sự ăn năn

Sau khi một người tin nhận Thiên Chúa, ăn năn tội, tiếp nhận ân điển cứu rỗi, và ân điển được quyền phép trở nên con Thiên Chúa, thì ân điển lớn nhất Thiên Chúa ban cho người ấy trong đời này, là ân điển khiến cho muôn dân trở thành môn đồ của Đấng Christ; nói cách văn hoa là ân điển môn đồ hóa muôn dân cho Đấng Christ, (Ma-thi-ơ – Matthew 28:18-20):

18 Đức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.

19 Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ,

20 và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.

Ân điển này là một vinh dự lớn lao mà chúng ta không thể hiểu tường tận cho đến khi chúng ta gặp mặt Chúa và nhìn thấy tổng kết thành quả của ân điển ấy qua đời sống của chúng ta, được ghi chép và thâu trử trên thiên đàng. Chính Đức Chúa Jesus phán rằng, linh hồn của một người quý hơn cả thế gian, và, khi một người thật lòng ăn năn tội, thì các thiên sứ ở trên trời cũng vui mừng. Như vậy, khi chúng ta vâng lời Chúa, tiếp nhận ân điển của Ngài để đi ra rao giảng về Chúa cho người khác, dẫn họ đến với sự cứu rỗi và sự sống đời đời trong Chúa; giảng dạy cho họ những lẽ thật của lời Chúa khiến họ được lớn lên, đứng vững trong đức tin và kết quả xứng đáng, thì chúng ta đã làm công việc cao quý nhất một người có thể làm mà thành quả còn đến đời đời.

 

Kết luận

Trong Hội Thánh ngày nay có nhiều người hối tiếc cuộc sống tội lỗi của mình, tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ, mong ước được vào thiên đàng, nhưng lại không ăn năn tội, nghĩa là không chịu từ bỏ nếp sống tội lỗi. Với những người như vậy, Phao-lô đã rớt nước mắt mà nói:

"Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ." (Phi-líp – Philippians 3:18).

Toàn bộ sứ điệp của Tin Lành cứu rỗi được tóm gọn vào ba điều sau đây:

1. "Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần!" (Ma-thi-ơ – Matthew 3:2);

2. "Các ngươi hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn." (Ma-thi-ơ – Matthew 3:8); và

3. "Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!" (2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 6:2).

Đức tin vào trong sự cứu rỗi của Thiên Chúa, nếu không thể hiện bằng hành động ăn năn, nghĩa là quay lưng lại với tội lỗi, dần dần sẽ trở thành đức tin chết. Đức tin chết không cứu được ai! Đức tin sống là đức tin dẫn đến sự ăn năn tội, dẫn đến sự cứu rỗi, dẫn đến sự tái sinh, dẫn đến địa vị làm con của Thiên Chúa và sống một đời sống kết quả xứng đáng với sự ăn năn! Đức tin sống khiến cho chúng ta được sống và còn dẫn đưa nhiều người khác đến với sự sống.

Đức tin đó, cần phải được bắt đầu ngay hôm nay, qua hành động ăn năn tội!

 

Huỳnh Christian Timothy
Giảng tại Hội Thánh Tin Lành Emmanuên
Tucson, Arizona
22/10/2006

 

 

Chú thích:

 

[1] Metamellomai phát âm là "met-am-el'-lom-ahee"

[2] Metanoeō phát âm là "met-an-o-eh'-o"

 

Tham khảo:

1. Textus Receptus Greek New Testament, (www.e-sword.org).

2. Thayer's Greek Definitions, (www.e-sword.org).

3. Strong's Exhaustive Concordance of the Bible, Dictionaries of the Hebrew and Greek Words of the Original, James Strong, (Hendrickson Publishers, ISBN 0-917006-01-1).

4. Dictionary of Theological Terms, Alan Cairns, (Ambassador Emerald International, 2002)

5. Wycliffe Bible Dictionary, Charles F. Pfiffer, Howard F. Vos, John Rea, (Hendrickson Publishers, 2003).

6. Baker Theological Dictionary of the Bible, Edited by Walter A. Elwell, (Baker Books, 1996).

Share This:

Tội Lỗi

1,862 views

I. Định nghĩa tội lỗi:

Một cách tổng quát, tội lỗi là bất kỳ điều gì trái ngược với bản tính Thiên Chúa. Bản tính Thiên Chúa chính là sự vinh hiển của Ngài cho nên tội lỗi là sự thiếu hụt sự vinh hiển của Thiên Chúa:

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma – Romans 3:23).

