981 views

Thi Thiên 23

Cuộc đời của Đavít và Thi Thiên 23

Đây là một Thi Thiên rất quen thuộc và có thể nói là một Thi Thiên được rất nhiều người thuộc nằm lòng, bời từ Thi Thiên 23 đã đem lại cho chúng ta nhiều niềm an ủi – khích lệ trên con đường theo Chúa. Thật ra thì Thi Thiên 23 cũng có thể xem là một bài thuật lại cuộc đời của Đa-vít [mà chúng ta thường gọi là "bài làm chứng"] khi ông suy gẫm cuộc sống của mình trong sự dẫn dắt của Chúa.

Khi viết nên Thi Thiên 23 thì Đa-vít đã vào tuổi cao niên, cũng như bao nhiêu người lớn tuổi khác; trong một khoảng thời gian nào đó thì ông ngồi suy nghĩ về những thăng trầm của đời sống, những giai đoạn đã trôi qua trong ký ức tái hiện lại và từng là một người rất có nhiều kinh nghiệm trong việc chăn chiên, chăm sóc chiên ngay từ thời còn trẻ, Đavít nhớ là mình đã chăm lo cho con chiên từng chi tiết như thể nào thì bây giờ Đa-vít cũng cảm thấy cuộc đời của mình thật giống như là một con chiên được ở trong sự chăn dắt, lo liệu thật chu toàn của Đức Chúa Trời.

Không riêng gì Đa-vít có kinh nghiệm để chia xẻ như vậy, trong những ngày tháng cuối của cuộc đời mình thì Gia-cốp cũng đã có những lời tâm sự thật là ngọt ngào, chân tình : " Rồi người chúc phước cho Giô-sép rằng: ' Cầu xin Đức Chúa Trời mà tổ phụ tôi là Áp-ra-ham và Y-sác đã thờ phượng, là Đức Chúa Trời đã chăn nuôi tôi từ khi mới lọt lòng cho đến ngày nay' " [Sáng thế ký 48: 15]. Đời sống của Gia-cốp là một cuộc đời nhiều thăng trầm, nhiều gian truân; rồi trong những ngày gần cuối đời; khi chúc phước cho con cháu mình thì Gia-cốp đã nói rằng : " Đức Chúa Trời đã chăn nuôi ông, từ khi lọt lòng mẹ cho đến bây giờ ". Thật không đơn giản để Gia-cốp có thể nói lên được như vậy. Bởi vì với một đời sống nhiều tung hoành, một đời sống mà nói như chúng ta ngày hôm nay là một đời nhiều mánh mung, thủ đoạn của Gia-cốp : là người đã tìm cách chiếm đoạt chức trưởng nam của anh mình, rồi cùng với mẹ bày mưu để chiếm đoạt sự cha chúc phước của anh là Ê-sau; cho đến khi chạy trốn anh thì còn ra giá với Đức Chúa Trời : " Nếu Đức Chúa Trời ở cùng tôi, , gìn giữ tôi trong lúc đi đường, cho bánh ăn, áo mặc, và nếu tôi trở về bình an đến nhà cha tôi, thì Đức Giê-hô-va sẽ là Đức Chúa Trời tôi " [Sáng thế ký 28: 20 - 21] Qua lời nói nầy của Gia-cốp cho chúng ta thấy cho đến lúc nầy thì Gia-cốp chỉ xem Chúa là Đức Chúa Trời của ông nội là Áp-ra-ham và của cha ông là Y-sác chứ Ngài chưa phải là Đức Chúa Trời của ông. Rồi cho đến những ngày gần qua đời thì Gia-cốp mới có thể nói " Chúa là Đấng chăn nuôi ông từ khi lọt lòng mẹ cho đến bây giờ " vì khi đã sống gần hết những ngày trên đất, thì Gia-cốp mới có thể nhìn lại cuộc đời mình trong sự dẫn dắt bởi tình yêu của Chúa và ông thấy được sự chăm sóc tuyệt vời của Chúa ngay cả khi bản thân ông chưa nhận thức được Ngài là gì của mình.

Ước gì không riêng Đa-vít – không riêng Gia-cốp mà mỗi chúng ta cũng sẽ luôn nhìn thấy được trong ánh sáng tình yêu của Chúa là chúng ta đã luôn được Ngài quan tâm, chăm sóc thật diệu kỳ biết là bao nhiêu. Nhiều khi chúng ta hát tôn vinh Chúa trong những buổi thờ phượng, nhưng chúng ta có để lòng mình chìm ngập trong sự chăm nom – dẫn dắt của Chúa không? Để rồi chúng ta có thể hát dâng lên Chúa với cả một tấm lòng biết ơn sâu xa về mọi ơn lành mà Ngài vẫn luôn làm và vẫn luôn theo cùng chúng ta. Chúng ta có bao giờ để thì giờ để chiêm nghiệm về đời sống mình trên con đường theo Chúa, mọi diễn biến đã xãy ra để chúng ta có thể thấy và nói được rằng " Thật Chúa là Đấng chăn dắt cả cuộc đời mình "

Bây giờ chúng ta có thể xem cụ thể hơn là Chúa đã chăn dắt Đavít như thế nào trên cuộc đời của ông :

" Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi nên tôi chẳng thiếu thốn gì " Đây có phải là một câu nói dễ nói không giữa vòng chúng ta? Trong chúng ta ngày hôm nay ai có thể dễ dàng – mạnh dạn nói được như thế này? Có phải là đang thời điểm này thì Đa-vít đang ngồi trên ngôi vua, vương quốc của ông thật được hưng thịnh – giàu có; các nước lân bang thì thần phục – tiến cống nên ông có thể nói ngon lành như trên chăng? Đavít nói rằng ông không thiếu thốn gì hết trong đời sống của mình, vậy chúng ta thử kiểm tra xem ông đã nói đúng hay là nói sai. Vì đã nói rằng Thi Thiên 23 có thể xem là bài làm chứng lại đời sống của Đavít và mở đầu thì ông nói mình không thiếu thốn gì hết thì chúng ta phải xem thử ông có thiếu gì trong cuộc đời của ông không?

+ " Nhưng Ê-li-áp anh cả người, nghe Đa-vít nói như vậy, nổi giận người, mà nói rằng: ' Cớ sao mầy đến đây? Mầy bỏ ít con chiên của chúng ta trong đồng vắng cho ai ? Ta biết tánh kiêu ngạo và sự độc ác của lòng mầy. Ấy đặng xem tranh chiến nên mầy mới đến ' " [I Sa-mu-ên 17: 28] Cha của Đa-vít lo cho các con lớn của mình đang tham gia trong đạo quân của Saulơ đánh nhau với người Phi-li-tin; ông không biết sức khỏe các con mình ra sao? Họ có gặp nguy hiểm gì không? Với lòng lo lắng như vậy nên ông sai người con út là Đa-vít đem thức ăn đến và thăm tình hình các anh cũng như của đạo binh Y-sơ-ra-ên.  Khi Đavít đến thì gặp ngay lúc tình hình chiến trận đang gay cấn vì Gôliát luôn ra thách thức quân Y-sơ-ra-ên, hắn cũng lên tiếng sỉ nhục đạo quân của Sau-lơ – tức quân đội của dân tuyển mà Chúa đã chọn lựa, Đa-vít thấy vậy nên lân la hỏi thăm sự việc cho rõ. Chỉ như vậy thì Đa-vít đã bị ông anh cả " sực " ngay cho một trận. Tại sao lại xãy ra sự việc như vậy?

Việc này ấy là do các anh đã ganh ghét với Đa-vít : Khi tiên tri Sa-mu-ên đến theo mạng lịnh của Chúa để chọn một trong các người con của Y-sai, rồi xức dầu cho để chuẩn bị cho sự thay thế Sau-lơ làm vua trên Y-sơ-ra-ên. Khi người anh cả là E-li-áp tới, Sa-mu-ên thấy người này cao to, đẹp thì ông nghĩ rằng đây là người Chúa đã chọn; nhưng Chúa lại bảo không phải là người đó. Và rồi nhiều người anh khác nữa của Đa-vít cứ đi qua – đi qua nhưng Chúa vẫn bảo không phải; cho đến cuối cùng thì lại chọn người em út đang chăn chiên ngoài đồng phải kêu về đó là Đa-vít, bấy giờ Chúa mới bảo tiên tri Sa-mu-ên xức dầu cho. Kể từ đó thì Đa-vít đã không được lòng của các anh mình. Như vậy, qua sự kiện nầy cho chúng ta thấy Đa-vít đã không được sự thương yêu và thông cảm của anh em ruột trong nhà của cha mình; ông đã thiếu mất tình yêu thương của anh em.

+ Qua một phần khác : " Vả, Sau-lơ đã gả Mi-canh, con gái mình, và là vợ của Đa-vít, cho Phanh-ti, con trai của La-ít, người Ga-lim " [I Sa-mu-ên 25: 44] Đây là thời điểm mà Đa-vít phải chạy trốn Sau-lơ đuổi giết vì sợ ông chiếm ngôi, vợ của Đa-vít là Mi-canh [vợ chánh thất] đã bị Sau-lơ [cha vợ] đem gả cho người khác; vậy là ngay trong giai đoạn khó khăn, gian khổ của đời sống thì Đa-vít lại bị mất vợ, đây là điều rất đáng buồn – rất đau lòng phải không?  Đáng lẽ những lúc như thế này thì ông cần có người gần gũi để an ủi, giúp đỡ tinh thần là điều rất quan trọng thì ông lại bị thiếu vợ.

