2,442 views

Các Chức Năng Hầu Việc Chúa Của Phụ Nữ Trong Hội Thánh

Quan điểm về phụ nữ và các chức năng hầu việc Chúa trong Hội Thánh xưa nay vẫn là đề tài tranh luận không ngừng nghỉ. Cá nhân tôi cũng đã suy nghĩ nhiều về lý luận của các phía và đối chiếu với chính Lời của Chúa trong Thánh Kinh trước khi rút ra một kết luận riêng. Tôi cầu xin Chúa ban ơn cho tôi có thể trình bày nơi đây một cách gọn gàng nhưng đầy đủ những gì tôi hiểu và tin qua sự bày tỏ của Lời Chúa về các chức năng hầu việc Chúa của phụ nữ trong Hội Thánh.

Những điều Chúa cấm phụ nữ

Trước khi bàn đến các chức năng hầu việc Chúa của phụ nữ thì xin được duyệt qua những điều theo Thánh Kinh phụ nữ không được phép làm trong sinh hoạt Hội Thánh, gia đình và xã hội.

1. Trong các buổi nhóm họp của Hội Thánh phụ nữ không được phép nói, cho dù là nêu thắc mắc:

“34 Đàn bà phải nín lặng trong đám hội của anh em: họ không có phép nói tại nơi đó, nhưng phải phục tùng cũng như luật pháp dạy. 35 Nhược bằng họ muốn học khôn điều gì, thì mỗi người trong đám họ phải  hỏi chồng mình ở nhà; bởi vì đàn bà nói lên trong Hội Thánh là không hợp lẽ.”  (I Cô-rinh-tô 14)

Chữ "nói" được dùng ở đây bao gồm tất cả mọi hình thức phát ra âm thanh để diễn đạt tư tưởng cho nên theo đúng với tinh thần của I Cô-rinh-tô 14:34, 35 thì phụ nữ hoàn toàn không được lên tiếng mà phải nín lặng trong các buổi nhóm họp của Hội Thánh.

2. Trong gia đình và xã hội phụ nữ không được cầm quyền hoặc dạy dỗ đàn ông:

"9 Ta cũng muốn rằng những người đờn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10 nhưng dùng việc lành, theo lẽ đương nhiên của người đờn bà tin kính Chúa. 11 Đờn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12 Ta không cho phép đờn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đờn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13 Vì A-đam được dựng nên trước nhứt, rồi mới tới Ê-va. 14 Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi."(I Ti-mô-thê 2)

Chữ "dạy dỗ" ở đây theo nguyên ngữ là: giải bày cho người nghe nhận biết lẽ thật hoặc giải bày cho người nghe thu nhận tri thức. Chữ "cầm quyền" theo nguyên ngữ là: cầm quyền trên người khác hoặc tự mình làm chủ. Như vậy, theo đúng tinh thần của I Ti-mô-thê 2:9-14 thì trong gia đình và xã hội phụ nữ không được phép dạy dỗ đàn ông, không được phép cầm quyền – tức ra lệnh, sai khiến, sửa phạt – đàn ông và không được phép tự chủ mà phải chịu vâng phục đàn ông.

Biệt lệ trong Lời Chúa

Lời của Chúa thật là rõ ràng không có gì khó hiểu hết và tất cả con dân Chúa phải hoàn toàn vâng phục theo như sự dạy dỗ của Lời Chúa. Tuy nhiên, cũng chính Lời Chúa cho phép phụ nữ thi hành các chức năng cầu nguyện và nói tiên tri trong Hội Thánh (I Cô-rinh-tô 11:5). Chính Chúa cũng lập nên phụ nữ cai trị dân sự của Ngài (trường hợp Nữ Tiên Tri Đê-bô-ra làm quan xét, đoán xét dân I-sơ-ra-ên – Các Quan Xét 4:4). Nhà Truyền Giáo A-bô-lô được cả hai vợ chồng A-qui-la, Bê-rít-sin mang về nhà "dạy" đạo cho (Công Vụ Các Sứ Đồ 18:26). Như vậy, làm sao để dung hòa những điểm dường như rất mâu thuẫn này của Thánh Kinh?