Bản tính Thiên Chúa bao gồm sự Thánh Khiết, sự Công Chính, và Tình Yêu. Bản tính Thiên Chúa được biểu lộ qua các điều răn của Ngài. Sự vi phạm các điều răn của Thiên Chúa, cho dù chỉ trong tư tưởng, là tội lỗi.

Thánh Kinh dùng chữ hamartia [1](αμαρτιαν266), nguyên nghĩa là “trật mục tiêu” để chỉ về tội lỗi. Khi một người bắn cung, bắn không trúng mục tiêu là hamartia. Cũng vậy, khi đời sống của một người không phản ánh sự vinh hiển của Thiên Chúa (không sống đúng với tiêu chuẩn Thánh Khiết, Công Chính, và Yêu Thương của Ngài) thì đời sống của người đó trật mục tiêu mà Thiên Chúa đã đặt ra, là phạm tội. Bởi vì, Thiên Chúa đã dựng nên loài người theo hình ảnh của Ngài, phản chiếu sự vinh hiển của Ngài (Sáng Thế – Genesis 1:26-27; Thi Thiên – Psalm 8:5).

II. Tính chất của tội lỗi:

Tội lỗi có các tính chất như sau:

1. Tội là anomia [2] (ανομια458), có nghĩa là “bất chấp luật pháp”, là biết điều phải mà vẫn làm điều quấy, biết luật pháp mà vẫn vi phạm.

Ma-thi-ơ – Matthew 7:23, 13:41, 23:28, 24:12; Rô-ma – Romans 4:7, 6:19; 2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 6:14; 2 Tê-sa-lô-ni-ca – 2 Thessalonians 2:7; Tít – Titus 2:14; Hê-bơ-rơ – Hebrews 1:9, 8:12, 10:17; 1 Giăng – 1 John 3:4.

Bản năng thứ nhất của loài người là bản năng làm điều mình thích; bởi thế, có những lúc người ta muốn đạp đổ truyền thống, thách thức luật pháp, và làm những điều cấm kỵ. Cho dù có người nào dám nói mình chưa bao giờ hành động phạm các điều răn của Thiên Chúa cũng không thể nói là mình không hề có ước muốn phạm tội.

2. Tội là parabasis [3] (παράβασις3847), nghĩa là “bước ngang qua lằn ranh”, là vượt ngang qua ranh giới giữa đúng và sai.

Rô-ma – Romans 2:23, 4:15, 5:14; Ga-la-ti – Galatians 3:19; 1 Ti-mô-thê – 1 Timothy 2:14; Hê-bơ-rơ – Hebrews 2:2, 9:15.

Chúng ta có luôn luôn ở bên phải của lằn ranh giữa thành thật và giả dối không? Có một điểm không thành thật nhỏ bé nào trong đời sống của chúng ta chăng? Có phải chúng ta luôn luôn ở bên phải lằn phân chia đúng, sai không? Có thật chúng ta không bao giờ dùng lời nói hoặc sự yên lặng để vặn cong, hoặc lẫn tránh, hoặc xuyên tạc sự thật chăng? Có phải chúng ta bao giờ cũng ở bên phải lằn phân chia sự tử tế, lễ độ với tính ích kỷ và gắt gỏng không? Có phải không hề có một hành động tồi hoặc lời nói thiếu lễ độ nào trong đời sống chúng ta không? Khi tự hỏi những câu này, chắc chắn không ai dám tự hào là mình luôn luôn ở bên phải các lằn ranh.

3. Tội là paraptoma [4] (παράπτωμα3900)có nghĩa là “trượt chân té ngã”, là không giữ được tư thế công chính.

Ma-thi-ơ – Matthew 6:14,15, 18:35; Mác – Mark 11:25,26; Rô-ma – Romans 4:25, 5:15-18,20, 11:11,12; 2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 5:19; Ga-la-ti – Galatians 6:1; Ê-phê-sô – Ephesians 1:7, 2:1,5; Cô-lô-se – Colossians 2:13; Gia-cơ – James 5:16.