+ Chúng ta xem tiếp " Bấy giờ, Đa-vít chỗi dậy, ngày đó trốn xa khỏi Sau-lơ; mà đi đến cùng A-kích vua Gát " [I Sa-mu-ên 21: 10] Quê hương – đất nước của mình thì không ở được, phải chạy trốn nơi đất khách quê người; như vậy cho chúng ta thấy là Đa-vít đang thiếu một nơi ở cho an toàn.

+ " Bây giờ, thầy có chi trong tay? Hãy trao cho ta năm ổ bánh hay là vât gì thầy có thể tìm được " [I Sa-mu-ên 21: 3] ; và " Nguyện ông được bình yên, nguyện nhà ông cũng được bình yên; phàm vật gì thuộc về ông đều được bình yên! Và bây giờ, tôi có hay rằng ông có những thợ hớt lông chiên. Trong lúc các kẻ chăn chiên ông ở gần chúng tôi, chúng tôi chẳng hề khuấy khuất chúng nó; và trọn hồi chúng nó ở tại Cạt-mên, chẳng có thiếu mất gì hết. Hãy hỏi tôi tớ ông về điều đó, chúng nó sẽ nói cùng ông. Vậy, xin các gã trai trẻ được ơn trước mặt ông, vì chúng tôi đến trong ngày tốt lành; hễ tay ông tìm thấy vật gì, hãy ban cho các tôi tớ ông, và cho con ông là Đa-vít " [I Sa-mu-ên 25: 6 - 8]

Qua hai phần Kinh Thánh này cho chúng ta thấy rằng Đa-vít đã làm gì đây? Đa-vít chạy trốn Sau-lơ và cần phải có thức ăn, ông đã đến với thầy tế lễ để xin bánh thánh dùng trong sự thờ phượng Chúa; rồi bởi những thức ăn đó được cho ông nên cả gia đình của thầy tế lễ và cả dân cư của thành Nóp đã bị Sau-lơ cho giết chết hết. Rồi tại trên núi Cạt-mên thì Đa-vít cho những kẻ theo mình đến với Na-banh để xin thức ăn vào lúc ông này cho hớt lông bầy chiên của mình, đây là lúc rất sẵn thức ăn – tiệc tùng. Thế nhưng vì thế mà Đa-vít đã bị Na-banh sỉ nhục.

Chúng ta đã điểm qua một số mặt trong đời sống của Đa-vít thì chúng ta thấy ông có bị thiếu thốn gì không? Chúng ta thấy rõ là ông thiếu nhiều mặt trong cuộc sống : thiếu tình anh em – thiếu vợ – thiếu sự an toàn cho tánh mạng – thiếu cả thức ăn nữa. Vậy tại sao Đa-vít lại dám mở đầu Thi Thiên 23 rằng " ông không thiếu thốn gì hết "; có phải là Đa-vít đã làm chứng dối cho Chúa không? Chúng ta biết chắc chắn là ông không nói dối rồi, nhưng rõ ràng là ông có thiếu trong cuộc sống của mình; vậy chúng ta sẽ giải thích làm sao đây? Chúng ta xem Thi Thiên 16: 2 sẽ giúp chúng ta sáng tỏ được vấn đề " Tôi đã nói cùng Đức Giê-hô-va rằng : Ngài là Chúa tôi, trừ Ngài ra tôi không có phước gì khác " Chúng ta xem thêm ở Thi Thiên 73: 25 " Ở trên trời tôi có ai trừ ra Chúa, còn dưới đất tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa "

Đa-vít đã thấy được rằng trong cuộc đời nhiều trôi nỗi của mình có những giai đoạn thật là khó khăn và cũng thiếu thốn nữa; nhưng rồi Đa-vít biết được rằng trong tất cả mọi giai đoạn đó thì ông vẫn có Chúa là Đấng chăn giữ đời ông, Chúa chỉ dùng những hoàn cảnh đó để tôi luyện cuộc đời ông hầu cho ông trở nên tốt hơn – giỏi hơn – trưởng thành hơn để trở thành người xứng đáng dẫn dắt dân tuyển của Ngài là dân Y-sơ-ra-ên. Do đó. đang khi ở trong những hoàn cảnh khốn khổ đó thì Đa-vít luôn hướng về Đức Chúa Trời và đặt sự trông cậy nới Ngài một cách hoàn toàn. Ông tâm niệm là ngay trong những lúc mình thiếu thốn đủ thứ thì ông vẫn có Đức Chúa Trời và như vậy là ông đã có đủ mọi sự. Bởi cớ đó ông có thể nói lên được " tôi không thếu thốn gì hết " Chúng ta có thể A-men với Đa-vít được không?

Có nhiều khi trong cuộc sống của mình thì chúng ta phải lâm vào một hoàn cảnh ngặt nghèo nào đó, chúng ta thường than vãn là sao mình theo Chúa mà cứ gặp khó khăn hoài, gặp trở ngại hoài; chẳng những chúng ta than mà nhiều khi chúng ta còn trách móc, hờn dỗi với Đức Chúa Trời của mình. Thật sự thì cuộc đời của mỗi chúng ta đều phải trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm – lênh đênh lắm nỗi.

Cuộc đời tôi cũng từng trãi qua nhiều giai đoạn thật đau khổ, từng ngày rồi từng ngày trông đợi; cứ mong rằng ngày sau sẽ tươi sáng hơn – đỡ buồn khổ hơn, nhưng rồi ngày nào cũng tối tăm cả; nhiều lúc tôi thấy như tuyệt vọng và muốn buông trôi tất cả. Nhưng cảm ơn Chúa là dù như mất tất cả thì tôi vẫn còn một điều để bám víu đó là " Chúa " và rồi Ngài cho tôi thấy rõ là Ngài vẫn luôn là Đấng chăn dắt đời tôi để đưa tôi vào mọi sự tốt đẹp nhất.

Như vậy, đến đây thì chúng ta có thấy rõ là Đa-vít đã không hề nói dối khi nói rằng khi Chúa là Đấng chăn dắt ông thì ông sẽ không bao giờ thiếu thốn gì hết. Ông xác định được rằng khi chúng ta có Chúa là chúng ta đã có tất cả, đầy đủ tất cả vì Ngài là mọi sự, là Đấng tóm gồm mọi loài.

Ước ao mỗi chúng ta cũng vậy, khi có những thăng trầm trong đời sống: chúng ta có thể thiếu một vật gì đó, có thể thiếu một tình cảm nào đó thì chúng ta cần phải luôn nhớ rằng chúng ta đã có một điều quan trọng nhất đó là " có Chúa " vì ngoài Ngài thì chúng ta sẽ không có gì hơn nữa cả.

Đa-vít nói tiếp : " Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi, dẫn tôi đến mé nước bình tịnh " Có thể nói đây là câu mà ai trong chúng ta cũng thích cả vì tại đây đã vẽ nên một cảnh tượng thật êm ấm, ngọt ngào không gì bằng cả.

Trong câu này có một chữ quan trọng mà chúng ta cần để ý, đó là chữ " khiến " Mong ước của người chăn chiên bao giờ cũng là làm mọi cách để có thể đưa chiên đến nơi đồng cỏ tốt nhất, nhưng có vấn đề là không phải con chiên nào nó cũng sẵn sàng để đi theo người chăn một cách tuyệt đối. Khi chăn chiên thì người chăn luôn đi trước và bầy chiên theo sau, nhưng rồi cũng có những con chiên nó lại hay đi tẻ tách chứ không luôn theo bầy của mình; đối với những con chiên như vậy thì người chăn phải dùng nhiều cách để cho nó phải trở lại với bầy. Có những con chiên đang khi đi với bầy bất chợt nó thấy một nơi nào đó mà bất chợt nó thích đi tới, mà xứ Palestine thì nhiều đối núi chập chùng, nên cũng có nhiều hang hố mà dễ lắm con chiên sẽ bị rơi xuống đó. Theo kinh nghiệm được kể lại của những người chăn chiên, thì hễ con chiên nào nó đi tẻ tách thì nó thường làm như vậy rất nhiều lần; do đó người chăn là người luôn " biết chiên " nên rất thường để ý đến những con chiên như vậy. Có khi người chăn dùng chiếc trành ném đá của mình để ném những viên đá cho nó bay gần nơi con chiên thích lang thang để làm cho nó giật mình mà trở lại với bầy. Thật ra thì những con chiên thuộc linh của Chúa cũng giống như vậy thôi, có những khi chúng ta làm sai, Chúa hướng dẫn chúng ta đi trở lại cho đúng rồi thì sau đó chúng ta lại cũng cứ đi sai như những lần trước đó. Chúa vẫn luôn dùng nhiều cách để tỉnh thức chúng ta để chúng ta phải đi đúng con đường Cơ-đốc mà chúng ta cần phải luôn theo cho đúng. Có nhiều khi chúng ta có cho rằng phải đi – phải làm như thế này thì mới tốt, mới có cỏ xanh như mình nghĩ; nhưng Chúa thì lại bảo không phải là như vậy và Ngài phải " khiến " chúng ta đi theo đúng chương trình, con đường mà Ngài đã vạch ra để đạt được mục đích tốt nhất. Người chăn giỏi không phải là hễ thấy chỗ nào có cỏ xanh là liền lùa bầy chiên đến đó đâu, khi thấy một đồng cỏ thì người chăn luôn có trách nhiệm phải tìm hiểu cho chăc chắn về cánh đồng mà mình thấy đó; vì trên những cánh đồng Palestine thì nó có nơi có loại cỏ độc mà khi con chiên ăn phải cỏ nầy thì nó sẽ bị bệnh tháo dạ và chết vì bệnh đó. Do đó, người chăn phải tìm và dọn sạch các loại cỏ độc gây ảnh hưởng đến bầy chiên, sau khi đã dọn sạch rồi thì mới cho chiên đến ăn trên những cánh đồng cỏ đó. Tinh thần của những người chăn tốt thật là tuyệt vời. Cũng một thể ấy, chúng ta phải biết rằng khi Chúa đưa chúng ta đến đâu thì chúng ta phải biết rằng chính bàn tay mang dấu đinh của Ngài đã lo chuẩn bị, dọn dẹp nơi đó để chúng ta có thể hưởng được mọi điều tốt nhất mà Ngài sẵn sàng ban cho chúng ta. Để được như vậy thì nhiều khi Chúa phải " khiến " chúng ta, chứ tự nơi chúng ta thì không thể nào chúng ta có thể đến được nơi tốt đẹp như vậy.