Thánh Kinh là lời của Đức Chúa Trời để giải bày thánh ý của Ngài cho loài người. Thánh Kinh cho chúng ta biết những điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm, những điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta đừng làm, những điều Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta và những điều Đức Chúa Trời sẽ làm cho chúng ta. Dầu vậy, luôn luôn có những biệt lệ trong Thánh Kinh. Vì những biệt lệ đó mà:

1. Có những nghịch lý đối với các định luật vật lý, hóa học khi Chúa và các tôi tớ Chúa làm phép lạ:

Chúa và Phi-e-rơ đi trên mặt nước; nước dùng để rửa chân biến thành rượu ngon; mặt trời dừng lại trọn một ngày trên Ga-ba-ôn; Sông Giô-đanh, Biển Đỏ rẽ ra cho hàng triệu người I-sơ-ra-ên đi qua như đi trên đất khô; khắp xứ Ai-cập tối tăm trong khi chỗ trú ngụ của dân I-sơ-ra-ên thì có ánh sáng… Các tôi tớ của Chúa chữa lành tật bệnh cho dân chúng, gọi người chết sống lại, khiến cho hạn hán xảy ra, gọi lửa từ trời giáng xuống, biến nước thành máu, nhịn ăn 40 ngày đêm…

2. Có những điều Chúa không cho phép chúng ta làm trong một thời gian nào đó nhưng lại cho phép chúng ta làm trong một thời gian khác hoặc ngược lại và mức độ cho phép cũng khác nhau.

Điển hình là việc ăn thịt thú vật. Từ khi dựng nên trời đất và muôn vật cho đến khi nước lụt (khoảng 1,000 năm) loài người và loài vật chỉ được phép ăn các loài thực vật:

"29  Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, Ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi. 30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì Ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy."(Sáng Thế Ký 1)

Sau cơn nước lụt cho đến khi Luật Pháp được ban cho dân I-sơ-ra-ên (khoảng 1,500 năm), loài người được phép ăn thịt mọi sinh vật (vật chi hành động và có sự sống) và không hề có sự phân biệt loài tinh sạch hoặc không tinh sạch:

"Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như Ta đã cho thứ cỏ xanh."(Sáng Thế Ký 9:3)

Từ khi Luật Pháp được ban cho dân I-sơ-ra-ên cho đến khi Sứ Đồ Phi-e-rơ nhận khải tượng (khoảng 1,500 năm)  thì Chúa truyền cho dân I-sơ-ra-ên không được ăn thịt một số động vật bị kể là không tinh sạch (Lê-vi Ký 11).

Từ khi Sứ Đồ Phi-e-rơ nhận khải tượng cho đến nay thì con dân Chúa không cần phân biệt thịt các loài vật tinh sạch hoặc không tinh sạch nữa. Đức Thánh Linh đã dùng Sứ Đồ Phao-lô để ấn chứng rằng khải tượng của Sứ Đồ Phi-e-rơ bao gồm ý nghĩa thuộc thể lẫn thuộc linh. Về thuộc thể thì không còn có sự phân biệt thịt thú vật tinh sạch hoặc không tinh sạch, về thuộc linh thì không còn có sự phân biệt người I-sơ-ra-ên hoặc người ngoại bang, không còn có sự phân biệt giữa người chịu cắt bì hoặc người không chịu cắt bì:

"11 Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất: 12 thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời. 13 Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn. 14 Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ. 15 Tiếng đó lại phải cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy. 16 Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời."(Công Vụ Các Sứ Đồ 10)

"1 Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, 2 bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì, 3 họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy. 4 Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; 5 vì nhờ lời Đức Chúa Trời (là Lời được ghi lại trong Công Vụ các Sứ Đồ 10:15) và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh. 6 Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo" (I Ti-mô-thê 4). [1]

"Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa." (Tít 1:15)

Ngoài ra, còn việc Chúa cho phép bà con gần, thậm chí anh chị em ruột, lấy nhau trước đó nhưng đến thời Luật Pháp được ban cho dân I-sơ-ra-ên thì những cuộc hôn nhân đó bị cấm. Thời Cựu Ước Chúa cho phép đa thê và còn dạy người chồng cách cư xử công bình với các bà vợ và các dòng con nhưng thời Tân Ước Chúa đưa ra mẫu mực "chồng của một vợ." Thời Cựu Ước Chúa cấm dùng danh Chúa để thề dối, nghĩa là có thể dùng danh Chúa để thề thật nhưng thời Tân Ước Chúa bảo đừng thề.