Chúng ta “trượt chân té ngã” khi chúng ta buộc miệng lỡ lời; khi chúng ta bị lôi cuốn bởi một thôi thúc của cảm xúc hay đam mê nào đó, mà chúng đã chiếm quyền kiểm soát, đoạt mất sự tự chủ của chúng ta trong một phút giây khiến cho chúng ta hành động sai lầm cách nông nổi. Người tốt nhất trong chúng ta cũng sẽ “trượt chân té ngã” nếu chúng ta không cẩn thận đề phòng.

III. Nguồn gốc, hậu quả, và hình phạt của tội lỗi

Tội lỗi là một huyền nhiệm. Vì tội lỗi là huyền nhiệm cho nên trong đời này chúng ta không thể hiểu thấu được nguồn gốc, tính chất, và hậu quả của tội lỗi. Điều chúng ta biết chắc đó là:

– Mỗi chúng ta là một tội nhân. Chúng ta là tội nhân không phải vì chúng ta phạm tội nhưng vì trong chúng ta có bản chất tội khiến cho chúng ta phạm tội;
– Tội lỗi đem đến đau khổ, bất công, và sự chết;
– Dù gắng sức như thế nào, chúng ta vẫn không thể thoát khỏi sức mạnh của tội lỗi.

Thiên Chúa là Thánh Khiết, là Thiện! Vì Thiên Chúa là Thiện cho nên mọi sự Ngài dựng nên đều là Thiện. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng là Công Chính cho nên đối với thiên sứ và loài người Ngài đều ban cho họ ý chí tự do. Thiên sứ và loài người hoàn toàn được tự do chọn lựa vâng phục Thiên Chúa hoặc khước từ Ngài. Khi ý chí tự do bị lạm dụng để khước từ Thiên Chúa thì sự Ác phát sinh. Tất cả sự Ác xưa nay trong lịch sử của thiên sứ và loài người đều là sản phẩm của tội lỗi. Hành động khước từ Thiên Chúa là tội lỗi, tạo ra sự Ác. Hình phạt đương nhiên của tội lỗi là đau khổ và sự chết.

Bằng thể văn ẩn dụ, Thánh Kinh cho biết tội lỗi bắt nguồn từ Satan (Ê-xê-chi-ên – Ezekiel 28:11-15; Ê-sai – Isaiah 14:12-15). Satan là một thiên sứ trưởng được Thiên Chúa dựng nên để phục vụ Ngài. Satan được dựng nên một cách tốt lành, trọn vẹn như bao loài thọ tạo khác cho đến khi sự kiêu ngạo dấy lên trong lòng khiến cho Satan muốn chiếm quyền của Thiên Chúa và dấy loạn.

Với tinh thần phản loạn đó, Satan đã cám dỗ các thiên sứ khác và loài người đi vào con đường không vâng phục Thiên Chúa. Tổ phụ của loài người là A-đam và Ê-va đã phạm tội cho nên toàn thể loài người đều mang lấy bản chất tội.

Thiên Chúa không tạo nên tội lỗi và sự chết, nhưng với bản tính Công Chính khi Ngài ban cho thiên sứ và loài người ý chí tự do thì Ngài cũng phải cho phép tội lỗi và sự chết xảy ra. Nếu tội lỗi (sự chối bỏ, chống nghịch Thiên Chúa) không được phép xảy ra thì không có ý chí tự do thật. Nếu tội lỗi xảy ra mà không có hình phạt là sự chết thì không thỏa mãn sự Công Chính của Thiên Chúa.

Đối với loài người có hai hình thức của sự chết mà Thánh Kinh gọi là sự chết thứ nhất và sự chết thứ hai.

1. Sự chết thứ nhất, bao gồm sự chết của tâm linh và thể xác:

– Về tâm linh, là sự chấm dứt mối tương giao giữa loài người với Thiên Chúa, loài người không còn biết vâng phục, thờ phượng Thiên Chúa (sự chết của tâm thần); là sự chấm dứt mối tương giao giữa loài người với nhau, loài người không còn khả năng yêu thương nhau (sự chết của linh hồn), (Ê-sai – Isaiah 1:15, 59:1,2; Rô-ma – Romans 1:18-32).

– Về thể xác, là sự bệnh tật, già yếu, và trở về cát bụi (Sáng Thế – Genesis 2:17, 3:19; Hê-bơ-rơ – Hebrews 9:27).

Sau khi sự chết của thể xác xảy ra thì tâm linh của loài người bị giam vào địa ngục, chờ ngày thể xác được gọi sống lại và ra ứng hầu trước toà án lớn của Thiên Chúa để nhận lãnh án phạt về mọi việc làm tội lỗi của mình. Sau khi nhận lãnh án phạt từ Thiên Chúa thì loài người đi vào sự chết thứ hai, là hỏa ngục.