Ứng dụng trong đời thuộc linh cũng vậy thôi, có những chương trình học hỏi thuộc linh mà nếu chúng ta không nắm thật chắc chắn, không tìm hiểu kỹ càng mà cứ để cho Hội Thánh theo học; rồi đến một lúc nào đó chúng ta mới phát hiện ra là nó có những điều không đúng với tín lý thật của Hội Thánh, không thật sự gây dựng đúng cho tín hữu, nhân sự trong Hội Thánh. Lúc bấy giờ chúng ta có ngưng lại thì nhiều người trong Hội Thánh đã bị nhiễm độc thuộc linh, rất là nguy hiểm; và đôi khi chúng ta phải mất rất nhiều thời gian để giải quyết hậu quả của nó, có khi chính những vụ việc trên làm phân rẽ Hội Thánh rất trầm trọng. Chúng ta phải biết rằng trong mọi diễn biến xấu có thể xãy ra thì trách nhiệm của người chăn là rất lớn. Trong bầy chiên thuộc thể thì tất cả mọi tình trạng của chiên đều phải lo cho nó, vì bản thân con chiên thì tự nó không thể làm gì cho mình cả. Điều nầy cũng tương ứng rong bầy chiên thuộc linh của Chúa, mọi đều diễn ra trên linh trình thuộc linh của cả bầy hoặc của từng con thì người chăn vẫn là người chịu trách nhiệm lớn nhất trước chủ chăn thuộc linh là Chúa Jêsus của chúng ta, cho dù đó là lỗi vô tình hay cố ý đi nữa cũng vậy. Do đó, nếu chúng ta biết lo trước thì sẽ đỡ phải lo sau rất vất vã và đau buồn; khi người chăn đi tìm hiểu về đồng cỏ để loại bỏ cỏ độc thì có cực nhọc đó, nhưng vẫn không cực khổ bằng việc phải lo chữa bệnh cho chiên và nhiều khi đau buồn hơn là chiên ngộ độc mà chết.

Chúng ta cần phải biết rằng người chăn và bầy chiên nói chung, cho đến từng con chiên nói riêng rất là quen thuộc; người chăn biết rõ từng con chiên nên mối liên hệ rất là mật thiết và gắn bó. Khi có điều gì đó xãy ra đau buồn với chiên sẽ là một điều ảnh hưởng to lớn đến với người chăn. Do đó, việc phải thật hết lòng chăm sóc cho chiên thì không phải chỉ là trách nhiệm của những người có phận sự lớn trong Hội Thánh, mà ngay cả những anh em là nhân sự trong Hội Thánh; những người phải quản nhiệm từng tổ tế bào, nhóm học Kinh Thánh hoặc nhóm chăm sóc – gây dựng cũng phải luôn ý thức rằng chức vụ thiêng liêng của mình rất là quan trọng, chúng ta không thể mảy may xem thường mà làm việc cách tắc trách được, vì khi làm việc thiếu chuyên tâm như vậy chúng ta sẽ phải trả lời trước Đức Chúa Trời về mọi việc xãy đến cho bầy chiên mà Ngài giao cho chúng ta vì Ngài đã phải mua bầy chiên đó bằng chính huyết báu của Ngài. Xứ Palestine là một xứ nhiều sa mạc, đồi núi nên việc tìm đến một đồng cỏ không phải dễ dàng; nhiều khi người chăn phải dắt cả bầy vượt qua những cánh đồng khô khốc, cỏ cháy rồi sau đó mới có thể đến được đồng cỏ xanh tươi như mong ước. Khi bầy chiên biết đi theo người chăn cách đúng đắn thì chắc chắc rằng việc được ăn no nê cỏ tốt là điều sẽ có cho cả bầy. Con chiên thuộc linh của Chúa cũng vậy, khi mà chúng ta biết lắng nghe và vâng phục Ngài thì chắc chắn rằng đời sống của chúng ta sẽ rất vô cùng phong phú và nhiều kết quả tốt trên con đường chúng ta theo Ngài.

Đa-vít nói là Chúa " dẫn tôi đến mé nước bình tịnh "

Sau khi lo chiên ăn thì người chăn lại còn trách nhiệm lo cho bầy chiên của mình tìm nguồn nước tốt để uống, Palestine thì cũng không nhiều sông ngòi, con sông chính là sông Giô-đanh thì lại rất ngoằn nghoèo, nó chạy theo như hình chữ chi vậy; vào mùa khô thì dòng nước không nhiều, nhưng vào mùa nước dâng cao thì nước tràn khỏa lấp cả hai bên bờ và bởi vì có hình dáng quanh co như trên nên có chỗ nước của hai bên bờ khúc sông này tràn gặp chỗ tràn của hai bờ khúc sông kia và thế là chẳng còn thấy đâu là bờ bến nữa, bấy giờ trông thấy dòng sông rất là lớn. Do đó, có khi tìm một chỗ có lưu lượng nước chảy thật êm dịu thì không phải là dễ dàng gì cho người chăn; có lúc người chăn phải thúc bầy chiên vượt qua những nơi nước chảy xiết hơn để có thể đưa bầy đến được chỗ nước bình tịnh cho chiên có thể uống nước cách an toàn.  Và trong bối cảnh đó thì chúng ta lại thấy vẽ lên một hình ảnh thật tuyệt của người chăn đối với con chiên: vào lúc này thì những con chiên mạnh sẽ được người chăn thúc vượt qua dòng nước, những con chiên yếu sẽ được người chăn bỏ vào một cái túi mang trước ngực để mang qua dòng nước ( đây chính là cái bọc mà bà A-bi-ga-in là vợ của Na-banh đã gọi là " bọc của người sống " [I Sa-mu-ên 25: 29] ) Việc nầy cho chúng ta thấy rằng trong hình ảnh thuộc linh thì những người mới tin Chúa, người còn bước đi cách non yếu trong Chúa thật được Chúa yêu vô cùng; họ thật sung sướng khi phải vượt qua những thử thách thì họ được ở ngay trước ngực Ngài, được sự che chở – bảo bọc – yêu thương thật tuyệt vời từ nơi Chúa. Là người theo Chúa thì chúng ta cần phải cảm nhận được sự giúp đỡ, chăm sóc tận tình của Chúa mà chúng ta sẽ không thể nào diễn tả được hết bằng những ngôn từ của loài người, để rồi trong đời sống mình chúng ta phải luôn thể hiện sự biết ơn và yêu thương Chúa như chúng ta đáng phải thể hiện vậy. Như đã nói, những con chiên lớn hơn – mạnh hơn thì sẽ vượt qua dòng nước dưới sự quan sát – theo dõi và thúc hối của người chăn; nhưng rồi cũng sẽ có những con chiên bị trượt bước vì dòng nước, vì trơn trợt dưới bước chân của nó, bấy giờ nó sẽ trôi theo dòng nước. Người chăn vẫn luôn thấy mọi điều ấy, nhưng người chăn sẽ không thể tức thì vớt con chiên trôi ấy mà phải lo thúc các con còn lại nhanh chóng qua bờ bên kia, rồi sau đó mới chạy đón đầu dòng nước để vớt chiên bị trôi. Vì dòng nước của sông Giô-đanh chạy vòng vèo mà người chăn thì sẽ chạy theo đường thẳng nên việc đón đầu vớt chiên không phải là không kịp; trong thời gian chưa kịp vớt thì chắc hẳn là con chiên trôi sẽ bị uống nước vì nước cuốn và sự mở miệng để kêu la của nó.

Nếu chúng ta thử nhân cách hóa tình trạng của con chiên lúc này thì sao? Chắc hẳn là nó sẽ oán trách người chăn là tại sao không cứu nó? Tại sao để nó như vậy thì nó sẽ chết? Há lẽ người chăng không thật yêu thương nó sao lại để nó khốn khổ như vậy? v . v . . .  Con chiên thì tự nó không thể làm gì cho mình cả, tất cả mọi sinh hoạt của nó là do người chăn lo liệu, nên khi có nan đề là nó chỉ biết mỗi việc là kêu vang để nhờ sự can thiệp của người chăn mà thôi. Và trong khi nó tuyệt vọng như vậy thì bất chợt nó thấy rằng : Ồ! Nó đã được nâng lên, cánh tay của người chăn đã vớt nó lên; thì ra người chăn đã chạy đón đầu dòng nước và vớt nó lên để đưa nó về với bầy ở nơi an tịnh.

Và khi suy nghĩ về điều này thì tôi lại cảm nhận được rằng hình như cuộc đời của những người theo Chúa chúng ta có lúc cũng như vậy; đang khi sống ở đời tạm này thì cũng có những lúc chúng ta cảm thấy mình bị cuốn trôi theo dòng đời, cứ trôi mãi – trôi mãi, chúng ta thấy mình càng ngày càng nặng nề trong đời sống. với nhiều bi thương – chán chường, chúng ta thấy rằng hình như mình đã xa Chúa rất nhiều rồi vậy. Vì có những lúc chúng ta kêu cầu với Chúa nhưng hình như là Ngài không nghe thì phải, chúng ta trông đợi một sự giúp đỡ từ nơi người chăn thuộc linh nhưng rồi thấy như vô vọng; có lúc chúng ta nghĩ rằng mình chỉ còn chờ chết thôi thì bấy giờ chúng ta lại thấy được sự cứu vớt của Ngài, chúng ta thấy được rằng Ngài đang bồng ẳm chúng ta trong cánh tay đầy ân điển yêu thương của Ngài để đưa chúng ta trở về với Ngài và với bầy.  Tiêu chuẩn mà Chúa muốn luôn đem lại cho chúng ta chính là những đồng cỏ xanh tươi, những cánh đồng cỏ đẹp tươi không hề lẫn một ngọn cỏ độc nào; điều mà Chúa muốn cho chúng ta luôn là những bến nước thật bình tịnh để chúng ta có thể thụ hưởng một cách ngon lành, an toàn tuyệt đối. Từ liệu " an nghỉ " của Kinh Thánh là một từ rộng nghĩa, nó luôn được chỉ về một tình trạng an bình hoàn toàn, không hề có một xáo trộn nào xãy ra cả. Khi dùng từ liệu này để nói đến một quốc gia, ấy là một quốc gia đang thái bình: không có thù trong giặc ngoài, không có đói kém, tai ương gì hết. Khi dùng từ này nói đến một người thì đó là một người đang hưởng niềm vui, thạnh vượng – và sự an toàn tuyệt đối

" Ngài bổ lại linh hồn tôi "

Sau khi vượt qua những cánh đồng khô hạn đầy cỏ cháy, vượt qua những dòng nước để đến nơi bình tịnh cho dù có lúc có chiên bị trôi và người chăn phải lo vớt lên; bấy giờ thì đến lúc cả bầy thật sự được " ăn no cỏ xanh ngon – uống nước trong ", được nghỉ ngơi hồi sức; thì người theo Chúa cũng sẽ được " bổ lại linh hồn " tức được yên nghỉ trong hoàn cảnh thật tuyệt, được hưởng một đời sống đầy phước hạnh từ nơi Chúa ban cho; linh hồn chúng tasẽ được êm dịu bên tình yêu vô đối của Chúa sau " ba chìm, bảy nổi – muời mấy lênh đênh ", sau bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống thì chúng ta lại được cơ hội, thời gian chiêm nghiệm về Chúa và tình yêu của Ngài và lòng cảm nhận sự biết ơn Chúa vô cùng vì Ngài đã chăn dẫn mình.

" dẫn tôi vào các lối công bình vì cớ Danh Ngài "

Đa-vít muốn nhấn mạnh rằng vì ông thuộc về Chúa, thuộc về Danh vinh hiển của Ngài;  nên Ngài luôn quan tâm và những khi ông sai lạc trên bước đường đi, trên đời sống thì Ngài dắt dẫn ông vào đường chính đáng. Giống như những con chiên hay đi lang thang, đi sai lạc thì người chăn đã luôn tìm cách đưa nó trở về đi theo bầy vậy.  

Giờ thì chúng ta cùng xem Đa-vít đã kinh nghiệm sự dẫn dắt của Chúa, sự can thiệp của Ngài để kịp đưa ông vào đường công bình như thế nào:

+  " Đa-vít đáp cùng A-bi-ga-in rằng: ' Đáng ngợi khen Giêhôva Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì đã sai ngươi đến đón ta ngày nay! Đáng khen sự khôn ngoan ngươi và chúc phước cho ngươi, vì đã cản ta đến làm đổ huyết và ngăn ta dùng chính tay mình mà báo thù cho mình " [I Sa-mu-ên 25: 32 - 33] Đa-vít tức giận vì Na-banh đã không cho thức ăn mà còn sỉ nhục mình, nên Đa-vít đã sai những kẻ theo mình đem binh khí để đi đánh Na-banh. Nhưng đây là việc làm sai, là điều mà Chúa không muốn Đa-vít phạm phải. Chúa đã dùng A-bi-ga-in là vợ của Na-banh [sau này khi Na-banh chết thì bà trở thành vợ của Đa-vít] đi đón đường tiếp tế cho Đa-vít và cản trở Đa-vít định trả thù cho mình. Khi Đa-vít thấy A-bi-ga-in và những việc làm của bà thì ông biết ngay rằng " Chúa đã sai bà đến đón ông và cản ông ra tay phạm tội giết người "  Chúng ta thấy là Chúa dùng người phụ nữ nầy để cản không cho Đa-vít phạm tội với Ngài và với con người khác, Chúa muốn ông phải đi đúng, đi thật tốt đẹp trong chương trình mà Ngài dành cho ông. Tự bản thân Đa-vít đã không thể thực hiện được con đường chính đáng khi theo Chúa, nhưng nhờ Chúa dẫn bước ông để ông đi trong đường công bình của Ngài.

+ Chúng ta cùng xem thêm một lần nữa Chúa lại cản trở Đa-vít sai phạm:

" Dân Phi-li-tin nhóm hiệp hết thảy các đạo quân tại A-phéc còn dân Y-sơ-ra-ên đóng trại gần suối Gít-rê-ên. Các quan trưởng dân Phi-li-tin và đạo quân kéo ra trước từng trăm từng ngàn; còn Đa-vít và những kẻ theo người đi hậu tập với A-kích. Bấy giờ các quan trưởng dân Phi-li-tin nói rằng: Những người Hê-bơ-rơ đó là ai? A-kích đáp rằng: Ấy là Đa-vít tôi tớ của Sau-lơ vua Y-sơ-ra-ên ở với ta đã lâu ngày chầy năm. Từ ngày người sang nơi chúng ta cho đến bây giờ ta chẳng thấy lỗi gì nơi người. Các quan trưởng Phi-li-tin nổi giận nói với A-kích rằng: Hãy đuổi người nầy trở về chỗ ông đã lập hắn chớ cho hắn đi đánh giặc với chúng ta, e trong lúc chiến đấu hắn trở lòng nghịch chúng ta chăng vì hắn làm thế nào cho được hòa cùng chủ mình há chẳng phải nhờ những thủ cấp của chúng ta sao? Há chẳng phải về Đa-vít này mà người nữ hát trong cuộc nhảy múa rằng: Sau-lơ giết hàng ngàn, còn Đa-vít giết hàng vạn? Vậy A-kích gọi Đa-vít mà nói rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề ngươi vốn một người ngay thẳng, ta thích ngươi vào trong trại quân với ta vì từ ngày ngươi đến cùng ta cho tới ngày nay ta chẳng tìm thấy nơi ngươi điều chi đáng trách. Nhưng ngươi không đẹp lòng các quan trưởng. Vậy bây giờ hãy lui về và đi bình-an hầu cho khỏi mất lòng các quan trưởng Phi-li-tin. Đa-vít nói cùng A-kích rằng: Tôi có làm điều gì và từ khi tôi ở gần vua đến ngày nay vua có tìm thấy điều chi nên quở trách nơi tôi tớ vua mà tôi không được đi đánh quân thù nghịch của chúa tôi là vua? A-kích đáp với Đa-vít rằng: Ta biết điều đó, ngươi vốn đẹp lòng ta như một thiên-sứ của Đức Chúa Trời. Nhưng các quan trưởng Phi-li-tin có nói: Hắn sẽ không lên đánh trận cùng chúng ta. Ấy vậy ngươi và những đầy tớ của chủ ngươi đã đến cùng ngươi hãy dậy sớm; phải hãy dậy sớm và vừa khi trời sáng hãy đi đi. Vậy Đa-vít và các kẻ theo người dậy sớm để vừa sáng mai đi trở về trong xứ dân Phi-li-tin còn dân Phi-li-tin đi lên Gít-rê-ên. " [I Samuên 29: 1 - 11]  Đây là lúc Đa-vít bị đuổi khỏi đạo binh Phi-li-tin; Đa-vít chạy trốn Sau-lơ và đến ở nhờ nơi đất người Phi-li-tin. Và đến lúc có tranh chiến giữa quân Y-sơ-ra-ên và Phi-li-tin, A-kích muốn Đa-vít theo ông đánh Sau-lơ, Đa-vít cũng muốn đi theo; nhưng Đức Chúa Trời đã dùng các quan trưởng khác của Phi-li-tin để cản trở, họ đã không đồng ý và buộc Đa-vít phải trở về lại Xiếc-lác. Chúa đã không cho phép Đa-vít phạm vào trọng tội " cõng rắn cắn gà nhà "; vì dù Sau-lơ có như thế nào đi nữa thì dân Y-sơ-ra-ên vẫn là dân tuyển của Đức Chúa Trời và trong tương lai thì Đa-vít sẽ trở thành vua của họ, do đó Đa-vít không thể tham gia vào cuộc chiến tranh này được.Đa-vít kinh nghiệm được rằng vì Danh của Chúa nên Ngài phải dẫn ông vào các đường công bình hầu cho sự vinh hiển của Ngài được tỏa sáng qua chính những kẻ thuộc về Ngài nữa. Chúng ta cũng vậy, xin Chúa cho chúng ta ý thức được rằng: trước khi chúng ta quyết định một việc gì thì hãy suy xét xem điều ấy có làm vinh hiển Danh Chúa chăng? Nhiều lúc chúng ta mãi lo tính vì hoàn cảnh, vì tâm tính, vì tình cảm của mình và chúng ta làm theo suy nghĩ riêng tư mà không lo rằng những việc ấy sẽ không làm Chúa vui lòng, không thể bày tỏ sự vinh hiển Chúa qua đời sống của chúng ta được.

