1,726 views

Mười Điều Răn: Những Lý Luận Chống Nghịch Sự Vâng Giữ Điều Răn và Luật Pháp – Phần 3

Phần Ba: Lý Luận 06 & 07

“Nếu anh em phải vì sự công bình mà chịu khổ, ấy thật là có phước.
Chớ sợ điều họ sợ và đừng rối trí;
nhưng hãy tôn Đấng Christ, là Chúa, làm thánh trong lòng mình.
Hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em, song phải hiền hòa và kính sợ.”

(I Phi-e-rơ 3:14-15)

Bấm vào đây để vào trang download

Bấm vào Xem tiếp/Read morerồi bấm vào nút “play” trong khung dưới đây để nghe

Bấm vào đây để download bài viết này

Lý Luận 6: Nếu Sa-bát là điều sống chết đối với Cơ-đốc nhân như đối với Israel thì nó phải được Hội Nghị Giê-ru-sa-lem (Công Vụ Các Sứ Đồ 15) lập lại như là một điều luật trong Giao Ước Mới. Ấy vậy mà trong bốn điều hội nghị căn dặn tín đồ gốc dân ngoại kiêng giữ không hề nhắc đến việc phải giữ ngày Sa-bát.

Phản Biện: Không riêng gì điều răn thứ tư: “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh,” mà trọn vẹn Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời đều phải được con dân Chúa trong mọi thời đại vâng giữ. Lời Chúa khẳng định các điều răn của Chúa được lập cho đến đời đời:

“Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời” (Thi Thiên 119:152).

Hội Nghị Giê-ru-sa-lem không cần phải nhắc đến điều răn thứ tư vì không phải chỉ có điều răn thứ tư mới cần được vâng giữ mà là toàn thể Mười Điều Răn. Tuy nhiên, Đức Thánh Linh đã dùng Hội Nghị để thêm vào hai điều răn cho các tín đồ có gốc dân ngoại (vì các tín đồ có gốc Israel đã vâng giữ các điều này chung với Mười Điều Răn rồi). Hai điều răn đó được thêm vào chứ không phải thay thế cho Mười Điều Răn. Chúng ta có thể xem đó là điều răn thứ mười một và mười hai. Điều răn thứ mười một: Phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột. Điều răn thứ mười hai: Chớ tà dâm (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:29). Nếu cho rằng hai điều răn này thay thế cho Mười Điều Răn thì thật là vô lý, vì như vậy, con dân Chúa không được ăn đồ cúng thần tượng nhưng lại không cần phải vâng giữ điều răn thứ hai, là điều răn cấm làm hình tượng, cấm thờ lạy hình tượng, và cấm hầu việc hình tượng hay sao?

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh, điều răn thứ sáu chỉ có hai từ ngữ; từ ngữ thứ nhất có nghĩa là: không, đừng, chớ; từ ngữ thứ hai có nghĩa là: quan hệ tình dục bất chính với vợ của người khác, dịch ra tiếng Việt là gian dâm hay là ngoại tình (tiếng Anh là: adultery). Bản dịch Phan Khôi dịch điều răn thứ sáu là: “Ngươi chớ phạm tội tà dâm” là không đúng với nguyên ngữ của Thánh Kinh, nên dịch là “Chớ gian dâm.” Thời Tân Ước, Đức Thánh Linh thêm điều răn “Chớ tà dâm” (tiếng Anh là: fornication) cho các tín đồ người ngoại là điều mà người Israel vốn đã vâng giữ bên cạnh Mười Điều Răn. Tà dâm bao gồm gian dâm và những hoạt động tình dục với thú vật, tội đồng tính luyến ái, sự loạn luân, quan hệ tình dục giữa hai người nam nữ độc thân không phải là vợ chồng, và các hoạt động tình dục không lành mạnh giữa hai vợ chồng:

“Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử”(Xuất Ê-díp-tô Ký 22:19).

“Chớ nằm cùng một con thú nào, mà gây cho mình bị ô uế với nó; một người đàn bà chớ nằm cùng thú vật nào; ấy là một sự quái gớm”(Lê-vi Ký 18:23).

“Chớ nằm cùng một người nam như người ta nằm cùng một người nữ; ấy là một sự quái gớm” (Lê-vi Ký 18:22)

“Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đờn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. Những người đờn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đờn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đờn ông cùng đờn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình”(Rô-ma 1:26-27)

“Chớ một ai trong vòng các ngươi đến gần cùng người nữ bà con mình đặng cấu hiệp: Ta là Đức Giê-hô-va.
Chớ cấu hiệp cùng mẹ mình; bằng cấu hiệp, tất làm nhục cho cha mẹ.
Chớ cấu hiệp cùng kế mẫu, bằng cấu hiệp, ấy làm nhục cho cha mình.
Chớ cấu hiệp cùng chị em mình, hoặc một cha khác mẹ, hoặc một mẹ khác cha, hoặc sanh tại trong nhà, hoặc sanh ở ngoài.
Chớ cấu hiệp cùng cháu gái, hoặc cháu gái nội, hoặc cháu gái ngoại; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho mình.
Chớ cấu hiệp cùng con gái của kế mẫu bởi cha mình sanh ra, vì là em gái ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng chị em của cha ngươi; vì là cốt nhục của cha ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng chị em của mẹ ngươi; vì là cốt nhục của mẹ ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng bác gái hay thím ngươi; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho anh em của cha ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng dâu ngươi; vì là vợ của con trai mình.
Chớ cấu hiệp cùng chị dâu hay em dâu ngươi; nếu cấu hiệp, ấy làm nhục cho anh em ngươi vậy.
Chớ cấu hiệp cùng một người đàn bà luôn với con gái của người đàn bà nữa. Chớ lấy cháu gái nội ngươi, hoặc cháu gái ngoại ngươi đặng cấu hiệp cùng họ; chúng nó đều là cốt nhục gần; làm vậy, ấy là một việc ác dục.
Chớ lấy vợ luôn với chị em người mà cấu hiệp cùng nó gần bên vợ chánh mình đương khi người còn sống, e khi sanh ghen tương.
Trong lúc người nữ có kinh nguyệt, chớ đến gần mà cấu hiệp.
Chớ nằm cùng vợ người lân cận mình, mà gây cho mình bị ô uế với người”
(Lê-vi Ký 18:6-20).

“Chẳng ai nên lấy vợ kế của cha mình, cũng đừng dở vạt áo của cha mình”(Phục Truyền Luật Lệ Ký 22:30).

“Nếu kẻ nào hòa dụ và nằm với một người gái đồng trinh chưa hứa giá, thì kẻ đó phải nộp tiền sính và cưới nàng làm vợ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 22:16)

“Nếu một người nam gặp một con gái trẻ đồng trinh, chưa hứa gả, bắt nàng nằm cùng, mà người ta gặp tại trận, thì người nam đã nằm cùng con gái trẻ đó phải nạp cho cha nàng năm mươi siếc-lơ bạc, rồi nàng sẽ làm vợ người, bởi vì người có làm nhục nàng. Người còn sống ngày nào, thì chẳng được phép đuổi nàng đi” (Phục Truyền Luật lệ Ký 22:28-29)

“Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn quê phòng chớ có ô uế, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình”(Hê-bơ rơ 13:4).

Như vậy, chúng ta thấy điều răn “chớ tà dâm” thời Tân Ước được bổ sung cho điều răn thứ sáu của Mười Điều Răn. Không thể nào nói rằng tín đồ thời Tân Ước phải vâng giữ điều răn “chớ tà dâm” do Đức Thánh Linh ban truyền mà lại không bị ràng buộc bởi điều răn “chớ gian dâm” của điều răn thứ sáu vì nó thuộc về Mười Điều Răn.

Lý luận rằng: Vì cớ Hội Nghị Giê-ru-sa-lem không nhắc lại điều răn “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh” thì tín đồ không cần phải vâng giữ điều đó chẳng khác nào lý luận rằng: Vì cớ Hội Nghị Giê-ru-sa-lem không nhắc lại bất kỳ điều răn nào trong Mười Điều Răn nên tín đồ Đấng Christ không cần phải vâng giữ Mười Răn. Và, đó chính là thâm ý của những người đưa ra lý luận nói trên, để họ có thể sống thoải mái trong sự vi phạm Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời và còn dạy cho người khác làm theo, như Lời Chúa đã phán trước, cách nay gần 2000 năm:

“Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa”(Rô-ma 1:32).

Lý Luận 7 : Trong Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời chỉ có chín điều được truyền qua thời Tân Ước, tức là được nhắc lại trong Tân Ước, cho nên tín đồ chỉ cần vâng giữ chín điều mà thôi, ngoại trừ điều răn thứ tư “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.”

Phản Biện : Trong thực tế, chỉ có một phần của điều răn thứ hai trong Mười Điều Răn không được nhắc lại trong Tân Ước:

“Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó…”(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:4, 5).

Không một chỗ nào trong Tân Ước nói đến việc cấm làm tượng và hầu việc tượng. Tân Ước chỉ nói đến việc cấm thờ lạy hình tượng và thêm vào điều răn: cấm ăn của cúng thần tượng. Tuy nhiên, điều răn thứ tư đã được chính Đức Chúa Jesus long trọng nhắc đến và giải thích trong Mác 2:27, 28:

“Đoạn, Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người. Vậy thì Con Người cũng làm chủ ngày Sa-bát.”

Đức Chúa Jesus phán vì loài người mà lập ngày Sa-bát, có nghĩa là ngày Sa-bát được lập nên để loài người được nghỉ ngơi lao động phần xác, được tham dự nhóm hiệp thánh để thông công với nhau trong Chúa và với Chúa. Nếu mục đích của ngày Sa-bát là tốt lành như vậy thì tại sao loài người không tiếp nhận sự ban cho này của Đức Chúa Trời? Ngày Sa-bát được lập ra từ trước khi loài người phạm tội cho nên không liên quan gì đến sự kiện Đấng Christ chuộc tội nhân loại. Ngày Sa-bát đã được thiết lập từ khi sáng thế chứ không phải được lập ra khi Chúa ban hành Mười Điều Răn. Điều răn thứ tư chỉ nhắc lại cho nhân loại bổn phận phải tôn kính và vâng giữ ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va. Vì thế, chỉ một mình điều răn thứ tư bắt đầu bằng mệnh lệnh: “Hãy nhớ!” Nếu có sự liên quan giữa cái chết của Đấng Christ để chuộc tội cho toàn thể nhân loại với ngày Sa-bát thì sự liên quan đó chính là: Nhờ Đấng Christ chết để tha tội và làm cho sạch tội những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Ngài, cho nên, họ được Đức Thánh Linh ngự vào thân xác họ để ban cho họ năng lực của Đức Chúa Trời mà vâng giữ trọn vẹn điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, bao gồm việc thỏa lòng trong sự tôn kính và vâng giữ ngày Sa-bát, không phải trên bề mặt chữ nghĩa, văn tự, mà là từ trong tâm thần, linh hồn, cho đến thể xác đều giữ trọn, không tì, không vít, không chỗ trách được cho đến ngày Đấng Christ hiện ra (Phi-líp 2:15; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23, 24)! A-men và thật là cảm tạ ân điển của Đức Chúa Trời.

“Con Người làm chủ ngày Sa-bát”có nghĩa là Đấng Christ làm chủ ngày Sa-bát, có nghĩa là chỉ có một mình Đấng Christ mới có thẩm quyền trên ngày Sa-bát. Ngài đã dùng thẩm quyền đó để nhắc nhở loài người mục đích và ý nghĩa của ngày Sa-bát. Đấng Christ không hề tuyên bố con dân Chúa không cần vâng giữ ngày Sa-bát hay là ngày Sa-bát đã bị hủy bỏ, trái lại, Ngài còn nói đến sự kiện ngày Sa-bát vẫn còn được tôn kính và vâng giữ trong thời bày năm đại nạn, là lúc Hội Thánh đã được cất ra khỏi thế gian:

“Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát”(Ma-thi-ơ 24:20).

Khi Đức Chúa Jesus phán:“trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành” (Ma-thi-ơ 12:12) là Ngài đương nhiên, trong tư cách là chủ của ngày Sa-bát, đã công nhận sự vâng giữ ngày Sa-bát. Nếu điều răn giữ ngày Sa-bát không còn hiệu lực thì Đức Chúa Jesus Christ đã công bố điều đó khi những người Pha-ri-si bắt bẻ Ngài về sự vi phạm ngày Sa-bát. Ngày nay, bất kỳ ai hay tổ chức nào dạy rằng: Ngày Sa-bát đã bị hủy bỏ hay đã đổi sang chủ nhật; hoặc con dân Chúa không cần phải vâng giữ ngày Sa-bát, thì người ấy, tổ chức ấy đã tự chiếm lấy quyền làm chủ ngày Sa-bát của Đấng Christ và đó là hành động chống nghịch điều răn, luật pháp của Đức Chúa Trời.

Huỳnh Christian Timothy
18.04.2011

 

Share This:

Comments are closed.