2. Sự chết thứ hai, bao gồm sự chết của tâm linh và thể xác:

– Về tâm linh, là sự đời đời xa cách mặt Thiên Chúa, và sự vinh hiển của quyền phép Ngài, nghĩa là xa cách đời đời quyền phép cứu rỗi của Tin Lành (1 Tê-sa-lô-ni-ca – Thessalonians 1:9; Rô-ma – Romans 1:16).

– Về thể xác, là sự đau khổ đời đời trong lửa của hoả ngục (Khải Huyền – Revelation 20:11-15, 21:8).

III. Sự tha tội và làm cho sạch tội:

Thánh Kinh không đề cập đến sự tha tội và làm cho sạch tội của Thiên Chúa đối với Satan và các thiên sứ phạm tội. Toàn bộ Thánh Kinh chỉ tập trung vào ân điển của Thiên Chúa dành cho loài ngưòi về sự tha thứ mọi tội lỗi của loài người qua sự chuộc tội và sự làm cho loài người được sạch tội qua sự tái sinh.

1. Sự tha tội: được thực hiện bởi sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá cho toàn thể nhân loại.

2. Sự làm cho sạch tội: được thực hiện bởi sự tiếp tục tha tội qua huyết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ và bởi sự tái tạo tâm thần, linh hồn, và thể xác của người được tha tội.

Điều kiện để được Thiên Chúa tha tội và làm cho sạch tội là (1) ăn năn tội, (2) tin nhận Tin Lành cứu rỗi, (3) và vâng giữ lời Chúa. Đây là ba mặt của một vấn đề; thiếu một trong ba yếu tố này, chúng ta không nhận được sự cứu rỗi. Ba yếu tố này của sự cứu rỗi tương ứng với ba yếu tố trong sự vinh hiển của Thiên Chúa:

– Thiên Chúa là Thánh Khiết nên Ngài đòi hỏi chúng ta phải ăn năn tội (Ma-thi-ơ – Matthew 3:2).

– Thiên Chúa là Công Chính nên Ngài cung cấp giải pháp chuộc tội cho chúng ta (1 Giăng – John 1:7).

– Thiên Chúa là Tình Yêu nên Ngài bảo toàn sự sống cho chúng ta qua lời của Ngài (Giăng – John 6:63).

Không ăn năn tội thì không nhận được sự tha tội. Ăn năn tội và tin nhận sự tha tội nhưng không vâng giữ lời Chúa thì không có sự sống đời đời. Đức tin không thể hiện bằng hành động thì tự nó sẽ chết đi cũng như thể xác không có hơi thở (Gia-cơ – James 2:14,17,26). Đức Chúa Jesus phán dạy rất rõ về sự kiện những người tin nhận Chúa phải “cứ ở trong Chúa” và “lời của Chúa cứ ở trong họ” để đời sống đức tin của họ có kết quả tốt. Người nào ở trong Chúa mà không có kết quả thì sẽ bị trừ bỏ (Giăng – John 15:1-7). Đức tin trong Đấng Christ phải được thể hiện bằng hành động vâng lời, thực hành những sự dạy bảo của Chúa:

“Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?” (Lu-ca – Luke 6:46).

“Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.” (Ma-thi-ơ – Matthew 7:21).

Mệnh lệnh của Đức Chúa Jesus dành cho người ăn năn tội là: “Hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn!” (Ma-thi-ơ -Matthew 3:8; Lu-ca – Luke 3:8).

Một người chỉ có thể ăn năn tội và tin nhận Tin lành cứu rỗi của Thiên Chúa đang khi còn sống trong thân xác tội lỗi này. Một khi hơi thở tắt đi, thân thể trở về cùng bụi đất, tâm linh bị giam vào địa ngục thì không còn cơ hội. Thánh Kinh dạy rõ: sau sự chết chỉ còn sự phán xét (Hê-bơ-rơ – Hebrews 9:27); và “hiện nay là thì thuận tiện, hiện nay là ngày cứu rỗi” (2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 6:2).

Sự tha tội và làm cho sạch tội là ân điển (ơn ban cho người không đáng nhận lãnh) của Thiên Chúa ban cho loài người bởi sự nhân từ và thương xót vô biên của Ngài. Thiên Chúa không tạo nên tội lỗi và không có trách nhiệm về sự loài người phạm tội.