Và mỗi khi lầm lẫn trong công việc nào đó thì cũng xin Chúa cho chúng ta có sự khôn ngoan để nhìn biết sự can thiệp, sự cản trở của Chúa đối với công việc đó, để chúng ta không ngoan cố sai phạm mà chuốc lấy những thât bại, những đau đớn không đáng có cho mình. Chúng ta thấy rằng Đa-vít vẫn có những cái sai thì cũng như chúng ta vẫn luôn có những điều sai, nhưng vấn đề là chúng ta phải nhanh chóng tỉnh thức khi có sự cảnh báo của Chúa; sự cảnh báo đó có thể là qua anh em, qua một vài người nào đó, hoặc qua những sự kiện xãy ra quanh cuộc sống của chúng ta, v. v . . . để chúng ta có thể trở lại đường công bình mà Ngài muốn chúng ta phải trung tín đi trong con đường đó.

"Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi "

Trũng bóng chết là gì ? Ấy chính là những giai đoạn khó khăn, gian khổ nhất mà chúng ta cảm thấy như là sự chết thật rất gần, nó muốn hãm áp để cướp đời sống chúng ta. Trong những lúc này thì chúng ta cảm thấy rằng mình không còn một lối nào thoát cả, chỉ còn có mỗi con đường chết cho chính mình mà thôi.  Đa-vít cho biết là cho dù trong những lúc nguy hiểm tột cùng như vậy thì ông cũng sẽ chẳng sợ gì hết. Chúng ta sẽ xem Đa-vít đã kinh nghiệm những sự kiện hiểm nguy cùng cực này như thế nào để ông có thể tuyên bố là dù đối diện với nó thì ông sẽ chẳng sợ gì cả:

+ Chúng ta cùng xem phần Kinh Thánh I Sa-mu-ên 17 : . . .  ;  tại đây Đa-vít phải xuống trũng bóng chết; ông xuống vùng trũng Ê-la để đối diện với Gô-li-át là tên khổng lồ của quân đội Phi-li-tin. Trong khi hai bên quân đội Y-sơ-ra-ên và Phi-li-tin thì dàn quân ở trên hai ngọn đồi, thì Gô-li-át xuống trũng thách đấu; quân Y-sơ-ra-ên sợ hãi và không ai dám xuống đối đầu với tên khổng lồ đó [ cao 6 thước 1 gang = vào khoảng 3m ngày nay; áo giáp 5000 siếclơ = khoảng 35 kg; mũi cây lao 600 siếclơ = khoảng 4kg] và Đa-vít đã xuống nghinh chiến với Gô-li-át. Khi việc này diễn ra thì mọi người đều lo lắng cho Đa-vít, bởi vì Đa-vít chỉ mới là một thiếu niên chưa từng kinh nghiệm chiến tranh – trận mạc, trong khi Gô-li-át là một chiến binh lừng danh; có thể mọi người đều nghĩ rằng Đa-vít chắc hẳn chỉ có một con đường chết thôi, sự chết đã như cái bóng theo sát gần với Đa-vít rồi. Cả tên Gô-li-át cũng đã nghĩ rằng người Y-sơ-ra-ên đã không có người và bây giờ sai một thằng nhỏ xuống để mình giết nó cách dễ dàng. Nhưng với đức tin bấy giờ, là một đức tin tuy đơn sơ nhưng chắc quyết và Đa-vít đã vượt qua "trũng bóng chết", Đa-vít chiến thắng bởi kinh nghiệm sống động vì biết Chúa ở cùng mình ngay cả khi chăn giữ bầy chiên của gia đình, và Đa-vít biết là mình cũng sẽ thắng được tên Gô-li-át khổng lồ kia.

Trong cuộc đời của mình thì Đa-vít không chỉ một lần phải xuống trũng của bóng chết :

+ Trong I Sa-mu-ên 20: 3 : " Nhưng Đa-vít lại thề nguyền mà rằng: Cha anh biết rõ rằng tôi được ơn trước mặt anh nên có nói rằng: Chớ nên cho Giô-na-than biết gì kẻo nó phải lo buồn chăng. Song ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và mạng sống của anh mà thề rằng chỉ còn một bước cách tôi và sự chết mà thôi. " Lại một lần nữa Đa-vít đối diện ngay với sự chết gần kề, ông đã nói với Giô-na-than là Sau-lơ, cha của Giô-na-than định tâm giết ông và ông nói " chỉ còn một bước cách tôi và sự chết mà thôi ". Đa-vít phải xuống trũng của bóng chết lần này trong một tâm trạng lo lắng và ông phải nhờ đến Giô-na-than để giúp đỡ mình vượt qua nó. Cũng như trước đó thì Đa-vít cũng phải nhờ Mi-canh vợ mình giúp ông trèo qua cửa sổ để trốn thoát sự sát hại của Sau-lơ khi ông này cho người rình ngay nhà mưu giết Đa-vít.

+ Trong I Sa-mu-ên 23: 26 – 28 " Sau-lơ đi sườn núi bên nầy còn Đa-vít và bọn theo người đi sườn núi bên kia. Đa-vít vội vàng chạy trốn đặng thoát khỏi Sau-lơ. Nhưng lúc Sau-lơ và các đầy tớ bao phủ Đa-vít và bọn theo người đặng hãm bắt , thì có một sứ giả đến cùng Sau-lơ mà nói rằng: Hãy mau mau trở về vì dân Phi-li-tin đã xâm phạm xứ ta. Vậy Sau-lơ thôi đuổi theo Đa-vít đi đánh Phi-li-tin. Bởi cớ ấy người ta gọi chỗ nầy là Hòn đá phân rẽ. " Bây giờ thì cũng là Sau-lơ săn đuổi theo để giết Đa-vít, sự chết áp hãm gần kề với Đa-vít; cả lực lượng của Sau-lơ đã vây phủ được Đa-vít và những người theo ông, chuẩn bị bắt được thì Đức Chúa Trời lại dùng chính lực lượng xâm lấn của Phi-li-tin làm cản trở âm mưu độc ác của Sau-lơ và giải cứu cho Đa-vít ngay trước ngưỡng của sự chết.

Trũng bóng chết là nơi Đa-vít phải đi qua, Đa-vít phải được tôi luyện bằng cả những giai đoạn thập tử nhất sinh như vậy để trở thành người hữu dụng cho Đức Chúa Trời. Và với những từng trãi trước những tột cùng hiềm nguy như vậy, Đa-vít đã có thể tuyên bố: "Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi "

Cuộc đời chúng ta thì sao? Có bao giờ cuộc đời của mỗi người trong chúng ta đã phải đối diện với một " trũng bóng chết " nào chưa? Và trong những lúc đó chúng ta nhận thấy được Chúa như thế nào đối với mình? Trong đời sống mình thì chúng ta phải được trãi qua những " trũng bóng chết " để chúng ta sẽ từng trãi trong sự gìn giữ – bảo vệ của Chúa bằng cả kinh nghiệm chứ không chỉ là một mớ lý thuyết, hay chỉ là biết qua Thi Thiên 23 của Đa-vít thôi. Có những lúc trong hoạn nạn mà chúng ta thấy rằng chắc mình chỉ có chết, chúng ta kêu van với Chúa là chắc mình sẽ chết thôi với những tai ương như vậy. Nhưng rồi sau đó thì chúng ta thấy rằng mình vẫn vượt qua được mọi sự nguy hiểm, mọi " trũng bóng chết " trong sự tể trị và vùa giúp kỳ diệu của Chúa. Chúng ta vẫn có thể nói như Đa-vít là " tôi sẽ chẳng sợ gì hết " vì biết chắc rằng " Chúa luôn ở cùng chúng ta "

" Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi "

Đây là 2 công cụ của người chăn chiên thường dùng, chúng ta cũng có thể thấy nó qua các hình ảnh về người chăn chiên cầm theo trong tay. Nhưng cũng có những ý kiến khác nhau về 2 cây này :

- Có người cho rằng cây trượng là một cây dài và cây gậy là cây ngắn

- Có người lại có ý kiến ngược lại : cây trượng là cây ngắn và cây gậy mới là cây dài.

Trong sự học biết của mình thì tôi chọn cây trượng là cây dài và có một đầu hình móc cong cong, còn cây gậy là cây ngắn hơn.

Cây trượng là một cây người chăn thường cầm trong tay, có thể dùng để tựa mình trong lúc canh bầy; cũng thường được dùng để móc kéo nhằm cứu nguy cho những con chiên bị rơi xuống hố – vực núi. Có người chia xẻ là có những trường hợp người chăn không kéo ngay con chiên đó lên, bởi vì đó là những con hay " thích đi lang thang " xa bầy và người chăn sẽ chờ đợi thêm một thời gian nữa để khi con chiên sợ hãi, mệt nhọc lắm thì mới kéo nó lên để khiến cho nó sẽ biết sợ và ít khi đi xa bầy hơn. Ứng dụng thuộc linh cho chúng ta trong đời sống nhiều khi thấy cũng vậy; có những chuyện chúng ta làm sai – đi sai ý Chúa, Ngài phải đưa dẫn chúng ta trở lại đường công chính, rồi thì sau đó chúng ta lại cũng sai đi sai lại những chuyện như vậy hoài. Sẽ có lúc Chúa để cho chúng ta chìm ngập trong sự thất bại, đau đớn vì sai lạc đó; để rồi khi Chúa cứu chúng ta ra khỏi thì tự mình sẽ tự nhủ là " chừa " quyết sẽ không bao giờ phạm lại những sai lầm đó nữa.

Cây gậy là một cây ngắn hơn, có người chăn dùng cây gậy mà một đầu là phần gốc của cây để phần đó phình to hơn, và họ gắn vào đó những đinh nhọn nhằm dùng vào việc đánh trả lại những thú dữ định đến bắt cắp chiên.

Có người đã liên tưởng đến hình ảnh: cây trượng có móc cong một đầu là Kinh Thánh Cựu ước, bởi vì Cựu ước dài hơn và khó hiểu hơn; cây gậy là Tân ước vì thẳng – ngắn hơn và cũng dạy cho chúng ta chống trả quyền lực của sự tối tăm trực tiếp hơn, mạnh mẽ hơn. Con  chiên có được sự giúp đỡ của cây trượng, cũng như sự bảo vệ của cây gậy là niềm an ủi, khích lệ lớn; thì đời sống chúng ta cũng vậy trên linh trình thuộc linh. Chính lời Chúa từ Kinh Thánh Cựu ước cho đến Tân ước luôn mang đến cho chúng ta những niềm hi vọng, những an ủi không xiết kể và những niềm vui lớn đang khi chúng ta sống trong đời tạm này. Nhiều phần trong Kinh Thánh, nhất là ở thi Thiên 119 đã cho chúng ta thấy tầm quan trọng và vô số sự hữu ích của lời Chúa đối với người theo Ngài.

" Chúa dọn bàn cho tôi trước mặt kẻ thù nghịch tôi "

Đa-vít cho biết là có nhiều sự thù nghịch đối với ông, những hiểm họa đeo đuổi cuộc đời ông; thì bấy giờ Chúa lại là Đấng sẽ " dọn bàn " tức đãi ngộ ông cách cao trọng, làm cho ông được tôn cao hơn ngay trước mặt những kẻ thù nghịch mình. Trong I Sa-mu-ên 24: " Đoạn Đa-vít đi lên khỏi đó ngụ tại trong đồn Ên-ghê-đi. Khi Sau-lơ đuổi theo dân Phi-li-tin trở về rồi có người đến nói cùng Sau-lơ rằng: Kìa Đa-vít ở trong đồng vắng Ên-ghê-đi. Sau-lơ bèn đem ba ngàn người chọn trong cả dân Y-sơ-ra-ên kéo ra đi kiếm Đa-vít và những kẻ theo người cho đến các hòn đá của dê rừng. Sau-lơ đi đến gần chuồng chiên ở trên đường. Tại đó có một hang đá Sau-lơ bèn vào đó đặng đi tiện. Vả Đa-vít và bọn theo người ở trong cùng hang. Những kẻ theo Đa-vít nói cùng người rằng: Nầy là ngày mà Đức Giê-hô-va có phán cùng ông: Ta sẽ phó kẻ thù nghịch ngươi vào tay ngươi. Hãy xử người tùy ý ông. Nhưng Đa-vít đứng dậy cắt trộm vạt áo tơi của Sau-lơ. Đoạn lòng người tự trách về đều mình đã cắt vạt áo tơi của vua. Người nói cùng kẻ theo mình rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va chớ để ta phạm tội cùng chúa ta là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va mà tra tay trên mình người vì người là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va. Đa-vít nói những lời ấy quở trách các kẻ theo mình mà ngăn cản chúng xông vào mình Sau-lơ. Sau-lơ đứng dậy ra khỏi hang đá và cứ đi đường mình. Đoạn Đa-vít cũng trổi dậy đi ra khỏi hang đá gọi Sau-lơ mà nói rằng: Hỡi vua, chúa tôi! Sau-lơ ngó lại sau mình thì Đa-vít cúi mặt xuống đất mà lạy. Đa-vít nói cùng Sau-lơ rằng: Nhân sao vua nghe những lời của kẻ nói rằng: Đa-vít kiếm thế làm hại vua? Kìa hãy xem chính mắt vua có thế thấy được rằng ngày nay trong hang đá Đức Giê-hô-va đã phó vua vào tay tôi. Có người biểu giết vua nhưng tôi dong thứ cho vua mà rằng: ta không tra tay trên mình chúa ta vì người là đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va. Vậy cha ôi! Hãy xem cái vạt áo tơi cha mà tôi cầm trong tay; bởi vì tôi có vạt ái tơi của cha mà không giết cha thì nhơn đó khá biết và nhận rằng nơi tôi chẳng có sự ác hoặc sự phản nghịch, tôi chẳng có phạm tội gì với cha. Còn cha lại săn mạng sống tôi để cất nó đi. Đức Giê-hô-va sẽ đoán xét cha và tôi. Đức Giê-hô-va sẽ báo thù cha cho tôi nhưng tôi không tra tay vào mình cha. Như câu cổ ngữ nói: Sự ác do kẻ ác ra nhưng tay tôi sẽ không đụng đến mình cha. Vua Y-sơ-ra-ên kéo ra đánh ai? Cha đuổi theo ai? Một con chó chết! Một con bọ chét! Thế thì Đức Giê-hô-va sẽ làm quan xét sẽ đoán xét cha và tôi; Ngài sẽ xem xét binh vực cớ lý tôi và xử cách công-bình mà giải cứu tôi khỏi tay cha. Khi Đa-vít nói xong các lời nầy thì Sau-lơ đáp rằng: Hỡi Đa-vít con ta có phải tiếng con chăng? Sau-lơ cất tiếng khóc nói cùng Đa-vít rằng: Con thật công-bình hơn cha vì con có lấy điều thiện mà báo điều ác cha đã làm cho con. Ngày nay con đã tỏ ra con lấy điều thiện đối cùng cha vì Đức Giê-hô-va đã phó cha vào tay con song con không có giết cha. Khi người nào gặp kẻ thù nghịch mình há để cho nó đi bình yên vô sự sao? Nguyện Đức Giê-hô-va lấy điều thiện báo cho con về sự con đã làm cho cha ngày nay! Quả hẳn ta biết rằng con sẽ làm vua và nước Y-sơ-ra-ên sẽ bền lâu ở trong tay con. Vậy bây giờ hãy nhơn danh Đức Giê-hô-va thề cùng ta rằng con sẽ chẳng diệt dòng dõi ta và chẳng hủy danh ta khỏi nhà tổ phụ ta. "

Câu chuyện trên cho chúng ta thấy là đang khi rượt đuổi để giết Đa-vít thì một lúc tình cờ Sau-lơ vào hang đá đi tiện, Sau-lơ thì tình cờ nhưng chắc chắn là Đức Chúa Trời hữu ý khi xui cho Sau-lơ đi vào ngay hang đá có Đa-vít và những người theo mình ẩn nấp trong đó. Các kẻ theo Đa-vít bảo ông đây là cơ hội để giết Sau-lơ, nhưng Đa-vít không chịu tra tay vào người xức dầu của Chúa; cho dù lúc bấy giờ thì Sau-lơ đã là người " khô dầu " rồi, ông phó mọi việc cho sự xử đoán công bình của Chúa. Và sau khi ra khỏi hang, Đa-vít đã ra bày tỏ cho Sau-lơ biết mọi việc đã xãy ra và mình đã không hại Sau-lơ như thế nào; lúc này thì Sau-lơ vẫn đang với binh hùng tướng mạnh nhưng lại là người phải khóc lóc và hạ mình xuống trước Đa-vít và bày tỏ sự hối hận về các việc làm sai trái của mình. Ông theo giết Đa-vít vì sợ ông nầy cướp ngôi của mình, thì bây giờ ông lại là người công nhận rằng Đa-vít sẽ trở thành vua của Y-sơ-ra-ên, và ông phải năn nỉ Đa-vít đừng làm hại dòng dõi của ông.

Việc này chỉ có thể xãy ra khi Chúa đã thật sự đãi ngộ, dọn bàn cho Đa-vít trước kẻ thù tìm giết ông là Saulơ.

Chúa vẫn tiếp tục dọn bàn cho Đa-vít : " Dân Xíp lại đến tìm Sau-lơ tại Ghi-bê-a mà nói rằng:Đa-vít há chẳng ẩn tại trên gò Ha-ki-la đối ngang đồng vắng sao? Sau-lơ bèn chổi dậy kéo ba ngàn tinh binh của Y-sơ-ra-ên đi xuống đồng vắng Xíp đặng tìm Đa-vít. Sau-lơ đóng trại trên gò Ha-ki-la đối ngang đồng vắng tại nơi đầu đường. Đa-vít ở trong đồng vắng. Khi thấy Sau-lơ đến đuổi mình, bèn sai kẻ do thám đi và biết chắc rằng Sau-lơ đã đến. Bấy giờ Đa-vít trổi dậy đi đến tận nơi Sau-lơ hạ trại; người cũng thấy nơi ngủ của Sau-lơ và của Áp-ne con trai Nê-rơ là quan tổng binh của người. Sau-lơ nằm ngủ tại đồn có đạo binh đóng trại xung quanh mình. Đa-vít cất tiếng nói cùng A-hi-mê-léc người Hê-títA-bi-sai con trai của Xê-ru-gia em của Giô-áp rằng: Ai muốn đi cùng ta xuống dinh Sau-lơ? A-bi-sai đáp: Tôi sẽ đi với ông. Vậy Đa-vít và A-bi-sai lúc ban đêm vào giữa quân lính thấy Sau-lơ đương ngủ nằm trong đồn, cây giáo cặp dưới đất tại nơi đầu giường. Áp-ne và quân lính nằm ở xung quanh người. A-bi-sai nói cùng Đa-vít rằng: Ngày nay Đức Chúa Trời đã phó kẻ thù nghịch ông vào tay ông. Xin cho phép tôi lấy giáo đâm người chỉ một cái mà cặm người xuống đất chẳng cần phải đâm lại. Nhưng Đa-vít bảo A-bi-sai rằng: Đừng giết người; ai có thế tra tay trên kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va mà không bị phạt? Người tiếp rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề Đức Giê-hô-va chắc sẽ đánh người hoặc khi người đến kỳ định mà chết hoặc khi người ra trận mà diệt vong. Nguyện Đức Giê-hô-va giữ chớ cho tôi tra tay vào kẻ chịu xức dầu của Ngài! Ta xin ngươi chỉ hãy lấy cây giáo nơi đầu giường người cùng cái bình nước rồi chúng ta hãy đi. Như vậy Đa-vít lấy cây giáo và bình nước nơi đầu giường của Sau-lơ rồi hai người đi. Không ai thấy hay là biết và cũng chẳng ai tỉnh thức; hết thảy ngủ vì Đức Giê-hô-va đã khiến sự ngủ mê giáng trên chúng nó. Đoạn Đa-vít sang qua bên kia dừng lại tại trên chót núi xa trại quân có một khoảng xa cách nhau. Người gọi quân lính với Áp-ne con trai Nê-rơ mà rằng: Áp-ne người chẳng đáp lời sao? Áp-ne đáp rằng: Ngươi là ai mà kêu la cùng vua? Đa-vít đáp cùng Áp-ne rằng: Nào ngươi há chẳng phải là một dõng sỉ sao? Trong Y-sơ-ra-ên ai bằng ngươi? Vậy sao ngươi không canh giữ vua là chúa của ngươi? Có kẻ trong dân sự đã đến muốn giết vua chúa ngươi. Điều ngươi đã làm đó chẳng tốt đâu. Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề ngươi đáng chết vì không canh giữ chúa ngươi là đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va. Bây giờ hãy xem thử cây giáo của vua và bình nước nơi đầu giường vua ở đâu? Sau-lơ nhận biết tiếng của Đa-vít bèn nói rằng: Hỡi Đa-vít con ta có phải tiếng con chăng? Đa-vít thưa rằng: Hỡi vua chúa tôi ấy là tiếng tôi. Người tiếp: Cớ sao chúa đuổi theo tôi tớ chúa như vậy? Tôi có làm điều gì và tay tôi đã phạm tội ác chi? Bây giờ xin vua hãy lắng nghe lời của tôi tớ vua. Nếu Đức Giê-hô-va xui giục vua hại tôi nguyện Ngài nhậm mùi thơm của lễ nhưng nếu là loài người nguyện chúng bị rủa sả trước mặt Đức Giê-hô-va vì ngày nay chúng đuổi tôi đi khỏi chỗ dành cho tôi trong sản nghiệp của Đức Giê-hô-va và chúng nói rằng: Hãy đi thờ tà thần. Ôi! Nguyện huyết tôi chớ chảy ra trên đất cách xa mặt Đức Giê-hô-va vì vua Y-sơ-ra-ên đã kéo ra đặng tìm một con bọ chét, như người ta đuổi theo chim đa đa trong núi vậy. Bấy giờ Sau-lơ nói: Ta có phạm tội; hỡi Đa-vít con ta hãy trở lại! Ta sẽ chẳng làm hại cho con nữa vì ngày nay con đã kính nể mạng sống ta. Thật ta đã làm điên cuồng, phạm một lỗi rất trọng. Đa-vít nói: Nầy là cây giáo của vua hãy cho một gã trai trẻ của vua đi qua đây mà lấy đi. Đức Giê-hô-va sẽ báo trả cho mọi người tùy theo sự công-b&
igrave;nh và trung-tín của người vì ngày nay Ngài đã phó vua vào tay tôi mà tôi không khứng tra tay vào đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va. Ngày nay tôi lấy mạng sống vua làm quí trọng thế nào thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ lấy mạng sống tôi làm quí trọng thể ấy và giải cứu tôi khỏi các hoạn nạn. Sau-lơ nói cùng Đa-vít rằng: Hỡi Đa-vít con ta nguyện con được phước! Quả thật con sẽ làm công việc lớn lao và được thắng hơn. Đoạn Đa-vít cứ đi lối mình còn Sau-lơ trở về nơi người.
" Một lần nữa Đa-vít cứ giữ sự công bình và trao sự xử đoán cho Chúa thì Ngài lại dọn bàn cho Đa-vít trước mặt Sau-lơ là kẻ thù nghịch luôn tìm cách giết ông. Kinh Thánh xác nhận là " hết thảy ngủ vì Đức Giê-hô-va đã khiến sự ngủ mê giáng trên chúng nó. " Chúa vùa giúp cho Đa-vít và nh đó mà Sau-lơ lại phải hạ mình, tự nhận mình là thật là điên dại và xưng nhận là Đa-vít là tốt hơn, sẽ là người thắng hơn ông trong mọi sự và phải chúc phước cho Đa-vít. Đa-vít được Chúa dọn bàn, đãi ngộ bởi vì ông là người biết kính sợ Chúa; dù có những cơ hội thuận tiện nhất nhưng Đa-vít đã không tra tay vào Saulơ là người đã từng được Chúa xức dầu làm vua của dân Y-sơ-ra-ên. Vậy chúng ta học được gì qua điều nầy? Chúa vẫn luôn dọn bàn cho những kẻ thuộc về Ngài, Chúa vẫn làm cho họ được cao trọng hơn trước những kẻ thù nghịch có nhiều lợi thế, có nhiều quyền lực hơn nhưng không thể hiện được đời sống là người công bình như con dân Ngài. Là người hầu việc Chúa thì lại càng dễ kinh nghiệm đều này hơn nữa, vì nhiều khi phải đối diện với những thế lực, những hiểm nguy thì chính Chúa là Đấng đã luôn làm cho họ được tôn trọng, được đãi ngộ tốt hơn những kẻ toan mưu hại kia.

Vấn đề là để được " dọn bàn " luôn thì chúng ta cũng cần phải học nơi Đa-vít, phải biết giữ mình trong đường lối công bình của Chúa; chúng ta phải có tinh thần nhẫn nại – nhịn nhục chờ đợi và giao phó mọi việc cho sự can thiệp của Chúa.

" Chúa xức dầu cho đầu tôi, chén tôi đầy tràn "

Khi nhìn lại cuộc đời: kể từ khi Sa-mu-ên đến xức dầu cho, rồi đến khi tuổi cao tác lớn, đang ngồi trên ngôi vua. Và nhất là khi ông muốn xây dựng đền thờ cho Chúa thì Chúa đã bảo là chính dòng dõi của Đa-vít sẽ lên ngôi và làm việc đó, Chúa hứa với Đa-vít qua tiên tri Na-than rằng Chúa sẽ bảo lưu dòng dõi của ông mãi mãi không dứt cai trị trên Y-sơ-ra-ên. Thì Đa-vít đã phải thốt lên " chén tôi đầy tràn ", vì dầu xức trên ông đã cứ tiếp tục tràn trên dòng dõi con cháu của ông.  Chúa đã hứa với Đa-vít thì Ngài cũng đã làm đúng như vậy, vì dòng dõi của ông cứ cai trị trên Y-sơ-ra-ên; khi đất nước bị chia đôi thì một phần cũng thuộc về sự cai trị của gia tộc ông. Rồi khi Y-sơ-ra-ên bị lưu lạc, bị mất nước thì sự lưu tồn của dòng dõi Đa-vít vẫn còn và sẽ còn mãi trên Chúa Jêsus là Đấng về phần xác thịt cũng thuộc dòng dõi của Đa-vít vậy. Điều mà Chúa hứa với Đa-vít và dòng dõi ông, tôi tin chắc cũng là điều mà Chúa hứa và sẽ làm trên tất cả chúng ta khi chúng ta thật sự là con chiên trong bầy mà người chăn là Chúa Jêsus yêu dấu của mình.