3. Có những điều được Lời Chúa quy định chung cho loài người nhưng tùy theo thánh ý của Ngài, Chúa tạo ra các biệt lệ cho một số người:

Điển hình là Lời Chúa trong Hê-bơ-rơ 9:27, "Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét." Đây là một câu khẳng định áp dụng chung cho cả loài người. Tuy nhiên, Thánh Kinh đồng thời nêu lên trường hợp những người ở trong Đấng Christ thì không bị phán xét: "Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ" (Rô-ma 8:1). Theo Thánh Kinh, trong lịch sử loài người cho đến hiện tại có hai người không trải qua sự chết là Hê-nóc (Sáng Thế Ký 5:24) và Tiên Tri Ê-li (II Các Vua 2:11). Hê-bơ-rơ 11:5 khẳng định: "Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết…" Như vậy, trường hợp Hê-nóc và Ê-li không trải qua sự chết có phải là "nghịch lại Thánh Kinh" hay không? Ngoài ra, các phân đoạn Thánh Kinh sau đây cho biết có nhiều người trong Hội Thánh sẽ không trải qua sự chết:

"51 Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, 52  trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa."(I Cô-rinh-tô 15)

"16 Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết. 17 Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn."  (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16, 17)

Dung hòa những điểm dường như mâu thuẫn trong Thánh Kinh

Cá nhân tôi không cho rằng trong Thánh Kinh có sự mâu thuẫn. Những điều "dường như" là mâu thuẩn đó thật ra chỉ là sự đa diện trong thánh ý của Chúa mà thôi. Một mặt, Ngài quy định tất cả loài người phạm tội đều phải chết một lần rồi chịu phán xét; mặt khác, Ngài ban đặc ân cho một số người có đức tin mạnh mẽ nơi Ngài được khỏi chết. Một mặt, Ngài cấm không cho phụ nữ lên tiếng trong Hội Thánh, không được dạy dỗ và cầm quyền trên đàn ông; mặt khác, Ngài ban đặc ân cho một số chị em phụ nữ được cầu nguyện, nói tiên tri, và giải bày Đạo Chúa cho các tôi tớ của Ngài. Chúng ta không thể chỉ chấp nhận một phần hay một số câu trong Thánh Kinh mà chúng ta phải chấp nhận toàn phần của Thánh Kinh. Chúng ta phải chấp nhận "Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét." nhưng chúng ta cũng phải chấp nhận "Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết…" Chúng ta phải chấp nhận "Đàn bà phải nín lặng trong đám hội của anh em: họ không có phép nói tại nơi đó"  "không được dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đờn ông" nhưng chúng ta cũng phải chấp nhận "đờn bà cầu nguyện hoặc giảng đạo."

Vì vậy,trong việc phụ nữ phải yên lặng, không được lên tiếng trong đám hội, không được dạy dỗ và cầm quyền trên đàn ông thì chúng ta áp dụng đúng như vậy trong sinh hoạt của Hội Thánh và gia đình cho tới khi Chúa dấy lên các phụ nữ để cầu nguyện, nói tiên tri, và giải bày Lời Chúa thì chúng ta phải chấp nhận để cho những chị em đó được thi hành điều Chúa đã kêu gọi và cho phép họ.

Các chức năng hầu việc Chúa của phụ nữ trong Hội Thánh

Ngoài chức năng chấp sự chuyên lo về các sinh hoạt có tính cách thuộc thể trong Hội Thánh (Công Vụ Các Sứ Đồ 6:1-3) mà phụ nữ cũng được dự phần (Rô-ma 16:1). Thánh Kinh còn cho chúng ta biết Chúa ban cho phụ nữ hai chức năng có tính cách thuộc linh, ngang hàng với đàn ông, để hầu việc Chúa trong Hội Thánh, đó  là cầu nguyện và nói tiên tri. Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh là "cầu nguyện hoặc nói tiên tri" nhưng bản dịch Phan Khôi dịch là "cầu nguyện hoặc giảng đạo" thật ra, theo ý nghĩa của các từ ngữ thì việc giảng đạo chỉ là một phần trong việc nói tiên tri.