Thí dụ minh họa: Nhà bào chế thuốc chỉ tạo ra thuốc để chữa bệnh, cứu người chứ không tạo ra thuốc độc để giết người. Nhưng khi người tiêu thụ không vâng theo lời chỉ dẫn của nhà bào chế, trộn lẫn một số thuốc nào đó lại với nhau thì làm phát sinh ra thuốc độc có sức mạnh giết chết người. Không một tòa án hay không một lương tâm nào có thể tuyên bố rằng nhà bào chế thuốc đã chế ra thuốc độc cho nên phải chịu trách nhiệm về sự ngộ độc của người tiêu thụ. Mặc dù nhà bào chế thuốc không có trách nhiệm trong sự ngộ độc của người tiêu thụ nhưng vì đoán trước sự ngộ độc có thể xảy ra cho nên tình nguyện bào chế sẵn một phương thuốc giải độc cho những ai muốn được giải độc. Phương thuốc đó được tặng không cho người ngộ độc, nhà bào chế gánh chịu hết mọi chi phí. Tuy nhiên, người ngộ độc cần phải: (1) công nhận mình ngộ độc, muốn được chữa lành, (2) tin và nhận phương thuốc giải độc của nhà bào chế, (3) vâng theo sự hưóng dẫn của nhà bào chế trong sự sử dụng thuốc giải độc. Thiếu một trong ba yếu tố trên đây, người ngộ độc không thể được giải cứu.

Kết luận

Khi một người phạm tội thì ở trong tình trạng mà Thánh Kinh gọi là opheilema [5] (ὀφείλημα3783), có nghĩa là “nợ”, là “không làm tròn bổn phận” (Ma-thi-ơ – Matthew 6:12, Rô-ma – Romans 4:4). Không có một người nào đủ can đảm xưng rằng mình đã làm tròn bổn phận đối với người và đối với Trời. Đó là sự trọn lành, loài người không thể đạt đến đang khi còn sống trong thân xác đã hư hoại vì tội lỗi.

Hiện nay, những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa, và vâng phục Ngài đều được Ngài tha tội và tái sinh tâm linh (tâm thần và linh hồn – spirit and soul). Vì được tha tội nên chúng ta không còn bị đoán phạt, chúng ta được thoát khỏi lửa hỏa ngục (Rô-ma – Romans 1:8). Vì được tái sinh tâm thần nên chúng ta nhận biết Chúa, nghe tiếng Chúa, và thờ phượng Chúa. Vì được tái sinh linh hồn nên chúng ta biết yêu thương, tha thứ lẫn nhau. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn sống trong thân xác đã nhiễm tội cho nên vẫn có những lúc chúng ta “trượt chân” hoặc “bước ngang qua lằn ranh” và trở thành những kẻ “bất chấp luật pháp”. Chúng ta chưa trọn vẹn nhưng nhờ ân điển của Thiên Chúa (2 Cô-rinh-tô – 2 Corinthians 12:9; Phi-líp – Philippians 4:13) chúng ta đang ở trên tiến trình đạt đến sự trọn vẹn; chúng ta đang “trở nên” trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời là trọn vẹn (Ma-thi-ơ – Matthew 5:48).

Một ngày kia, khi Đức Chúa Jesus trở lại, Ngài sẽ khiến cho thân xác chúng ta được sống lại hoặc được biến hóa, nghĩa là được dựng nên mới trong thân xác, thì sự cứu rỗi của chúng ta được hoàn thành, là lúc chúng ta đạt đến sự trọn vẹn, và được ở cùng Chúa luôn luôn! (Hê-bơ-rơ – Hebrews 9:28; 1 Phi-e-rơ – 1 Peter 1:3-5; 1 Cô-rinh-tô – Corinthians 13:10, 15:35-58, 1 Tê-sa-lô-ni-ca – 1 Thessalonians 4:13-18, 5:23,24).

Huỳnh Christian Timothy
Tucson, Arizona

15/10/2006

Chú thích:

[1] Hamartia phát âm là “ham-ar-tee’-ah”

[2] Anomia phát âm là “an-om-ee’-ah”

[3] Parabasis phát âm là “par-ab’-as-is”

[4] Paraptoma phát âm là “par-ap’-to-mah”

[5] Opheilema phát âm là “of-i’-lay-mah”

Tham khảo:

1. Textus Receptus Greek New Testament, (www.e-sword.org).

2. Thayer’s Greek Definitions, (www.e-sword.org).

3. Strong’s Exhaustive Concordance of the Bible, Dictionaries of the Hebrew and Greek Words of the Original, James Strong, (Hendrickson Publishers, ISBN 0-917006-01-1).