" Quả thật, trọn đời tôi, phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi "

Đa-vít ngồi ngẫm nghĩ về đời sống mình: từ khi còn trẻ thơ – đến lúc thanh niên – tráng niên – rồi khi đầu râu tóc bạc ông thấy rõ là phước hạnh và sự thương xót của Chúa luôn theo đuổi ông, nâng đỡ ông, giúp đỡ ông.  Có lúc Đa-vít đang trong nguy khốn, đau buồn thì ông định dùng những hành động của mình hầu tìm được sự thương xót và phước hạnh của Chúa; nhưng rồi ông thất bại. Nhưng vì là người luôn khao khát và tìm kiếm phước hạnh và sự thương xót của Chúa, nên Chúa cũng cho ông gặp được phước hạnh và sự thương xót của Ngài.

+ Ở II Sa-mu-ên 12: 16 – 23 : " Đa-vít vì con cầu khẩn Đức Chúa Trời và kiêng ăn; đoạn người trở vào nhà trọn đêm nằm dưới đất. Các trưởng lão trong nhà chổi dậy đứng chung quanh người đặng đỡ người lên khỏi đất nhưng người không khứng và chẳng ăn với họ. Ngày thứ bảy đứa trẻ chết. Các tôi tớ của Đa-vít ngại cho người biết đứa trẻ đã chết vì họ nói rằng: Lúc đứa trẻ còn sống chúng tôi có khuyên giải vua, vua không khứng nghe chúng tôi vậy làm sao chúng tôi lại dám nói cùng vua rằng đứa trẻ đã chết? Có lẽ vua rủi ro! Nhưng Đa-vít thấy những tôi tớ nó nhỏ nhỏ hiểu rằng đứa trẻ đã chết nên hỏi rằng: Có phải đứa trẻ đã chết chăng? Họ thưa: Phải đã chết rồi. Bấy giờ Đa-vít chờ dậy khỏi đất tắm mình, xức dầu thơm và thay quần áo rồi người đi vào đến của Đức Giê-hô-va và thờ lạy. Đoạn người trở về cung truyền dọn vật thực cho mình và người ăn. Các tôi tớ hỏi người rằng: Vua làm chi vậy? Khi đứa trẻ nầy còn sống vua khiêng ăn và khóc vì nó và bấy giờ nó đã chết vua chờ dậy và ăn! Vua đáp: Khi đứa trẻ còn sống ta kiêng ăn và khóc lóc vì ta nghĩ rằng: Nào ai biết có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ thương xót ta và cho đứa trẻ được sống chăng. Nhưng bây ginó đã chết ta kiêng ăn làm chi? Ta có thế làm cho nó trở lại ư? Ta sẽ đi đến nó nhưng nó không trở lại cùng ta. " Đa-vít vì phạm tội với Bát-sê-ba và từ đó sinh ra đứa con, và đứa trẻ này bị Chúa phạt bịnh nặng gần chết; Đa-vít vì thương con nên đã tự hành xác mình. Ông nghĩ rằng khi mình làm như vậy thì chắc Chúa sẽ thương xót ông và cho đứa trẻ sống. Nhưng ông đã lầm, đứa trẻ vẫn phải chết; Chúa đã không bày tỏ sự thương xót của Ngài theo cách tìm kiếm của Đa-vít.  Nhưng rồi Chúa là Đấng đã chọn lựa Sa-lô-môn cũng là con của Đa-vít và Bát-sê-ba, lập người nầy lên làm người kế thừa ngôi vua của Đa-vít và còn ban cho thời cai trị của Sa-lô-môn là thời kỳ cực thịnh vì giàu có vô cùng, và Sa-lô-môn cũng là người được Chúa yêu và ban cho sự khôn ngoan không ai có thể bì được.

+ Ở II Sa-mu-ên 16: 5 – 12 : "Vua Đa-vít vừa đến Ba-hu-rim thấy ở đó đi ra một người về dòng dõi nhà Sau-lơ tên là Si-mê-i con trai của Ghê-ra. Người vừa đi tới vừa rủa sả, ném đá vào Đa-vít và các tôi tớ của vua; cả dân sự và các dõng sĩ đều vây phủ vua bên hữu và bên tả. Si-mê-i rủa sả Đa-vít như lời nầy: Ớ người huyết, người gian tà kia! Hãy đi nà, hãy đi nà! Người đã tự làm vua thay vì Sau-lơ nên bây giờ Đức Giê-hô-va khiến những huyết của nhà người đổ lại trên ngươi; Ngài sẽ phó nước vào tay Áp-sa-lôm con trai ngươi và kìa chính ngươi bị hoạn nạn bởi vì ngươi là một người huyết. Bấy giờ A-bi-sai con trai của Xê-ru-gia tâu với vua rằng: Cớ sao con chó chết kia dám mắng vua chúa tôi? Hãy để tôi đi chém đầu nó. Nhưng vua đáp rằng: Hỡi các con trai Xê-ru-gia ta có can hệ gì với các ngươi? Hãy để Si-mê-i rủa sả. Ấy là Đức Giê-hô-va đã phán cùng người rằng: Hãy rủa sả Đa-vít. Vậy ai dám nói cùng người rằng: Cớ sao ngươi làm như vậy? Đoạn Đa-vít nói với A-bi-sai và các tôi tớ mình rằng: Kìa con ruột ta là kẻ do lòng ta sanh ra còn muốn hại mạng sống ta thay phương chi người Bên-gia-min nầy! Hãy để cho nó làm để nó rủa sả vì Đức Giê-hô-va đã phán dặn nó làm vậy. Có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ đoái xem sự hoạn nạn ta lấy phước trả lại thế cho sự rủa sả mà ta bị ngày nay. " Đa-vít bị Si-mê-i rủa sả, các quan tùy tùng đòi giết chết Si-mê-i thì Đa-vít ngăn cản; ông cho rằng có thể nhờ đó mà Đức Chúa Trời sẽ đoái đến ông và ban phước cho ông. Đa-vít đã sai lầm khi toan tính như vậy, Chúa không chỉ vì cớ việc làm công bình của loài người để họ dựa vào đó mà kể công và buộc Ngài phải ban phước cho họ.  Chúa là Đấng sẵn ban phước cho Đa-vít vì ông là người luôn biết khao khát và tìm kiếm ân phước của Ngài, chứ không phải là vì ông là người công bình tốt đẹp nhất mà Chúa phải ban phước.  Khi đã trãi qua những kinh nghiệm trong cuộc sống mình thì Đa-vít đã có thể nói rõ rằng " Phước hạnh và sự thương xót theo tôi ", ông biết mọi việc ấy sẽ luôn theo ông chứ không phải do ông tự tìm kiếm bằng nhiều phương cách – hình thức nào khác.

Chúng ta cũng vậy, mong rằng chúng ta biết tìm kiếm sự thương xót và phước hạnh của Ngài sẵn ban cho mình bằng cả một tấm lòng trân trọng và yêu kính Chúa, và để xứng đáng hưởng sự thương xót và phước hạnh của Chúa thì chúng ta cần phải thể hiện một đời sống công bình trong những ngày mà chúng ta sống tạm trên đất này vậy.

"Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài "

Để kết thúc bài làm chứng của mình thì Đa-vít khẳng định là mình sẽ được mãi ở trong nhà Chúa. Chúng ta cần để ý đến từ " sẽ " được Đa-vít dùng ở đây, đây là không chỉ là một từ dùng cho thì tương lai; mà đây chính là một từ dùng theo thì liên tiến, nó dùng để chỉ về một việc đã xãy ra, hiện tại còn tiếp diễn và vẫn còn trong tương lai. Như vậy Đa-vít muốn nói rằng : ông đã ở trong nhà Chúa trong những thời gian qua, hiện đang vẫn ở trong nhà Chúa và cả tương lai của ông cũng sẽ như vậy. Dù không phải là người được chọn để xây đền thờ Chúa, nhưng Đa-vít đã hiểu được là khi có Chúa ở cùng mình thì cho dù đang ở đâu, ra như thế nào thì ông cũng vẫn đang được ở trong nhà của Ngài và hưởng mọi sự từ nơi Ngài vậy.

Chúng ta ngày nay cũng thế thôi, vấn đề không là chúng ta đang ở trong một tổ chức Hội Thánh nào; không phải là chúng ta đang thờ phượng Chúa bằng phương cách gì, mà vấn đề quan trọng là ở chỗ chúng ta có chịu an nghỉ trong Ngài, chịu làm con chiên trong bầy mà Chúa Jêsus là người chăn hay không? Và nếu chúng ta thật luôn bước đi trong Ngài thì dù đang trãi qua hoàn cảnh – giai đoạn nào trong đời sống, chúng ta vẫn luôn là người đang được ở trong nhà của Ngài. Nhà Ngài trong đời tạm nầy : đó có là Hội Thánh của Chúa, là mối quan hệ thông công tốt đẹp – ngọt ngào của chúng ta với Chúa, và tương lai chúng ta cũng ở nhà đời đời tại chốn Thiên đàng mà Chúa đã lo sắm sẵn cho chúng ta. Đây phải là điều mà chúng ta luôn tin chắc và tâm niệm cho dù đời thuộc thể này có ra sao cũng mặc.

Chúng ta sẽ được mọi điều như Đa-vít đã làm chứng qua Thi Thiên 23 khi mà chúng ta bằng lòng làm con chiên trong bầy của Chúa, và rồi qua chúng ta sẽ có thêm nhiều bài Thi Thiên như Thi Thiên 23 vậy bằng chính đời sống mình để gây dựng và cũng cố đức tin cho nhiều người khác nữa.

 

người chăn Võ Thiên Phước

Comments are closed.