"4 Phàm người đờn ông cầu nguyện hoặc giảng đạo mà trùm đầu lại, thì làm nhục đầu mình. 5 Nhưng phàm người đờn bà cầu nguyện hoặc giảng đạo mà không trùm đầu lại, thì làm nhục đầu mình: thật chẳng khác gì đã cạo đầu vậy."(I Cô-rinh-tô 11)

Trước hết, xét về văn mạch chúng ta thấy việc phụ nữ cầu nguyện hoặc nói tiên tri trong Hội Thánh là một sự kiện đương nhiên như việc đàn ông cầu nguyện hoặc nói tiên tri. Lời Chúa không đặt ra vấn đề nên hay không nên, được phép hay không được phép ở đây, mà là vấn đề thực thi các chức năng đó như thế nào. Kế tiếp, chúng ta cần tái xác định lẽ thật này: Tất cả các ân tứ của Đức Thánh Linh ban cho Hội Thánh đều được dùng để gây dựng Hội Thánh trừ ân tứ nói ngoại ngữ là để gây dựng cá nhân của người nhận được ân tứ (I Cô-rinh tô 12:7; 14:14). Riêng ân tứ nói tiên tri còn được nhấn mạnh là:

"còn như kẻ nói tiên tri, thì nói với người ta để gây dựng, khuyên bảo và yên ủi."(I Cô-rinh-tô 14:3)
"Bởi vì anh em đều cứ lần lượt mà nói tiên tri được cả, để ai nấy đều được dạy bảo, ai nấy đều được khuyên lơn." (I Cô-rinh-tô 14:31)

Tôi tin rằng, chức năng cầu nguyện và nói tiên tri của phụ nữ là để thể hiện trong Hội Thánh để gây dựng Hội Thánh, không phải để thể hiện nơi nhà riêng hoặc ngoài các buổi nhóm họp của Hội Thánh. Lời hứa của Chúa trong Giô-ên 2:28, 29 đã được Đức Thánh Linh dùng môi miệng của Sứ Đồ Phi-e-rơ xác định rằng đã được ứng nghiệm:

"17 Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri. Bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, và các người già cả sẽ có chiêm bao. 18 Phải, trong những ngày đó, Ta sẽ đổ Thần Ta khắp trên các đầy tớ trai và gái Ta, chúng nó đều nói lời tiên tri."(Công Vụ Các Sứ Đồ 2)

Lời Chúa khẳng định danh xưng "đầy tớ trai và gái Ta" cho nên những phụ nữ được Chúa thần cảm để cầu nguyện và nói tiên tri là những "đầy tớ của Đức Chúa Trời." Đầy tớ của Chúa thì phải phục vụ Chúa trong nhà của Ngài mà Hội Thánh là nhà của Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 3:15). Không thể nào công nhận phụ nữ được cầu nguyện hoặc nói tiên tri nhưng lại cho rằng họ không được phép làm điều đó trong Hội Thánh.

Như đã dẫn trên đây, chính Thánh Kinh cho biết mục đích của sự nói tiên tri là: gây dựng, khuyên bảo, an ủi, để ai nấy đều được dạy bảo, ai nấy đều được khuyên lơn. Chúng ta hãy đi qua ý nghĩa của từng từ ngữ, được định nghĩa bởi Từ Điển Thayer's Greek Definitions:

– gây dựng, trong nguyên ngữ là "oikodomē" với nghĩa: giúp cho một người được lớn lên trong sự khôn ngoan, tin kính, hạnh phúc và thánh khiết trong Chúa.

– khuyên bảo/khuyên lơn, trong nguyên ngữ là "paraklēsis" với nghĩa: khích lệ.

– an ủi, trong nguyên ngữ là "paramuthia" với nghĩa: an ủi.

– được dạy bảo, trong nguyên ngữ là "manthanō" với nghĩa: được học hỏi.

– nói tiên tri, trong nguyên ngữ là "prophēteuō" với nghĩa: bởi sự  thần cảm của Chúa (1) nói những điều sẽ xảy ra có liên quan đến Nước Trời; (2) nói những điều được mạc khải từ Đức Chúa Trời; (3) nói những điều có tính cách dạy dỗ, bẻ trách, cảnh cáo, sửa trị và an ủi.

Như chúng ta thấy, chức năng nói tiên tri bao gồm cả dạy dỗ, bẻ trách, cảnh cáo, sửa trị và an ủi vì thế đây phải là trường hợp biệt lệ đối với những điều Chúa cấm phụ nữ như đã nêu lên ở phần đầu bài. Sự dạy dỗ, bẻ trách, cảnh cáo, sửa trị của một tiên tri là thẩm quyền đến từ Đức Chúa Trời cho nên đó là quyền của Đức Chúa Trời thi hành trên người được dạy dỗ hoặc bị bẻ trách, sửa trị. Sự thi hành quyền này khác với sự kiện một phụ nữ tự dấy mình lên dạy dỗ hoặc cầm quyền trên đàn ông. Khi Chúa sai Nữ Tiên Tri Đê-bô-ra ngồi ghế quan xét để cai trị và đoán xét I-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời cai trị, đoán xét và giải cứu I-sơ-ra-ên khỏi tay dân Ca-na-an qua một người phụ nữ (Các Quan Xét 4). Điều đó khác với sự tủi nhục "bị con nít hà hiếp và đàn bà cai trị" được ghi lại trong Ê-sai 3:12 do hậu quả phạm tội của dân I-sơ-ra-ên hoặc do sự tự dấy lên xưng làm nữ tiên tri của Giê-sa-bên trong Hội Thánh được ghi lại trong Khải Huyền 2:20.

Kế tiếp, chúng ta hãy tìm hiểu sự kiện bà Bê-rít-sin cùng với chồng "dạy đạo" cho A-bô-lô được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 18:26:

"Vậy, người khởi sự giảng cách dạn-dĩ trong nhà hội. Bê-rít-sin và A-qui-la nghe giảng, bèn đem người về với mình, giải bày đạo Đức Chúa Trời cho càng kĩ lưỡng hơn nữa."

Chữ được dịch là "giải bày" trong câu Thánh Kinh trên đây, trong nguyên ngữ là "ektithēmi" với nghĩa: phơi bày, làm cho lộ ra, làm cho sáng tỏ. Trong tiếng Anh, từ ngữ "ektithēmi" được dịch là "expose," tương ứng với các từ Việt ngữ: giải bày, giảng giải, cắt nghĩa, giải thích, trình bày, thuyết trình, thuyết minh, thuyết giảng… Nói theo ngôn ngữ ngày nay của chúng ta khi áp dụng vào hình thức rao giảng Lời Chúa thì gọi là "giảng giải kinh." Điều quan trọng là  động từ "ektithēmi" được dùng với số nhiều có nghĩa là cả A-qui-la và Bê-rít-sin cùng làm công việc giải bày đạo của Đức Chúa Trời cho A-bô-lô. Đây cũng chính là từ ngữ được dùng trong Công Vụ Các Sứ Đồ 28:23 để thuật lại sự kiện Sứ Đồ Phao-lô "giải bày" về Nước Trời cho các trưởng lão người Do-thái tại thành Rô-ma. Trong bản dịch Phan Khôi dịch là "giảng giải." Điều đáng chú ý là từ ngữ "ektithēmi" được dùng trong câu trên với hình thức số ít, nghĩa là, chỉ có một mình Phao-lô giải bày.

"Họ đã hẹn ngày với người, bèn đến thăm tại nơi nhà trọ rất đông; từ buổi sáng đến chiều, người cứ làm chứng và giảng giải với họ về nước Đức Chúa Trời, lấy luật pháp Môi-se và các đấng tiên tri mà gắng sức khuyên bảo họ về Đức Chúa Jêsus."

Từ đó, chúng ta suy ra Đức Thánh Linh đã dùng A-qui-la và Bê-rít-sin để giảng và dạy cho A-bô-lô được thông biết về Đạo của Đức Chúa Trời. A-qui-la và Bê-rít-sin đã áp dụng cùng một phương cách "giảng giải kinh" như Sứ Đồ Phao-lô đã dùng khi giảng cho các trưởng lão người I-sơ-ra-ên tại thành Rô-ma. Tôi tin rằng, ngày nay, Chúa vẫn dùng các "đầy tớ gái" của Ngài trong chức vụ tiên tri để giảng dạy Lời Chúa chẳng những cho người chưa biết Chúa, cho con dân Chúa, mà còn cho cả những "đầy tớ trai" của Ngài nữa.

Câu hỏi là: Làm sao để biết các chị em đó là người được Chúa kêu gọi và cho phép? Nếu chúng ta là Hội Thánh thật của Chúa thì Đức Thánh Linh sẽ báo cho chúng ta biết. Hãy xem trường hợp của Ba-na-ba và Sau-lơ, tức Phao-lô:

"1 Trong Hội thánh tại thành An-ti-ốt có mấy người tiên tri và mấy thầy giáo sư, tức là: Ba-na-ba, Si-mê-ôn gọi là Ni-giê, Lu-si-út người Sy-ren, Ma-na-hem là người đồng dưỡng với vua chư hầu Hê-rốt, cùng Sau-lơ. 2 Đương khi môn đồ thờ phượng Chúa và kiêng ăn, thì Đức Thánh Linh phán rằng: hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ đặng làm công việc Ta đã gọi làm."(Công Vụ Các Sứ Đồ 13)

Nếu đã có giáo sư giả, tiên tri giả đàn ông thì chắc chắn cũng có giáo sư giả và tiên tri giả đàn bà; điển hình là Giê-sa-bên được đề cập trong Khải Huyền 2:20. Nguyên tắc chung để nhận diện tiên tri giả đã được Chúa dạy dỗ rất chi tiết trong Ma-thi-ơ 7:15-20.

Kết luận

Theo các trình bày trên đây về những sự dạy dỗ của Lời Chúa trong Thánh Kinh, chúng ta có thể đúc kết rằng: Mệnh lệnh chung của Chúa là phụ nữ phải yên lặng trong các buổi nhóm họp của Hội Thánh và không được dạy dỗ hoặc cầm quyền trên đàn ông. Tuy nhiên, đối với những phụ nữ được Chúa ban ơn cho hầu việc Chúa qua công việc cầu nguyện và nói tiên tri thì Hội Thánh phải tiếp nhận ơn và thẩm quyền Chúa đã ban cho họ; đây là biệt lệ đối với quy định trong I Cô-rinh-tô 14:34, 35. Chức năng nói tiên tri bao gồm các việc giải bày Đạo của Chúa, dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, cảnh cáo và an ủi hầu cho mọi người được dạy bảo, được khuyên lơn cho nên đây là biệt lệ đối với quy định trong I Ti-mô-thê 2:9-14. Điều kiện phải có dành cho các phụ nữ khi cầu nguyện và nói tiên tri là phải trùm đầu vì đó là ý muốn của Chúa.

Ân tứ và chức vụ nói tiên tri trong Hội Thánh được liệt kê liền theo ân tứ và chức vụ sứ đồ, trước các ân tứ và chức vụ: giảng Tin Lành, chăn bầy, dạy Lời Chúa (I Cô-rinh-tô 12:28; Ê-phê-sô 4:11). Cảm tạ Chúa vì cớ Ngài đã ban cho giới phụ nữ một ân tứ và chức vụ quan trọng. Vì thế, các chị em đã được Chúa kêu gọi và ban cho chức vụ này hãy hết lòng biết ơn Chúa và mạnh dạn thi hành chức vụ. Những ai không hề được Chúa kêu gọi mà tự mình dấn thân vào chức vụ này, cho dù là được giáo hội này, giáo hội kia "tấn phong" thì cần phải nghiêm khắc xét mình, ăn năn trước Chúa:

"7 Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. 8 Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời." (Ga-la-ti 6)

 

Huỳnh Christian Timothy
05/04/2010

Share This:

Comments are closed.