4. Dictionary of Theological Terms, Alan Cairns, (Ambassador Emerald International, 2002)

5. Wycliffe Bible Dictionary, Charles F. Pfiffer, Howard F. Vos, John Rea, (Hendrickson Publishers, 2003).

6. Baker Theological Dictionary of the Bible, Edited by Walter A. Elwell, (Baker Books, 1996).

 

Share This:

A. W. Tozer: Sử Dụng và Lạm Dụng Tính Hài Hước

1,988 views

Tác Giả: A. W. Tozer

Có một vài điều hữu ích trong đời sống Cơ Ðốc nhân như là tính hài hước nhẹ nhàng nhưng cũng có một vài thứ tai hại chết người như tính hài hước nằm ngoài sự kiểm soát.
Nhiều người đã bỏ cuộc chạy của sự sống chỉ vì chuyện tầm phào. Phao-lô đã cẩn thận cảnh báo chúng ta. Ông nói rõ rằng tâm tính đặc trưng của Cơ Ðốc nhân không phải là việc pha trò, và nói những chuyện tầm phào, bèn là sự tạ ơn (Ê-phê-sô 5:1-5). Thật có ý nghĩa khi trong chương này vị sứ đồ của chúng ta đã xếp việc nói những chuyện tầm phào chung với sự không tinh sạch, gian dâm và thờ lạy hình tượng.

Ðiều này, hiển nhiên là một sự cảm kích về tính hài hước, tự bản thân nó không phải là điều xấu. Khi Ðức Chúa Trời tạo dựng chúng ta, Ngài có ban cho chúng ta tính hài hước như là một điểm đặc trưng bên trong, và một con người bình thường sẽ có món quà này ít nhất là ở một cấp độ nào đó. Nguồn gốc của sự hài hước là khả năng lĩnh hội những điều phi lý. Những thứ trông không rõ ràng thường có vẻ buồn cười đối với chúng ta và có thể kích thích bên trong chúng ta một cảm giác thích thú đến độ bật ra tiếng cười.

Đọc Tiếp →

Share This:

A. W. Tozer: Yêu Chúa và Yêu Người

2,069 views

Một trong những vấn đề gây bối rối, có thể xuất hiện hoặc sớm hoặc muộn và quấy rầy Cơ Ðốc nhân đang tìm kiếm, là làm thế nào anh ta có thể hoàn thành mạng lệnh Thánh Kinh: Yêu Chúa với tất cả tấm lòng mình và yêu người lân cận như chính mình.
Một Cơ Ðốc nhân sốt sắng nhất, khi anh suy gẫm về nghĩa vụ thánh của mình là yêu mến Ðức Chúa Trời và con người, có thể kinh nghiệm một cảm giác thất bại được gieo từ sự nhận biết rằng anh ta dường như không thể có thêm một chút xúc cảm nào đối với Chúa của mình hay anh em chung quanh. Anh ta muốn thế, nhưng anh không thể làm được. Các nguồn cảm xúc say mê chỉ đơn giản là không còn nữa.

Phần nhiều những con người chân thật đã trở nên thất vọng bởi sự thiếu vắng xúc cảm mang tính chất tôn giáo (sự cảm động) và đã tự kết luận rằng họ không thực sự là Cơ Ðốc nhân gì cả. Họ kết luận rằng họ ắt hẳn đã đi nhầm đường từ một chỗ nào đó trong quá khứ và tôn giáo của họ chẳng là gì nhiều hơn một lời tuyên xưng rỗng tuếch. Vì thế, trong chốc lát họ tấn công chính mình bằng sự lạnh lùng của mình, và cuối cùng lâm vào một tâm trạng chán nản ảm đạm, khó mà biết điều gì để suy nghĩ. Họ tin nơi Ðức Chúa Trời; họ thực sự tin Ðấng Christ là Cứu Chúa của mình, nhưng tình yêu mà họ hy vọng cảm nhận được trước sau như một lại trốn tránh họ. Vấn đề là gì?

Đọc Tiếp →

Share This: